nhân vật lữ khách trong một số tiểu thuyết của nhà văn kawabata yasunari - Pdf 30

ƯỜ
NG ĐẠ
Ơ
TR
TRƯỜ
ƯỜNG
ĐẠII HỌC CẦN TH
THƠ
ÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NH
NHÂ

Ữ VĂN
BỘ MÔN NG
NGỮ

ẦN TẤN PH
ÁT
TR
TRẦ
PHÁ
MSSV: 6106344

ÂN VẬT “LỮ KH
ÁCH
NH
NHÂ
KHÁ
CH””
ỂU THUY
ẾT

ĐỀ CƯƠ
ƯƠNG
QUÁ
ẦN MỞ ĐẦ
U
PH
PHẦ
ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
ẦN NỘI DUNG
PH
PHẦ
ƯƠ
NG 1: NH
ỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
CH
CHƯƠ
ƯƠNG
NHỮ
1.1. Giới thuyết về nhân vật văn học và nhân vật “lữ khách” trong tác phẩm của
Kawabata
1.1.1. Nhân vật văn học
1.1.2. Kiểu nhân vật “lữ khách” trong tác phẩm của Kawabata
1.2 Vài nét về tác giả và tác phẩm
1.2.1. Kawabata - con người và sự nghiệp văn chương
1.2.1.1. Tiểu sử Kawabata Yasunari

ĐẸP
NGỦ
2.1. Chân dung nhân vật “lữ khách”
2.2. Hành trình khám phá cái đẹp của nhân vật “lữ khách”
3.2.1. Khám phá cái đẹp trong thiên nhiên
3.2.2. Khám phá cái đẹp ở con người
` 3.2.3. Khám phá cái đẹp trong văn hóa Nhật Bản
2.3. Hành trình khám phá bản ngã
2.4. Bi kịch của nhân vật “lữ khách”
CH
ƯƠ
NG 3: NGH
Ệ THU
ẬT TH
Ể HI
ỆN KI
ỂU NH
ÂN VẬT “LỮ KH
ÁCH
CHƯƠ
ƯƠNG
NGHỆ
THUẬ
THỂ
HIỆ
KIỂ
NHÂ
KHÁ
CH””
ẨM ĐƯỢ

U
PH
PHẦ
ĐẦU
1. Lí do ch
chọọn đề tài
Nhật Bản từ lâu đã nổi tiếng là một quốc gia mang đậm dấu ấn truyền thống văn
hóa phương Đông độc đáo. Nhắc đến Nhật Bản, hầu như người dân trên khắp thế giới đều
biết đến núi Phú Sĩ, hoa anh đào, những món ăn truyền thống được chế biến từ hải sản
sống mà tiêu biểu là sushi, những loại hình văn hóa nghệ thuật truyền thống chỉ có ở Nhật
Bản như trà đạo, kịch Nô…. Tuy nhiên, văn học Nhật Bản vẫn còn là một bí ẩn mà thế
giới chưa giải mã hết được. Bạn đọc khắp thế giới dường như chỉ biết nhiều đến thơ Haiku như là đặc sắc, nổi bật của văn học Nhật Bản.
Với vị trí địa lí thuận lợi, văn học Nhật Bản tiếp thu tinh hoa của các nước láng
giềng đồng thời kết hợp với văn hóa, truyền thống trong nước để tạo nên một nền văn học
riêng cho đất nước mình, nền văn học duy mĩ, duy tình. Trong kỉ nguyên hiện đại, văn
học Nhật Bản đã sản sinh ra rất nhiều tài năng. Chúng ta có thể nhắc đến Akutagawa
(1892-1927) như bậc thầy truyện ngắn Nhật Bản. Tiếp nối Akutagawa là rất nhiều nhà
văn nổi bật như Yoko Mitsu Riichi (1898-1947), Ito Su (1905-1967)…. Nhưng người có
công mang văn học Nhật Bản đến với thế giới phải kể đến Yasunari Kawabata (18991972). Tài năng của Kawabata phần nào đã được khẳng định khi ông được trao giải Nobel
àn cánh hạc (Senbazuru), Cố đô
văn học cho bộ ba tiểu thuyết: Xứ tuy
tuyếết (Yukiguni), Ng
Ngà
(Kyoto) năm 1968.
Nếu như giải Nobel văn học năm 1968 không được trao cho ông thì Kawabata vẫn
là một bí ẩn đối với nền văn học thế giới. Sau khi được nhận giải Nobel văn học năm
1968, các tác phẩm của Kawabata được bạn đọc chú ý nhiều hơn, các nhà nghiên cứu
cũng bắt đầu nghiên cứu các tác phẩm của ông. Từ đây, họ phát hiện ra một tâm hồn vĩ
đại, một con người làm nhiệm vụ chuyển lưu cái đẹp của xứ sở “Mặt trời mọc” đến với
thế giới qua các tác phẩm của mình. Trong buổi phát biểu Di

ủ mê…. Họ là
trong Xứ tuy
tuyếết, Kikuji trong Ng
Ngà
Ngườ
ườii đẹ
đẹp
ngủ
những con người luôn luôn trăn trở, say đắm trước cái đẹp.
Để làm rõ kiểu nhân vật “lữ khách” trong một số tiểu thuyết của Kawabata nói
riêng, cũng như góp phần làm sáng tỏ kiểu nhân vật “lữ khách” trong sáng tác của
àn cánh hạc và Ng
ườ
Kawabata nói chung, người viết chọn các tác phẩm Xứ tuy
tuyếết, Ng
Ngà
Ngườ
ườii
p ng
ủ mê để thực hiện đề tài: “Nh
Nh
ân vật lữ kh
ách trong một số ti
à
đẹ
đẹp
ngủ
Nhâ
khá
tiểểu thuy

