Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai đề tài khóa luận “Cảm hứng đạo lý trong
một số tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh trước năm 1932”, dưới sự hướng dẫn
của cô giáo Nguyễn Phương Hà, khóa luận tốt nghiệp đại học của tôi đã hoàn
thành. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Nguyễn Phương Hà –
người đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành tốt khóa luận này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, các
thầy cô giáo khoa Ngữ Văn, các thầy cô trong tổ bộ môn Văn học Việt Nam
cùng các ban sinh viên đã ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong
thời gian viết khóa luận.
Hà Nội, ngày 2 tháng 5 năm 2011.
Sinh viên
Lê Thị Chinh
SV: Lê Thị Chinh
5
Lớp: K33C – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
CHƯƠNG 1: HỒ BIỂU CHÁNH TRONG DÒNG MẠCH VĂN HỌC
ĐẠO LÝ CỦA DÂN TỘC......................................................................... 13
1.1 Đạo lý trong đời sống văn học ............................................................. 13
1.1.1 Văn học dân gian................................................................................ 13
1.1.2 Văn học viết ....................................................................................... 16
1.2 Vai trò của Hồ Biểu Chánh trong dòng văn học đạo lý ....................... 19
CHƯƠNG 2: CẢM HỨNG ĐẠO LÝ TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT
CỦA HỒ BIỂU CHÁNH TRƯỚC NĂM 1932.........................................22
2.1 Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đề cao đạo đức nhân nhĩa....................... 22
2.1.1 Trong quan hệ gia đình ....................................................................... 22
2.1.2 Trong quan hệ xã hội .......................................................................... 27
2.2 Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đả kích cái xấu, cái ác, cái phi nhân tính 31
2.2.1 Những thành phần đả kích .................................................................. 31
2.2.2 Nội dung đả kích ............................................................................... 33
2.2.3 Chủ trương biến đổi........................................................................... 38
2.3 Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh khẳng định chân lý truyền thống........... 41
SV: Lê Thị Chinh
7
Lớp: K33C – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CƠ BẢN THỂ
HIỆN CẢM HỨNG ĐẠO LÝ TRONG TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU
CHÁNH ..................................................................................................... 45
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật ............................................................ 45
đắp cho thể loại tiểu thuyết hiện đại, đưa nó đến gần với độc giả. Ông đã nhận
được sự đồng tình của độc giả, người đương thời và nhiều thế hệ về sau đã
đón nhận tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh với tất cả sự nồng nhiệt, trân trọng .
Hồ Biểu Chánh bước vào văn đàn trong lúc truyện ngắn, truyện dài
bằng tiếng Việt còn hết sức vắng vẻ. Bằng năng khiếu sáng tác nhanh nhạy
với sự mẫn cảm và việc phơi bày bộ mặt phức tạp của cái xã hội mà mình
đang sống, ông sớm dành vị trí đáng kể trong số những cây bút ít ỏi ở Miền
Nam thuở bấy giờ.
Trước năm 1975 tên tuổi Hồ Biểu Chánh mới chỉ có mặt ở các bộ giáo
trình văn học sử với cái nhìn khái quát, sơ lược. Tuy nhiên, sau năm 1975 tên
tuổi và tài năng của Hồ Biểu Chánh đã được các nhà nghiên cứu đánh giá,
nhìn nhận lại. Đặc biệt là trong hội thảo khoa học về nhà văn Hồ Biểu Chánh
được tổ chức lần đầu tiên tại Tiền Giang vào ngày 17 và 18 - 11 - 1988. Với
hơn 30 bản tham luận của các giáo sư, nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình văn
học, hội thảo đã đề cập những khía cạnh về cuộc đời và sự nghiệp văn chương
của ông. Qua đó cho thấy cái nhìn khái quát, công bằng, khoa học về Hồ Biểu
Chánh. Ông được xem là “Banzăc của Nam Bộ ”. (GS. Võ Văn Nhơn).
Sáng tác của Hồ Biểu Chánh thể hiện cảm hứng đạo lý rõ nét . Có thể
nói đây là hạt nhân cơ bản để khẳng định chủ nghĩa nhân đạo sau này. Ở
SV: Lê Thị Chinh
9
Lớp: K33C – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
phương diện này, Hồ Biểu Chánh đã kế tục xuất sắc văn chương đạo lý của
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Đình Chú (1962), trong cuốn “Lịch sử văn học Việt Nam”,
tập IV, Nxb Giáo dục, Hà Nội, nhận xét “Đạo đức trong tác phẩm của Hồ
Biểu Chánh thường được tác giả thâu tóm trong một chữ nghĩa”.