đờii và tác ph
phẩ
Trung. Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về cuộc đời và văn nghiệp của Kawabata
5


và những yếu tố ảnh hưởng đến nghệ thuật của Kawabata. Tác giả khẳng định:
“Kawabata là nhà văn rất coi trọng ngôn ngữ. Ngôn ngữ của ông mẫu mực về phong

cách Nhật: ngắn gọn, súc tích, sâu sắc. Câu văn mang nhiều biểu tượng và ẩn dụ kì diệu
như thơ nhạc” [13;tr.20]. Những nhận xét của tác giả Lưu Đức Trung cho thấy Kawabata
rất được đánh giá cao ở nghệ thuật kể chuyện, nhất là khả năng gợi cảm của ngôn từ.
áp ti
Ngoài ra, tác giả Lưu Đức Trung còn có bài viết Thi ph
phá
tiểểu thuy
thuyếết Yasunari
ật Bản nhân kỉ niệm 100 năm sinh của Kawabata
Kawabata, nh
nhàà văn lớn của Nh
Nhậ
(1899 – 1999). Trong bài viết này, tác giả trực tiếp khẳng định thi pháp tiểu thuyết của
Kawabata là thi pháp chân không.
Anders Osterling đã ca ngợi nghệ thuật viết văn của Kawabata tại buổi lễ trao giải
Nobel: “Tác phẩm của Kawabata làm ta nhớ đến hội hoạ Nhật Bản; ông là kẻ tôn thờ cái
đẹp mong manh và ngôn ngữ hình ảnh u buồn của hiện hữu trong cuộc sống của thiên
nhiên và thân phận con người” [1;tr.958]. Lời văn ca ngợi của Anders Usterling cho thấy
đặc điểm nổi bật trong nội dung các sáng tác của Kawabata, cái đẹp phải gắn với nỗi buồn.
Đây cũng là đặc điểm xuất phát từ quan niệm thẩm mĩ trong truyền thống Nhật Bản, cái
đẹp sẽ không hoàn hảo nếu thiếu nỗi buồn.


giả ít nhiều cũng có đề cập đến vấn đề này. Ở đây, người viết xin đưa ra một số dẫn chứng
từ một số bài viết của các tác giả Việt Nam.
Trong Văn hóa Nh
Nhậật Bản và Yasunari Kawabata của Đào Thị Thu Hằng, tác giả
đã dành một mục để nói về các kiểu nhân vật tiêu biểu trong sáng tác của Kawabata. Đề
cập đến kiểu nhân vật “lữ khách đi tìm cái đẹp”, tác giả nhận xét: “Không có giới hạn về
tuổi tác đối với lữ khách này. Họ có thể chỉ là chàng sinh viên, trẻ trung, “vô sản” như
tôi, độc thân như Kikuji, trung niên, có gia đình và giàu sang như Shimamura, hay thậm
chí là những ông già như Shingo và Eguchi…. Có nghĩa, đã là con người, là nửa kia, là

phái mạnh, thì họ, ai cũng tôn thờ cái đẹp” [9;tr.174]. Những nhận xét trên đã nêu lên
những đặc điểm khái quát nhất về “lữ khách” trong tác phẩm của Kawabata.
ườ
p của nỗi bu
ồn có
Trong bài viết Yasunari Kawabata - Ng
Ngườ
ườii đi tìm vẻ đẹ
đẹp
buồ
những câu văn nhận xét về nhân vật Shimamura trong tiểu thuyết trên phương diện một
người “lữ khách đi tìm cái đẹp”: “Shimamura, một lữ khách u buồn, như mụ mị đi bởi vẻ
đẹp của hoa tuyết đã tan, về mối tình đã mất. Với cái nhìn huyền ảo xuyên suốt qua cõi
thực và mơ, "Xứ tuyết" là hình ảnh của thế giới thực và một thế giới ảo cùng soi chiếu
vào nhau, tồn tại trong nhau bằng những sắc màu lung linh, huyền ảo” [15]. Đặc điểm
của lữ nhân Shimamura cũng là đặc điểm chung của nhiều nhân vật “lữ khách” khác trong
các sáng tác của Kawabata.
ật Bản của Trần
Bài viết Kawabata trong ti


Komako, được “trầm tư chiêm ngưỡng về sự phong phú về cái đẹp thánh thiện của những
kiếp phù du” ” [14]. Vẫn là nhận xét thiên về nhân vật Shimamura, PGS.TS Nguyễn Văn
Hạnh đã cho thấy được đặc điểm kiểu nhân vật “lữ khách” của Kawabata: trong cuộc
hành trình tìm kiếm cái đẹp, nhân vật “lữ khách” còn tìm về với bản ngã của chính mình.
ng cu
ộc hành tr
ở về xứ tuy
ẩm
Bài viết Ý ngh
nghĩĩa bi
biểểu tượ
ượng
cuộ
trìình tr
trở
tuyếết trong tác ph
phẩ
Xứ tuy
tuyếết của Yasunari Kawabata của Lê Thanh Huyền có đoạn: “Hình ảnh một con
người hiện diện trong tác phẩm với những cuộc hành trình tìm về quá khứ, về truyền
thống, về cái đẹp phôi pha là biểu tượng cho một nỗi niềm đau xót trước sự mất mát giá
trị văn hóa dân tộc, và nhiều hơn thế. Với mỗi tác phẩm, hình tượng nhân vật hành trình
lại chứa đựng những ngầm ẩn tượng trưng riêng nhưng bao giờ cũng gợi lên hình ảnh
người lữ khách u sầu Kawabata lang thang tìm cái đẹp trong cảm hứng mất mát. Kiểu
nhân vật hành trình là một sáng tạo biểu tượng của Y. Kawabata. Đó là biểu tượng cho
chủ thể nhà văn” [17]. Tác giả bài viết đã nêu lên ý nghĩa thật sự đằng sau những cuộc
hành trình của “lữ khách”, đồng thời khẳng định nhân vật “lữ khách” chính là hóa thân
của Kawabata.
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu đáng kể về Yasunari Kawabata cũng như

tuyếết, Ng
Ngààn cánh hạc và Ng
Ngườ
ườii đẹ
đẹp
ngủ
nhân vật “lữ khách” trong ba tác phẩm kể trên. Ngoài ra, luận văn còn khái quát đôi nét về
Kawabata, quan niệm sáng tác của ông cũng như nghệ thuật xây dựng nhân vật “lữ
àn cánh hạc, Ng
ườ
p ng
ủ mê. Từ đó đánh giá
khách” trong ba tác phẩm Xứ tuy
tuyếết, Ng
Ngà
Ngườ
ườii đẹ
đẹp
ngủ
được những đóng góp của Kawabata trong kho tàng tiểu thuyết Nhật Bản.

8


ạm vi nghi
4. Ph
Phạ
nghiêên cứu
Bài viết đi sâu vào quá trình nghiên cứu kiểu nhân vật “lữ khách” trong tiểu thuyết
Xứ tuy

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, người viết còn đề cập đến các bài nghiên cứu,
bài báo về Kawabata, các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề để cơ sở lập luận
thêm sức thuyết phục cũng như làm dẫn chứng để nêu luận điểm chính.
Phạm vi đề tài: nghiên cứu đặc điểm của kiểu nhân vật “lữ khách” cũng như nghệ
thuật thể hiện kiểu nhân vật này trong một số tiểu thuyết của nhà văn Kawabata.

ươ
ng ph
5. Ph
Phươ
ương
phááp nghi
nghiêên cứu
Để thực hiện đề tài này, người viết có sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp lịch sử: đặt tác phẩm trong thời gian tác phẩm ra đời để hiểu được tác
phẩm một cách sâu sắc. Đồng thời cho thấy sự tác động, ảnh hưởng của các hiện tượng,
sự kiện lịch sử đối với vấn đề.
Phương pháp so sánh, đối chiếu: giúp hiểu rõ bản chất, vị trí của vấn đề trong các
mối tương quan đa chiều của nó. Hơn nữa, tiến hành so sánh kiểu nhân vật “lữ khách”
trong các sáng tác của Kawabata nhằm tìm ra nét chung phổ quát cũng như khẳng định
nét đặc sắc, riêng biệt về kiểu nhân vật “lữ khách” trong tác phẩm.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích văn bản tác phẩm để tìm ra được đặc
điểm của kiểu nhân vật “lữ khách”.
Ngoài ra, người viết còn sử dụng một số thao tác như chứng minh, bình luận, giải
thích…
Trên đây là một số phương pháp, thao tác được sử dụng trong quá trình nghiên cứu.
Việc vận dụng các phương pháp, thao tác này trong bài viết được tiến hành phối hợp
nhằm làm sáng tỏ vấn đề mà người viết nói tới.

9

[12;tr.277] hay “Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi đó là hình thức cơ bản để qua đó
văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng.” [12;tr.277].
ữ văn học, Lại Nguyên Ân cho rằng: “Nhân vật văn học là sự
Trong 150 thu
thuậật ng
ngữ
thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người, nên có thể được xây dựng chỉ
dựa trên cơ sở quan niệm ấy” [2].
Có thể nói, nhân vật là hình thức cơ bản để miêu tả con người trong văn học. Do
đó, “nhân vật văn học” là một thuật ngữ dùng để chỉ những hình tượng nghệ thuật về con
người.
Biểu hiện của nhân vật trong tác phẩm rất đa dạng. Đối với các tác phẩm tự sự,
nhân vật được phác họa một cách khá đầy đủ từ ngoại hình đến nội tâm. Trong khi đó, ở
các tác phẩm trữ tình, nhân vật chỉ được bộc lộ qua cảm xúc, ý nghĩ. Có nhân vật hiện lên
như một người bình thường, lại có nhân vật có “ba đầu sáu tay”. Nói chung, nhân vật văn
học rất đa dạng.
Nhân vật văn học có những đặc điểm khác với nhân vật của các loại hình nghệ
thuật khác. Do hình tượng văn học là hình tượng “phi vật thể” cho nên nhân vật văn học
là nhân vật tưởng tượng, chứ không phải là nhân vật “hữu hình” như trong các ngành
nghệ thuật điêu khắc, hội họa, điện ảnh….Nhân vật văn học được cảm nhận rất khác nhau
bởi khả năng liên tưởng, tưởng tượng của con người không giống nhau.
Nhân vật văn học là một phạm trù thẩm mĩ. Vì thế, không nên đồng nhất giữa nhân
vật văn học với con người thật. Nhân vật văn học chỉ là một khối thẩm mĩ được nhà văn
mô tả như là sự bắt chước con người ngoài đời thực, nhưng bao giờ nhân vật văn học
cũng chịu ảnh hưởng bởi quan niệm, cảm nhận của cá nhân. Nhân vật văn học luôn có
những đặc trưng nghệ thuật riêng và được thể hiện trong tác phẩm thông qua các biện
pháp nghệ thuật của nhà văn. Tuy nhiên, không vì thế mà nhân vật văn học kém phần
chân thật.
Nhà văn dùng nhân vật để nêu lên quan niệm về con người, cuộc đời, cũng như lí
giải, cắt nghĩa con người, cuộc đời thấm đẫm thị hiếu thẩm mĩ. Do đó, khi đọc một tác

thác, miêu tả một cách tỉ mỉ. Tiểu thuyết còn có khả năng tạo được hình tượng điển hình
từ nhiều con người khác nhau, từ bối cảnh khác nhau, điều mà thể loại kí không làm được.
Thông qua nhân vật trong tiểu thuyết, người đọc có thể thấy được bộ mặt của con
người, đồng thời thấy được ý nghĩa nhân sinh mà tác giả gửi gắm, chia sẻ trong tác phẩm.
Có thể nói, nhân vật trong tiểu thuyết là cầu nối giữa thế giới thực và thế giới ảo trong tác
phẩm.
Nhân vật trong tiểu thuyết nhất thiết là phải những con người nếm trải, nghĩa là số
phận của họ phải do logic của cuộc đời quy định. Do đó, nhân vật trong tiểu thuyết luôn
có mối quan hệ mật thiết với hoàn cảnh. Đôi khi, chính hoàn cảnh làm thay đổi cuộc đời
11