Vũ Tiến Quỳnh trong “Phê bình bình luận văn học”, Nxb Văn nghệ
thành phố Hồ Chính Minh, 1998, đã khái quát một số luận điểm chủ yếu về
cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Hồ Biểu Chánh, từ đó có cái nhìn khách
quan về nhà văn.
Trong cuốn “Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại”, Phan Cự Đệ (1978), đã
cho người đọc thấy được đặc điểm khái quát về nội dung và nghệ thuật tiểu
thuyết Hồ Biểu Chánh. Đồng thời cũng chỉ ra mặt tích cực trong cảm hứng
đạo lý và phản ánh hiện thực trong tiểu thuyết của ông.
Tác phẩm “Hồ Biểu Chánh – người mở đường cho tiểu thuyết Việt
Nam hiện đại”, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chính Minh, đã nêu những
đóng góp to lớn của Hồ Biểu Chánh đối với nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
ở các khía cạnh: nội dung hiện thực, cách tân nghệ thuật, ngôn ngữ, kết cấu...
Trong cuốn “Nhà văn hiện đại” của Vũ Ngọc Phan, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 1989, giới thiệu bài viết “Hồ Biểu Chánh” của tác giả Hồ Văn
Trung. Bài viết đã so sánh giữa tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh và tiểu thuyết
của Hoàng Ngọc Phách cả hai nhà văn này đều lấy “luân lý làm gốc, lấy gia
đình làm khuôn mẫu, lấy sự trung hậu làm điều cốt yếu cho mọi việc ở đời”.
Từ việc so sánh này chứng minh: “tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh là tiểu
thuyết đầy động tác, việc nọ việc kia dồn dập, gây cho người đọc cảm tưởng lí
thú”.
Trần Hữu Tá (1998) trong bài “Một vài cảm nghĩ nhân đọc lại tiểu
thuyết Hồ Biểu Chánh” in trong Ngọn cỏ gió đùa, Nxb Tổng hợp Tiền
Giang: “khẳng định Hồ Biểu Chánh đã góp phần tích cực vào việc chuyển
quát về Hồ Biểu Chánh.
Tác giả Võ Văn Nhơn trong bài “Con đường đến với tiểu thuyết hiện
đại”, (tạp chí Văn Học số 3 - 2000), nêu lên ảnh hưởng đến việc chuyển
hướng thể loại của Hồ Biểu Chánh từ truyện thơ sang tiểu thuyết hiện đại.
Truyện U tình lục đánh dấu giai đoạn quá tuyệt của truyện nôm cổ điển sang
tiểu thuyết hiện đại. Qua đây cũng cho thấy một số nét mới của tiểu thuyết
hiện đại so với truyện thơ truyền thống . Điều đó cũng chứng minh cho những
đóng góp của ông đối với sự phát triển của Văn học Việt Nam.
SV: Lê Thị Chinh
12
Lớp: K33C – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
GS Nguyễn Huệ Chi trong bài “Thử tìm vài đặc điểm của văn xuôi tự
sự quốc ngữ Nam Bộ trong bước khởi đầu”, (tạp chí văn học số 5 – 2002),
cho rằng: Hồ Biểu Chánh chịu ảnh hưởng của truyện “Thầy Lazarô Phiền”
(Nguyễn Trọng Quản), nhưng thành công trên nhiều phương diện: khắc họa
diện mạo cuộc sống hiện thực Nam Bộ trước Cách mạng tháng Tám, không
gian Nam Bộ sinh động, rộng lớn, với đủ loại nhân vật đa dạng, phong phú.
Trong một bài viết khác của PGS.TS Trần Hữu Tá: “Nghĩ về buổi bình
minh của tiểu thuyết Nam Bộ”, (Tạp chí văn học số 10 - 2000), đã khái quát
về sự nghiệp sáng tác đồ sộ của Hồ Biểu Chánh, về nghệ thuật diễn đạt, giọng
điệu, ngôn ngữ. Hồ Biểu Chánh đã ghi lại lời ăn tiếng nói của từng hạng
người, đặt vào miệng các nhân vật - nhất là nhân vật nông dân, những ngôn từ
thuần phát thô sơ, những phương ngữ mang đậm sắc thái Nam Bộ. Giá trị
đẹp đạo lý”. Ngoài ra còn đề cập đến sự thay đổi hình thức nghệ thuật,... Bài
viết cũng khẳng định đóng góp của Hồ Biểu Chánh trong tiến trình hiện đại
hóa tiểu thuyết Việt Nam về cả nội dung lẫn hình thức.