của nhân vật hoặc ngược lại, nhân vật tạo ra một hoàn cảnh khác với hoàn cảnh ban đầu
của câu chuyện. Hoàn cảnh ở đây được xem như yếu tố ảnh hưởng, tác động lớn đến nhân
vật.
Nhân vật trong tiểu thuyết được nhà văn xây dựng bằng vốn sống, sự hiểu biết về
nhân vật và được miêu tả thông qua xung đột, biến cố cuộc đời hay đôi khi là mâu thuẫn
nội tâm. Vì vậy, nhân vật trong tiểu thuyết gần giống như con người trong cuộc sống.
Nghĩa là mỗi nhân vật đều có cá tính, cuộc đời, số phận riêng. Điều đó được thể hiện qua
ngoại hình và nội tâm của nhân vật. Nhân vật trong tiểu thuyết đôi khi mang tính tự thân,
thoát khỏi sự kiểm soát của tác giả để đi theo số phận, quy luật cuộc đời. Tuy nhiên, dù
thế nào đi nữa thì nhân vật trong tiểu thuyết phải là hiện thân cho tư tưởng của nhà văn.
Như vậy, có thể thấy nhân vật trong tiểu thuyết luôn luôn phong phú, đa dạng,
không kém phần hấp dẫn, và quan trọng hơn, nhân vật trong tiểu thuyết có thể khái quát
được hiện thực xã hội, khái quát được quan điểm của nhà văn.

1.1.2. Ki
Kiểểu nh
nhâân vật “lữ kh
kháách

gióó lùa. Nhà văn Võ Thị Xuân Hà, một cây bút nữ trong văn học đương
đại Việt Nam cũng chọn cho mình một kiểu nhân vật trong các sáng tác là kiểu nhân vật
bản năng.
Riêng với kiểu nhân vật “lữ khách”, người đọc có thể tìm thấy kiểu nhân vật này
nhiều nhất trong các tác phẩm văn học Nhật Bản. Có thể nói, “lữ khách” là một khái niệm
12


gắn liền với con đường. “Lữ khách” là những người hoặc có sở thích đi du lịch, hoặc quá
trình đi là quá trình tìm kiếm, trăn trở cả một đời. Từ khởi thủy của văn học Nhật Bản đã
xuất hiện kiểu nhân vật “lữ khách”. Có lẽ người khởi xướng cho kiểu nhân vật “lữ khách”
ng sâu th
ẳm. Toàn tập thơ
trong văn học Nhật Bản là nhà thơ Basho với tập thơ Con đườ
đường
thẳ
như khúc giao hưởng giữa một tâm hồn đang hòa nhập với cuộc sống. Xuyên suốt trong
các tác phẩm là cuộc hành trình của nhân vật trữ tình đi tìm cái đẹp nơi thiên nhiên miền
Bắc xa xôi.
Ảnh hưởng bởi tính chất lữ nhân trong thơ Basho, Kawabata cũng sáng tạo ra kiểu
nhân vật “lữ khách” của riêng mình. Nhân vật “lữ khách” trong tác phẩm của Kawabata
nói chung và trong tiểu thuyết của nhà văn nói riêng đều mang đặc điểm chung về giới
tính, họ là những người thuộc phái mạnh, là những con người không bị giới hạn về tuổi
tác, xuất thân. Những “lữ khách” của Kawabata, mặc dù luôn chìm đắm trong cái đẹp,
sống trong cái đẹp nhưng chưa bao giờ họ sở hữu được những vẻ đẹp ấy. Đó chính là lí do
họ dành cả cuộc đời để tìm kiếm cái đẹp. Vẻ đẹp mà những “lữ khách” của Kawabata tìm
kiếm là vẻ đẹp hiện diện nơi người phụ nữ - vẻ đẹp tác động mạnh vào tâm hồn tinh tế
của “lữ khách” một cách sâu sắc, là vẻ đẹp của thiên nhiên, sự thấu thị về thiên nhiên, sự
tương giao giữa nội tâm và thiên nhiên khiến tâm hồn “lữ khách” đạt đến sự tự do về tinh
thần, và là vẻ đẹp của những giá trị truyền thống đang dần bị lãng quên.

1.2.1.1. Tiểu sử Kawabata Yasunari
Kawabata Yasunari (1899-1972), sinh ra ở một làng quê gần thành phố Osaka, là
một người có nhiều thăng trầm trong cuộc đời. Thuở nhỏ, Kawabata đã sớm mồ côi từ
năm hai tuổi. Nhà văn và chị ruột đến sống cùng ông bà ngoại. Khoảng thời gian từ bảy
tuổi đến mười bốn tuổi là khoảng thời gian mất mát rất lớn đối với bản thân Kawabata khi
lần lượt cả ông bà ngoại và người chị của ông đều qua đời. Từ đó, Kawabata phải về sống
cùng với gia đình người dì.
Thuở nhỏ, Kawabata thích vẽ tranh và ấp ủ ước mơ trở thành họa sĩ. Tuy nhiên,
với việc ghi danh vào học tại Đại học Tổng hợp Tokyo năm 1920, Kawabata đã quyết
định theo nghiệp văn chương. Năm đầu Kawabata học ở Khoa văn học Anh, lên năm thứ
hai ông chuyển sang nghiên cứu văn học Nhật Bản và ra trường với đề tài tốt nghiệp về
văn học Nhật Bản.
Thời sinh viên, Kawabata tham gia rất nhiều các hoạt động văn học. Ông cùng với
một số bạn bè sáng lập nên tạp chí Trào lưu mới (Shino). Ngoài ra, ông còn hoạt động
trong một số tạp chí nổi tiếng đương thời như Văn nghệ Xuân Thu (Bungei Shunzui), Văn
nghệ thời đại (Bungei Jidai). Cũng trong thời gian này, Kawabata yêu say đắm một người
thiếu nữ. Ông đã cùng nàng hứa hôn nhưng khi tất cả đã chuẩn bị xong xuôi thì người
thiếu nữ bất ngờ hủy hôn không một lời giải thích. Từ đó, người phụ nữ ấy trở thành nỗi
ám ảnh đối với Kawabata và trở thành hình mẫu “người phụ nữ trong trắng” trong các
tiểu thuyết của ông.
Sau khi tốt nghiệp đại học 1924, Kawabata trở thành đại biểu của trường phái Tân
cảm giác theo trào lưu văn học và văn hóa châu Âu, phủ nhận chủ nghĩa tự nhiên, chú
trọng đặt cảm xúc và cảm giác vào trung tâm của tác phẩm. Đương thời, tiếng nói của
Kawabata rất có giá trị, ông là người quyết định số phận sự nghiệp của các nhà văn trẻ.
Tuy nhiên, cuộc sống riêng tư sau này của ông ít được sách vở nhắc đến.
Kawabata từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như chủ tịch Hội văn bút Nhật Bản
từ năm 1948 – 1965, thành viên của viện Hàn lâm Nhật Bản năm 1953, phó chủ tịch Hội
văn bút quốc tế năm 1959. Cũng trong năm 1959, ông được trao tặng Huân chương
Goethe tại Fankurf.
Năm 1968 đánh dấu một cột mốc quan trọng trong cuộc đời văn nghiệp của

mà nhà văn cảm thấy hài lòng nhất, là tập hợp những truyện có dung lượng ngắn nhưng
nội dung chứa đựng nhiều triết lí sâu xa về con người, vũ trụ. Đây được xem là thể loại có
nhiều đặc điểm gần giống với thơ Hai-ku của Nhật Bản. Với Kawabata, đó là những câu
chuyện chứa đựng cả một hồn thơ tuổi trẻ.
Năm 1925 đánh dấu sự thành công của Kawabata với truyện ngắn Vũ nữ Izu
Izu. Câu
chuyện kể về mối tình của một chàng sinh viên trẻ với một cô gái trong một gánh hát gia
đình lưu động. Người đọc bị ấn tượng bởi chính câu chuyện được kể và khả năng miêu tả
của Kawabata. Ngoài ra, kiểu nhân vật “người phụ nữ trong trắng” lần đầu tiên xuất hiện
trong tác phẩm. Kiểu nhân vật này sẽ còn xuất hiện trong các sáng tác của Kawabata sau
này. Vũ nữ Izu được xem như kiệt tác đầu tay của Kawabata.
Một tác phẩm cũng rất thành công về thể loại truyện ngắn của Kawabata là truyện
Cánh tay
tay. Câu chuyện kể về một đêm âu yếm giữa nhân vật tôi và cánh tay của người
yêu, chỉ là cánh tay nhưng nó có sức hấp dẫn như người phụ nữ. Người đọc bị ấn tượng
bởi những cảm giác lạ lùng cũng như thủ pháp nghệ thuật trong tác phẩm. Tuy nhiên, ý
nghĩa chính xác của tác phẩm đến bây giờ vẫn chưa được khám phá. Tác phẩm đã sử
dụng những thủ pháp của chủ nghĩa siêu thực khiến khả năng tưởng tượng của nó trở nên
phong phú. Đó là lí do khiến tác phẩm trở nên lôi cuốn người đọc. Tác phẩm Cánh tay đã
được các nhà phê bình ví như bức tranh của trường phái tưởng tượng.
ủy nguy
Ngoài ra, còn có thể nhắc đến truyện ngắn Th
Thủ
nguyệệt, tác phẩm sử dụng rất
thành công thủ pháp “chiếc gương soi” – một thủ pháp khá phổ biến trong các sáng tác
của Kawabata. Đây là tác phẩm được đưa vào chương trình văn học nước ngoài giảng dạy
phổ thông.
Tuy nhiên, thành công rực rỡ trong văn nghiệp của Kawabata là mảng tiểu thuyết.
àn cánh hạc (1951), Cố
Đỉnh cao của thể loại này bộ ba tác phẩm Xứ tuy

hiện rõ qua suy nghĩ, trăn trở của Chieko. Người đọc đến với tác phẩm chắc hẳn sẽ ấn
tượng với vẻ đẹp của thành phố Kyoto.
Sẽ là thiếu sót nếu chỉ nhắc đến bộ ba tiểu thuyết đoạt giải Nobel của Kawabata.
Ngoài bộ ba tiểu thuyết kể trên, có thể nhắc đến tiểu thuyết Ti
Tiếếng rền của núi (19501952). Đây là tiểu thuyết viết về cái chết cũng như những linh cảm về cái chết. Câu
chuyện xoay quanh cuộc sống của gia đình ông Shingo sau chiến tranh và những mối
quan hệ của các thành viên trong gia đình: ông Shingo có cảm tình với cô con dâu Kikuko,
Suychi, chồng của Kikuko có người tình bên ngoài. Câu chuyện kết thúc mà chưa có hồi
kết làm người đọc cảm thấy mọi thứ dường như còn dang dở.
Vào cuối đời, lúc Kawabata đã bảy mươi tuổi, ông cho ra mắt cuốn tiểu thuyết cuối
ườ
p ng
ủ mê. Cuốn tiểu thuyết này được coi là hiện tượng lạ của văn học
cùng Ng
Ngườ
ườii đẹ
đẹp
ngủ
ườ
p ng
ủ mê được
Nhật Bản và là cuốn tiểu thuyết mà người phương Tây rất thích. Ng
Ngườ
ườii đẹ
đẹp
ngủ
kể bằng văn phong dòng ý thức, những liên tưởng trong tác phẩm được gợi lên đẹp đẽ và
biểu lộ một cách rõ ràng. Sự kiện chồng chất và những giấc mơ quy định sự phức tạp của
câu chuyện khiến nó không còn đơn điệu. Tình yêu trong tác phẩm mang màu sắc chua
xót bởi những người đàn ông nằm bên cạnh các cô gái nhưng không thể xâm phạm đến sự