Nguyễn Văn Nở - Huỳnh Thị Lan Phương trong bài “Cảm hứng thế
sự - điểm gặp gỡ và khác biệt giữa tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh với tiểu
thuyết của một số tác giả Miền Bắc cùng thời” (Nghiên cứu văn học số 4 2010 - Viện văn học), một lần nữa nêu ra những điểm tương đồng và khác
biệt của Hồ Biểu Chánh với các tác giả cùng thời ở miền Bắc. Qua đó khẳng
định những yếu tố mới mẻ, tiến bộ trong tác phẩm Hồ Biểu Chánh. Đặc biệt
là về vấn đề đạo đức, lối sống, bức tranh hiện thực xã hội trong buổi giao thời.
Nói tóm lại những ý kiến của giới nghiên cứu và phê bình mà chúng tôi
đã nêu trên một mặt đề cập đến những khía cạnh cơ bản của sáng tác Hồ Biểu
Chánh (vẻ đẹp đạo lý, giá trị hiện thực, nông thôn Nam Bộ, hình ảnh người
nông dân Nam Bộ …). Mặt khác khẳng định vị trí của ông trong tiến trình
phát triển của nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Song đó chỉ là những ý kiến
định hướng bước đầu, trên cơ sở kế thừa và tiếp thu những thành tựu của các
công trình nghiên cứu, chúng tôi mong muốn tìm hiểu kĩ hơn cảm hứng đạo
lý trong một số tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh trước năm 1932.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài khóa luận của chúng tôi hướng tới các mục đích sau:
SV: Lê Thị Chinh
14
Lớp: K33C – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
Tìm hiểu, phân tích tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh trước năm 1932.
Lớp: K33C – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
Phương pháp hệ thống.
Phương pháp phân tích tổng hợp.
Phương pháp đối chiếu so sánh.
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung khóa luận gồm ba
chương:
Chương 1: Hồ Biểu Chánh trong dòng mạch văn học đạo lý của dân tộc.
Chương 2: Cảm hứng đạo lý trong một số tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
trước năm 1932.
Chương 3: Một số đặc điểm nghệ thuật cơ bản của tiểu thuyết Hồ Biểu
Chánh.
SV: Lê Thị Chinh
16
Lớp: K33C – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: HỒ BIỂU CHÁNH TRONG DÒNG MẠCH VĂN HỌC
ĐẠO LÝ CỦA DÂN TỘC.
Khóa luận tốt nghiệp
Bài ca dao chứa chan tình nghĩa, ca ngợi công lao to lớn, sâu nặng của cha mẹ
đối với con cái. Qua đó nhắc nhở đạo làm con phải lấy chữ hiếu làm đầu. Đạo
lý đó mãi tỏa sáng trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam.
Trong mối quan hệ anh em cũng vậy. Hai sinh thể hoàn toàn tách rời và
độc lập nhưng lại thống nhất ở một điểm tình nghĩa:
“Anh em như thể chân tay
Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần”.
(Ca dao).
Câu ca là lời khẳng định tình anh em gắn bó bền chặt, khăng khít như những
bộ phận cơ thể con người. Một bộ phận nào đó bị đau, ắt cả thân thể mình
đau.
Ca dao không chỉ viết về những mối quan hệ, tình cảm tốt đẹp của cha
mẹ với con cái, giữa anh với em mà còn là tình cảm thủy chung, son sắt vợ
chồng:
“Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm sông Hương mặc người”.
Những câu ca dao ca ngợi tình nghĩa trong bất kì mối quan hệ nào cũng
được tôn vinh và nó sống mãi cùng với thời gian.
Không chỉ trong ca dao, mà ở các thể loại khác như: ngụ ngôn,truyền
thuyết, cổ tích… cũng thể hiện được những mối quan hệ tốt đẹp đó. Văn học
dân gian lưu lại nhiều bài học về tình cảm đạo đức của người Việt. Trải qua
những thăng trầm của lịch sử, với những câu chuyện đó vẫn còn được kể mãi,
là minh chứng sinh động cho tình cảm tốt đẹp của con người, làm nên giá trị
văn hóa của dân tộc.