khảảo sát (X
(Xứ
tuyếết, Ng
Ngààn cánh hạc, Ng
Ngườ
ườii đẹ
đẹpp say
ủ)
ng
ngủ
1.2.2.1. Tác phẩm Xứ tuyết
Tiểu thuyết Xứ tuy
tuyếết được viết và chỉnh sửa trong mười hai năm (từ năm 1934 đến
năm 1947). Cốt truyện tuy khá đơn giản nhưng lại khó nắm bắt. Shimamura, một hóa thân
của “lữ nhân” Kawabata đam mê nhiều thứ trong cuộc sống. Quá trính đam mê nhiều thứ
ấy chính là quá trình đi tìm cái đẹp. Trong nghệ thuật, anh khát khao dung hòa giữa nghệ
thuật truyền thống Nhật Bản và nghệ thuật phương Tây. Trong tình yêu, anh khao khát
dung hòa vẻ đẹp của hai cô gái Komako va Yôko.
Tiểu thuyết Xứ tuy
tuyếết kể về câu chuyện của nhân vật Shimamura, một người thành
đạt, giàu có, đã có vợ con ở Tokyo, trở lại một lần nữa để ngắm cảnh vào mùa thu và tắm
suối nước nóng ở vùng núi nơi anh đã đến vào sáu tháng trước. Trên chuyến tàu đến vùng
núi này, anh tình cờ gặp được Yôko, một người con gái đang chăm sóc một người đàn
ông bị ốm và ngay lập tức, anh bị cuốn hút bởi vẻ đẹp của Yôko, một vẻ đẹp đầy thánh
thiện. Khi đến suối nước nóng, anh gặp lại Komako, một geisha xinh đẹp, đầy quyến rũ
mà anh đã quen trong lần đầu tới đây. Shimamura đắm chìm trong tình yêu với Komako,
nhưng đôi khi anh lại nhớ đến vẻ đẹp của Yôko, cô gái anh đã gặp trên toa tàu. Tình yêu
anh dành cho Komako đầy cảm xúc trần thế, còn đối với Yôko thì đó là tình yêu lí tưởng.
Thật trớ trêu khi Yôko và Komako cùng sống trong nhà của bà giáo dạy nhạc và mối quan
hệ của họ với người đàn ông bị ốm không bao giờ được giải thích đầy đủ. Kết thúc tác

vẫn muốn Kikuji lấy cô gái nhà Inamura nên đã mời nàng đến nhà Kikuji tham gia buổi
trà đạo do chính Chikako tổ chức. Sau mối tình trầm luân với bà Ota, tình cảm của Kikuji
trở nên khó lí giải. Chàng có cảm tình với cả hai cô gái: Fumiko và cô gái nhà Inamura
nhưng chàng vẫn để mọi chuyện trôi qua. Do lòng đố kị, ganh ghét, Chikako nói với
Kikuji rằng cả hai cô gái đã đi lấy chồng. Fumiko sau đó gặp lại Kikuji và do điều gì đó
thôi thúc đã khiến nàng đập vỡ chén trà mà nàng đã tặng cho Kikuji rồi bỏ đi mất. Không
có Fumiko, không có Inamura, chỉ còn lại Kikuji với Chikako xấu xí. Đó là ý nghĩ của
Kikuji khi tác phẩm kết thúc.

1.2.2.3. Tác phẩm Người đẹp ngủ mê
ườ
p ng
ủ mê ra mắt khi Kawabata đã 70 tuổi. Đây là một tiểu thuyết ngắn
Ng
Ngườ
ườii đẹ
đẹp
ngủ
mà người phương Tây rất thích, coi đó là hiện tượng kì lạ của văn học Nhật Bản. Câu
chuyện kể về Eguchi, một người đã sáu mươi bảy tuổi nhưng vẫn luôn khao khát đi tìm
cái đẹp. Eguchi không chỉ đơn thuần tìm kiếm cái đẹp của những cô gái ngủ say nơi
khách điếm mà sâu xa hơn là vẻ đẹp của tuổi trẻ. Cái đẹp của tuổi xuân, sức trẻ mới chính
là cái đẹp mà Eguchi mong muốn nhất.
18


Tác phẩm là câu chuyện về ông già Eguchi - nhân vật chính của tác phẩm, đến
những ngôi nhà có những cô gái ngủ mê theo lời giới thiệu của một người bạn thân, mặc
dù ông nhận thấy bản thân chưa rơi vào tình trạng suy nhược như những lão già bạn ông.
Eguchi đến ngôi nhà có những người đẹp ngủ mê không phải vì những ham muốn nhục

CH”
TIỂ
ẾT XỨ TUY
ẾT, NG
ÀN CÁNH HẠC, NG
ƯỜ
P NG
Ủ MÊ
THUY
THUYẾ
TUYẾ
NGÀ
NGƯỜ
ƯỜII ĐẸ
ĐẸP
NGỦ
CỦA KAWABATA YASUNARI
ách

2.1. Ch
Châân dung nh
nhâân vật “lữ kh
khá
ch”
Xứ tuy
Nhân vật “lữ khách” xuất hiện xuyên suốt các tác phẩm được khảo sát (X
tuyếết,
àn cánh hạc và Ng
ườ
p ng

nóng bức của mùa hè” [11;tr.239]. Đáng lẽ ở cái tuổi ấy, người ta đã dành thời gian cho
gia đình thì đằng này, Shimamura vẫn rời xa gia đình của mình, rời xa cuộc sống thành thị
để đến với xứ tuyết, không chỉ một lần mà là đến ba lần, để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của tự
nhiên, vẻ đẹp của những người con gái để lại ấn tượng nơi anh. Nói về “lữ khách” Kikuji
trong Ng
Ngààn cánh hạc, là một thanh niên khoảng hai mươi lăm tuổi: “bà Ota năm nay
khoảng bốn mươi lăm tuổi, tính ra bà hơn Kikuji đến hai mươi tuổi” [11;tr.526], tuổi của
20


Kikuji được tính gián tiếp qua tuổi của bà Ota và là đặc điểm duy nhất. Kikuji sống độc
thân, hằng ngày đều đặn đến sở làm rồi trở về nhà. Cái tuổi hai mươi lăm nếu đem so
sánh với cuộc sống của chàng thì thật sự có vẻ nhàm chán. Nhưng không ai biết được bên
trong chàng thanh niên độc thân lại là một tâm hồn nhạy cảm trước vẻ đẹp. Là một người
con được sinh ra trong một gia đình trà đạo truyền thống nhưng trong lòng Kikuji luôn
rắp tâm tổ chức một buổi trà để từ giã trà đạo. Tuy nhiên, Kikuji luôn bị cuốn hút bởi vẻ
ườ
p ng
ủ mê là nhân vật
đẹp của những vật dụng uống trà. Ông lão Eguchi trong Ng
Ngườ
ườii đẹ
đẹp
ngủ
“lữ khách” trong số ba tác phẩm được nhà văn đề cập đến tuổi tác một cách chính xác:
“sáu mươi bảy năm ở đời, đã từng trải qua những đêm khó chịu, bực tức với đàn bà”
[10;tr.11] và là một người “chưa phải là sức tàn lực cận”. Và như một đặc điểm chung
của nhân vật “lữ khách”, Eguchi tìm đến ngôi nhà bí mật nhằm tìm kiếm lại vẻ đẹp của
tuổi trẻ đã đi qua.
Bên cạnh đặc điểm không giới hạn về tuổi tác, “lữ khách” trong các tác phẩm được

Đây là nghệ thuật xây dựng “nhân vật không trọn vẹn” của Kawabata. Có thể nói “nhân
vật không trọn vẹn” là sản phẩm của nguyên lí thẩm mĩ của người Nhật Bản: nguyên lí
yugen, tức là vẻ đẹp của điều nói lấp lửng – cái đẹp nằm ở chiều sâu của sự vật chứ không
21


muốn bộc lộ ra bên ngoài. Ngoài ra, kiểu “nhân vật không trọn vẹn” làm cho người “lữ
khách” luôn có sự trống trãi, cô đơn trong tâm hồn. Đó là vẻ đẹp mà con người không dễ
dàng nắm bắt được.
Dễ nhận thấy con người như vậy ở nhân vật Shimamura. Là một con người tài tử
và nhàn rỗi, vì thế không ngạc nhiên khi trong cuộc sống, người đàn ông này lại đam mê
nhiều thứ. Trong nghệ thuật, anh say mê với nghệ thuật biên đạo múa “Nói cho cùng,
cũng chính với cái cảm giác phi thực ấy mà Shimamura say mê nghệ thuật biên đạo múa
phương Tây” [11;tr.240], thời còn là sinh viên, anh cũng đã từng say mê nghệ thuật Nhật
Bản “Thời sinh viên, anh đặc biệt say mê môn vũ đạo và kịch câm” [11tr.240]. Tuy nhiên,
khi nhận thấy được hiện trạng của các môn nghệ thuật ấy: “Chỉ ít lâu sau, anh đã cảm
thấy đôi chút đắng cay về sự suy tàn của một hệ thống quá già cỗi nên trở thành cũ kỹ
nhưng anh cũng không thể đồng ý với các mưu toan không thể chấp nhận của những nhà
cách tân giả hiệu, mà các sáng kiến của họ chỉ cốt để chiều lòng người xem” [11;tr.240].
Đó là lí do anh nhanh chóng chuyển cảm hứng của mình sang nghệ thuật balê. Rõ ràng,
anh chẳng những không phải là một người nông nổi, hay dễ thay đổi mà trái lại, là một
con người với những suy nghĩ sâu sắc “không quá căn cứ vào bề ngoài, anh thường đoán
được thực chất sâu kín không phải bao giờ cũng dễ thấy” [11;tr.243]. Bản thân nhân vật
Shimamura cũng có những suy nhgĩ, trăn trở về những người phụ nữ mà anh tiếp xúc mà
tiêu biểu là Komako và Yôko. Với nhân vật Shimamura, Komako là cô gái tốt bụng, sống
một cuộc sống giản đơn và luôn hết mình trong tình yêu, cô luôn luôn là một con người
giàu nghị lực “sự kiên trì của cô dù sao cũng có một nét gì đó tinh khiết. Và cả toàn bộ
cuộc đời của cô nữa, nhờ vậy cũng được rọi sáng” [11;tr.258]. Tuy nhiên, nhiều lúc nhân
vật Shimamura cũng băn khoăn về bản chất thật sự của Komako bởi những thái độ của
chính bản thân cô. Cho rằng Shimamura lừa dối mình khi anh đã biết mối quan hệ giữa cô