Câu chuyện “Sự tích trầu cau” thể hiện rõ tình cảm, truyền thống đạo
lý xưa. Trong một gia đình nọ, có hai anh em sinh đôi, mồ côi cha mẹ từ nhỏ.
Khi người anh có vợ, không còn quan tâm tới em như trước. Một lần đi làm
SV: Lê Thị Chinh
ấn tượng bởi chi tiết người anh phát hiện ra mình lấy nhầm em gái. Thoát
được tội giết em, người anh lại phạm vào tội lấy em. Người anh bắt buộc phải
ra đi lần thứ hai. Hai lần ra đi, hai lần chạy trốn chứng tỏ anh là người biết
trọng đạo lý, sống theo đạo lý. Người em, cũng là người vợ một lòng chung
thủy, chờ đợi làm nên một tình yêu bất diệt, một tượng đài sừng sững về hình
SV: Lê Thị Chinh
19
Lớp: K33C – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
ảnh người phụ nữ Việt Nam. Tượng đài ấy kết tinh tình cảm vợ chồng keo
sơn, gắn bó.
Cảm hứng đạo lý trong văn học truyền thống không chỉ dừng lại ở việc
đề cao, khẳng định đạo lý, lối sống tốt đẹp mà còn thể hiện ở chân lý: ở hiền
gặp lành, ác giả ác báo. “Tấm Cám” là truyện cổ tích như vậy. Truyện kể rằng
mụ dì ghẻ sai Tấm và Cám cùng ra đồng bắt tép, ai đầy giỏ thì được thưởng
yếm đỏ. Cám lừa và cướp công, lập mưu hãm hại Tấm, cướp mất chồng của
Tấm. Sau nhiều lần bị tiêu diệt, hóa thân thành vàng anh, xoan đào, khung
cửi, cây thị, Tấm sống lại và được phong làm hoàng hậu. Thuyết luân hồi của
đạo Phật trở thành chỗ dựa, là phương tiện nghệ thuật giúp cho tác giả dân
gian thực hiện ước mơ công bằng xã hội, lý tưởng thẩm mĩ của mình. Ở đây
thiện đã thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà.
Có thể nói từ xưa đến nay vấn đề đạo lý được đề cập rất nhiều trong các
tác phẩm văn học. Nguồn cảm hứng vô tận ấy đã ăn sâu vào tâm tưởng của
mỗi người dân Việt Nam. Nó mãi là nguồn sữa ngọt lành nuôi dưỡng những
tâm hồn và hun đúc nên truyền thống đạo lý tốt đẹp của con người.
Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông đứng trên lập trường đạo đức Nho giáo
bộc lộ những quan điểm, suy nghĩ, gắn với quan điểm đạo lý của nhân dân.
Trong việc giáo dục đạo lý làm người, Nguyễn Bỉnh Khiêm nói: “Bậc thánh
nhân theo khuôn phép của trời, muôn đời lập nên kỉ cương của loài người,
noi theo được cái tốt đẹp của ngũ điển, trình bày được đầy đủ của cửu trù.
Vua và tôi phải có nghĩa với nhau, cha và con cái tình thân là tột độ, chồng
và vợ kẻ xướng có người tùy, anh và em người cưng thì cũng có người dễ,
chơi với bạn thì giữ vững điều tín”. Bởi vậy, thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm
mang đậm nét đạo lý của dân tộc. Ông lên tiếng phê phán chiến tranh đã gây
ra cho mọi người sự mất mát, đau thương... Ông đi tìm những ước mơ bình dị
mà lớn lao: một xã hội sống với nhau bằng đạo đức, đạo đức sẽ trường tồn
như một chân lý và được kiểm nghiệm qua thời gian:
“Bốn bể vui theo người đạo đức
Khắp nơi lại thấy cảnh thanh bình
Xưa nay nhân giả là vô địch
Lọ phải khư khư thích chiến tranh”.
(Hữu cảm).
SV: Lê Thị Chinh
21
Lớp: K33C – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Du - danh nhân văn hóa thế giới, cũng đề cập khá nhiều đến
vấn đề đạo đức. Điều này được thể hiện rõ trong kiệt tác Truyện Kiều. Từ
việc Kiều bán mình chuộc cha và em cho thấy Kiều là con người có hiếu.