sống động của những ngọn núi xa xôi đầy tuyết phủ” [11;tr.290] hay “một tiếng cười
không hề thô tháp vô lối, mà nó lặng dừng sau khi đã gõ vào cánh cửa trái tim chàng”
[11;tr.384]. Chính nhờ những phân tích sâu sắc mà người đọc có thể thấy được vẻ thánh
thiện nơi Komako và nhìn ra được vẻ đẹp tương phản giữa Komako và Yôko.
Nói về tác phẩm Ng
Ngààn cánh hạc, tác phẩm có khá đông nhân vật nữ và hầu như
nhân vật nào cũng được khác họa dưới cái nhìn của nhân vật Kikuji - “lữ khách” duy nhất
trong tác phẩm. Dưới cái nhìn được soi rọi bằng một tâm hồn nhạy cảm trước cái đẹp của
Kikuji, hiện lên vẻ trái ngược của hai người phụ nữ tác động rất lớn đến cuộc đời chàng:
bà Ota - một người không thể sống mà không yêu, mang đậm nữ tính và một Chikako xấu
xí, luôn mang “nọc độc” gieo vào người khác. Bà Ota qua cái nhìn của Kikuji, trước hết là
một con người hiền hậu: “Chàng không thể nào dò ra được một chút gì gọi là hận thù
trong cung cách của bà Ota. Bà có vẻ thiết tha dịu dàng, bà đã để lộ niềm vui khôn xiết
đối với cuộc gặp gỡ bất thường này” [11;tr.515]. Khi rơi vào mối tình trầm luân với
Kukuji, thì trong mắt Kikuji, bà Ota trở nên khó hiểu: “Chàng có thể tự hỏi phải chăng
người đàn bà này là giống người. Phải chăng bà ta là một thứ tiền nhân loại, hoặc người
đàn bà cuối cùng của giống người” [11;tr.561]. Qua cái nhìn không nhất quán của Kikuji
về bà Ota cho thấy rằng Kikuji, bên cạnh là một người có nội tâm phức tạp, còn là một
người với những phân tích sâu sắc về mọi vấn đề mà chính bản thân nhân vật đang đối
mặt. Đối với Chikako, qua cách cảm nhận của Kikuji có thể thấy anh ghê tởm người phụ
nữ này. Ngay từ khi còn nhỏ, anh đã ám ảnh bởi chính Chikako: “Kikuji bị ám ảnh bởi ý
23


nghĩ là một đứa trẻ được nuôi bằng sữa từ bầu vú có cái bớt đầy những long lá như thế
kia thì có thể trở nên một quái vật” [11;tr.506] và tính cách xấu xa của Chikako ngày càng
hiện rõ hơn với những lần gặp mặt hay đối thoại với Kikuji. Lần đầu là trong buổi trà đạo
mở đầu câu chuyện, đó là sự thiếu tế nhị của Chikako trong buổi trà đạo khi dùng chính
chén trà Oribe, vật đã từng là sở hữu của bà Ota, hành động đó khiến “Kikuji chưng hửng
trước sự thiếu tế nhị của Chikako” [11;tr.517]. Lần thứ hai Chikako khiến Kikuji khó chịu

nằm mơ nhưng giấc mơ đó bây giờ đã xong chưa? Có lẽ đó không phải là một giấc mơ
đâu, Egucih tự nhủ, mà là những tiếng nói vô thức, và thói quen phản đối, chống cự mỗi
khi một lão khách ra tay quá mạnh trên thân xác nàng. Phải vậy không?” [10;tr.58].
Những câu hỏi không bao giờ được giải đáp của Eguchi thể hiện một niềm cảm thông sâu
sắc, một sự thương xót với những người đẹp ngủ mê. Sự sâu sắc, từng trải nơi Eguchi còn
thể hiện qua những suy nghĩ về những người thân trong gia đình và những người đã từng
24


đi qua đời ông. Nhìn nhận về cuộc hôn nhân của cô con gái út, Eguchi đã suy nghĩ:
“Nhưng sự đính hôn thình lình này có phải là phản ứng lại cú sốc mà cô đã chịu đựng?

Có phải trong niềm cay đắng, oán giận, thất vọng chán chường mà cô tìm đến anh chàng
thứ hai? Có phải trong sự rối loạn vì vỡ mộng với anh chàng thứ nhất mà cô để mình rơi
vào vòng tay anh chàng thứ hai?” [10;tr.65], những trăn trở của Eguchi thể hiện tình yêu
thương của ông dành cho cô con gái út cũng như sự am hiểu tâm lí tuổi trẻ, những suy
nghĩ bồng bột, những quyết định chưa chính chắn nơi những người trẻ tuổi. Ông Eguchi
cũng có những suy nghĩ nhằm phân tích bên trong sâu thẳm của người đàn bà mà ông gặp
ở Kobe: “Nhưng tại sao người đàn bà ấy lại chịu ăn nằm với ông, dễ dãi và buông thả?
Đó là một điều chưa bao giờ xảy ra trong suốt gần bảy mươi năm đời ông. Con người
nàng chẳng lộ ra cái gì đĩ thỏa hay phóng đãng” [10;tr.85]. Chính những suy nghĩ ấy làm
tâm hồn Eguchi trở nên sâu sắc. Là một người sâu sắc, tâm hồn ông già Eguchi không hề
bị vấn đục bởi nhục dục dù ngủ cùng những người đẹp khỏa thân trong trạng thái ngủ mê.
Tuy có những lúc ông không kiềm chế được bản thân cũng như có ý định phá vỡ những
quy định cấm nơi ngôi nhà nhưng đó chỉ là những phút đòi hỏi của một người chưa “sức
cùng lực tận” mà thôi bởi “ông không có ý để mình buông thả vào cái thứ trò chơi khỉ gió,
già nua và xấu xí vì thực sự ông chưa đến nổi lụm khụm yếu ớt như những lão già khác để
cần một cái nhà chứa kiểu này” [10;tr.39] mà ông đến ngôi nhà có người đẹp ngủ mê để
tìm cái cảm giác mà “trong suốt sáu mươi bảy năm của đời mình ông chưa hề trải qua
một đêm với đàn bà một cách trong lành như thế” [10;tr.39].

cũng cho thấy một tâm hồn nhạy cảm trước những vẻ đẹp của cuộc sống.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status