Khóa luận tốt nghiệp
Lấy mình báo chúa, lấy lòng sự phu”.
(Lục Vân Tiên).
Trong văn học truyền thống, bao trùm các sáng tác là cảm hứng đạo lý.
Đạo lý như sợi chỉ đỏ xuyên suốt cả chặng đường dài. Đây là nguồn cảm
hứng vô tận ngày càng được khẳng định và đề cao. Đó là lối sống tốt đẹp
trong mối quan hệ thân thuộc, mối quan hệ làng xóm, là chân lý: ở hiền gặp
lành, ác giả ác báo ...Vấn đề đạo đức còn quy tụ ở nghĩa quân - thần, phu phụ, phu - tử,... Đạo đức chính là sợi dây gắn kết nối tâm với tâm, mọi người
gần nhau hơn, đồng thời thức tỉnh và răn dạy, khẳng định cái tốt sẽ trường tồn
bất diệt: “cái đẹp có sức cảm hóa con người”. Cái gốc của đạo đức chính là
phải có tâm hồn cao đẹp, trong sáng và lương thiện.
Nhìn chung các sáng tác trong văn học truyền thống tạo tiền đề cho văn
học hiện đại tiếp nối những ưu thế đã kế thừa. Cái mà văn học hiện đại tiếp
thu và phát triển chính là vấn đề đạo đức, bởi “nếu không có đạo nhân thì
không có đạo người”. Xưa nay đạo đức vẫn là một trong những phẩm chất mà
các tác giả gửi gắm triết lý, suy nghĩ trước thời cuộc. Vì vậy, giá trị to lớn của
đạo đức hầu hết được các tác giả đương thời kế thừa và phát triển. Một trong
những nhà văn hiện đại của vùng đất Nam Bộ có sự tiếp nối đó chính là Hồ
Biểu Chánh. Ông đã kế thừa truyền thống tốt đẹp đó của văn học và khẳng
định chỗ đứng vững chắc trong nền văn học Việt Nam.
1.2 Vai trò của Hồ Biểu Chánh trong dòng văn học đạo lý
Khảo sát tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh sáng tác trước 1932, chúng tôi
thấy có 18 tác phẩm viết về vấn đề đạo lý. Có nhà nghiên cứu cho rằng tiểu
thuyết Hồ Biểu Chánh đề cao luân lý đạo đức mang tính chất giáo huấn rõ
nét. Tiếp nối quan niệm “văn dĩ tải đạo” trong văn học trung đại, tiểu thuyết
của Hồ Biểu Chánh giữ được nhiều truyền thống tốt đẹp, đề cao đạo đức, đề
cao tình nghĩa, lối sống chuẩn mực.
thống đạo lý, tinh thần nghĩa hiệp trong văn học Nam Bộ (ảnh hưởng của văn
chương Nguyễn Đình Chiểu), đồng thời phát triển ở đỉnh cao hơn nữa nguồn
cảm hứng đạo lý của dân tộc. Tác phẩm của ông phần lớn đề cập tới vấn đề
đạo lý truyền thống của dân tộc. Ông chủ trương đưa con người hướng thiện,
hướng tới chân - thiện - mĩ, lánh xa tội ác, thấp hèn, góp phần xây dựng hình
ảnh con người mới mang phẩm chất tốt đẹp. Qua đây cho thấy vai trò to lớn
của ông đối với xu hướng văn học đạo lý, ông đã góp thêm một tiếng nói mới
SV: Lê Thị Chinh
24
Lớp: K33C – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
mẻ mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc vào dòng văn học này nhằm tiếp thêm sức
mạnh để giáo dục, khuyên răn con người sống tốt hơn, hướng thiện hơn.
SV: Lê Thị Chinh
25
Lớp: K33C – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 2: CẢM HỨNG ĐẠO LÝ TRONG MỘT SỐ TIỂU
Lớp: K33C – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
tình cảm của mình. Trong khi đó, cậu Hai Nghĩa - con trai Cai tổng Hiếu mê
sắc đẹp của Lựu, hứa hẹn và làm cô có thai. Khi cô sinh được một đứa con
trai, cậu ta cũng không thèm đoái hoài tới. Trước hoàn cảnh trớ trêu đó, anh
Cu đã cưới cô Tư Lựu, nhận đứa trẻ làm con mình, coi “con của cổ cũng là
con của tôi. Người ta bỏ, tôi nuôi thằng nhỏ không có cha tôi lãnh làm cha”,
“Suốt ngày anh quấn quýt, yêu thương, cưng nựng nó như chính đứa con của
mình”. Anh Cu ý thức được việc làm của mình bởi anh là người sống có tình
nghĩa. Thậm chí anh còn nói: “nhà giàu thương con nhà nghèo cũng biết
thương con vậy chứ. Ai nỡ cắt thịt mà trao cho người khác được. Vợ chồng
tôi nghèo thì nuôi con phận nghèo. Cái tình thương con là quý, chớ giàu
nghèo có nghĩa gì... thằng Hai đây tôi thương nó không biết chừng hơn con
ruột của tôi nữa, bởi vì cha nó không nhìn, tôi ra nhìn thế, nên tôi phải
thương nó bằng hai”. Chính vì tình nghĩa, vì tình yêu con mà anh Cu không
quản ngại gian khổ nuôi con ăn học tử tế. Người con sau này đỗ đạt và làm
đến chức Kinh lý. Có thể thấy những suy nghĩ, hành động của anh chứng tỏ
anh là một con người rộng lượng, bao dung, đáng trọng. Một người nông dân
nghèo, không được học hành nhưng lại là người hiểu biết, tình nghĩa, nhân ái.
Chính tình thương con của anh Cu là nét đẹp, vẻ đẹp của đạo lý, không giá trị
vật chất nào có thể mua được.
Không chỉ nói về tình cảm cha mẹ với con cái, Hồ Biểu Chánh còn đề
cập về tình nghĩa vợ chồng keo sơn, gắn bó. Đó là tình nghĩa dựa trên sự yêu
thương, đùm bọc chân thành. Cả anh Cu và cô Tư Lựu không nghĩ đến lợi ích
riêng của mình. Họ hi sinh, hết lòng vì con, với mong muốn nuôi con ăn học
nên người “nhứt định cho con học đến cùng, không sợ tốn hao, không kể phân
nghĩa, làm tròn bổn phận đạo hiếu của mình với cha mẹ.
Trong mối quan hệ gia đình, Hồ Biểu Chánh còn đề cao, ngợi ca tình cảm anh
em gắn bó, thương yêu nhau. Vì thương em, muốn trả thù, lấy lại danh dự cho
em, Ba Cam sẵn sàng đón đường hỏi tội, rạch mặt Hai Nghĩa. Anh ta khẳng
khái: “Tôi muốn ghi trên mặt nó vài cái thẹo cho thiên hạ hễ ngó thấy thì nhớ
nó là đứa chuyên đi phá danh giá của con nhà nghèo, đặng tránh nó mà
thôi.” Ba Cam bất bình vì hành động vô liêm sỉ của Hai Nghĩa, mong trả thù
cho em, hi sinh vì em, không sợ hiểm nguy “Đợi trời đất hại, đợi biết chừng
nào mới có. Thà tôi làm phứt một cái cho nó tởn. Tòa có đày tôi đi nữa, tôi
cũng can tâm”...,“qua rửa nhục cho em mà qua ở tù, thì qua vui lòng lắm,
SV: Lê Thị Chinh
28
Lớp: K33C – Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
không hại chi đâu mà sợ”. Đối với họ tình cảm anh em là trên hết. Họ sẵn
sàng nhận lấy thiệt thòi, hạnh phúc được sống hết mình vì tình nghĩa.
Đọc tiểu thuyết Cha con nghĩa nặng, chúng ta cảm nhận được tình phụ
tử sâu sắc trong đó. Qua một tình huống đầy éo le, bi kịch: Trần Văn Sửu vô
tình giết chết vợ, phải trốn tránh mười năm biệt xứ. Suốt khoảng thời gian ấy,
anh ta phải giả danh, thay tên, đổi họ, sống chui lủi. Xa con, nhớ con nên trốn
về thăm, mong được nhìn thấy con. Khi biết con mình khôn lớn trưởng thành,
anh ta lặng lẽ ra đi. Qua tác phẩm, Hồ Biểu Chánh làm nổi bật vẻ đẹp đạo đức
của một loạt nhân vật. Trần Văn Sửu luôn trân trọng tình vợ chồng. Tuy vợ
không chính chuyên, trực tiếp gây nên sự bất hạnh cho Sửu và các con nhưng