A: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn biết ngủ biết học hành là ngoan”
Lời răn dạy của Bác Hồ từ xa xưa đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Theo
Bác thì một trong những tiêu chí của đứa trẻ “ngoan” là phải biết “học hành”.
Như vậy việc “uốn cây từ thủa còn non” là rất quan trọng và cần thiết để nước
ta có một thế hệ chủ nhân tương lai đủ tài – đức.
Trong c«ng cuộc x©y dùng đổi míi đất nước, Đảng và nhà nước ta chủ
trương: “Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát
triển giáo dục – Đào tạo, phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản của
sự phát triển nhanh và bền vững” (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 – BCHTW
Đảng khóa VIII)
Những năm gần đây bậc học Mầm non dành được rất nhiều quan tâm
của Đảng và Nhà nước. Vì đây là bậc học cơ sở đÓ trẻ học lên các bậc học
cao hơn. Chất lượng giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đào tạo ở mẫu
giáo. Mỗi môn học ở Mầm non đều góp phần vào sự hình thành, phát triển
nhân cách con người lao động mới – con người có đầy đủ cả đức - trí - thể mĩ...
Ở Mầm non việc tổ chức cho trẻ làm quen với Toán có một vai trò to
lớn. Quá trình này giúp trẻ làm quen với thế giới xung quanh, nhận thức được
những thuộc tính, đặc điểm của những đồ vật xung quanh, nhờ vậy ở trẻ hình
thành biểu tượng toán học sơ đẳng như: Biểu tượng về số lượng, con số và
phép đếm, biểu tượng về kích thước, hình dạng, vị trí sắp đặt của các vật
trong không gian... Những biểu tượng này được hình thành trong quá trình trẻ
tích cực tri giác và thao tác với các đồ vật, đồ vật chơi đa dạng, nhờ vậy mà
những khả năng tìm tòi, quan sát, thói quen định hướng thế giới xung quanh
1
được hình thành ở trẻ một cách đầy đủ và logic... Trẻ trở nên tích cực, độc lập,
hiệu toán học và mối quan hệ toán học có trong các sự vật, hiện tượng xung
quanh trẻ như: hai que tính dài bằng nhau, số lá ít hơn số quả.
Mặt khác trong môn phương pháp toán ở Mầm non chủ yếu là làm quen
với các biểu tượng. Trong đó biểu tượng về tập hợp, số và phép đếm đi theo
trẻ trong suốt quá trình làm quen với toán và học các môn học khác. Phương
pháp này giúp trẻ hiểu và diễn đạt các từ: một, nhiều, ít, biết đếm, biết thêm
bớt, chia, nhóm,... Đó là những kỹ năng cơ bản quan trọng để trẻ học tốt môn
toán sau này.
Có thể nói đây là một trong những phương pháp quan trọng, xuất hiện
xuyên suốt quá trình về tập hợp, số và phép đếm một cách nhanh nhất, áp
dụng được chúng vào học các dạng toán khác và các môn học khác. Đây vẫn
là điều băn khoăn trăn trở của tôi trong quá trình học tập, phấn đấu và rèn
luyện để trở thành một người giáo viên giỏi trong tương lai.
Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trên, để góp phần nâng cao chất
lượng và hiệu quả của việc dạy môn phương pháp Toán, tôi xin mạnh dạn
chọn đề tài nghiên cứu “Dạy học hình thành biểu tượng về tập hợp, số và
phép đếm cho trẻ mầm non ” mong đóng góp một số ý kiến của bản thân.
2. Mục đích nghiên cứu
Qua thực tiễn, dự giờ rút ra một số sai lầm thường gặp trong khi hình thành
biểu tượng về tập hợp, số và phép đếm cho trẻ mầm non từ đó đưa ra những
phương hướng đúng, biện pháp khắc phục cần thiết.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phương pháp hình thành biểu tượng toán học của giáo viên và sự tiếp thu
của trẻ mầm non trong cách dạy học hình thành biểu tượng về tập hợp, số và
phép đếm.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu cớ sở lý luận của việc dạy Toán.
3
thống nhất và trọn vẹn, tuy nhiên trẻ chưa hình dung rõ tất cả các phần tử của
tập hợp. Việc so sánh số lượng giữa các nhóm vật ở trẻ bắt đầu nảy sinh. Trẻ
phân biệt số lượng nhiều, ít giữa các nhóm vật dựa vào cảm tính, trực quan là
chủ yếu. Vì vậy việc nhận biết và so sánh số nhiều ở trẻ còn bị ảnh hưởng bởi
sự tác động của một số yếu tố bên ngoài: Kích thước, màu sắc, sự phân bố
trong không gian. Đến khi bắt đầu nhận biết giới hạn của số nhiều thì trẻ lại
nảy sinh nhu cầu lựa chọn “số nhiều” theo các dấu hiệu bên ngoài: Màu sắc,
kích thước, hình dạng.
Ví dụ: Cô giáo đưa cho trẻ một rổ gồm các hình và yêu cầu trẻ phân loại
thì trẻ sẽ phân loại các hình đó theo màu sắc: Xanh, đỏ, tím, vàng...Trẻ cứ xếp
và không quan tâm xem đó là hình gì?
Có nhiều cách để thu nhận số nhiều một cách thuận lợi như:
Cách 1: Sắp xếp các tập hợp dưới dạng hình mẫu khép kín: Hình vuông,
hình tròn, hình tam giác...Nhưng cách này sẽ gặp khó khăn khi phân biệt các
phần tử.
Cách 2: Các tập hợp được xếp thành hàng ngang, hàng dọc. Cách này tạo
điều kiện tốt cho trẻ khi nhận biết về số lượng và thấy rõ được từng phần tử
của tập hợp. Ngoài ra khi trẻ cần so sánh thì cách bố trí này cùng với biện
pháp xếp chồng hay xếp kề mỗi phần tử của tập hợp này với mỗi phần tử của
tập hợp kia đã giúp trẻ thấy được sự bằng nhau, không bằng nhau, nhiều hơn,
ít hơn, biết được phần tử nào thừa ra, phần tử nào thiếu trong mỗi tập hợp.
5
Để chỉ mối quan hệ về số lượng giữa hai tập hợp trẻ đã biết dùng các từ:
Bằng nhau, nhiều hơn, ít hơn,...MÆc dù không sử dụng số từ và trẻ không biết
đếm. Trẻ chưa biết đếm song đến khi lập tập hợp trẻ đã biết dùng các từ
“nµy”, “nữa” gắn với mỗi động tác, mỗi vật. Khi đếm đéng tác tay chưa thành
thạo trẻ thường xếp bằng 2 tay, xếp từ giữa ra. Với tập hợp xếp theo hình mẫu
Cách 2: Ghép lần lượt từng đối tượng của nhóm 1 với từng đối tượng của
nhóm 2 cho đến hÕt.
Trong 2 cách ghép ta có thể sử dụng một trong hai biện pháp xếp chồng
và xếp kề.
Biện pháp xếp kề:
Biện pháp này giúp trẻ liên hệ được phần tử của tập hợp này với phần tử
của tập hợp kia. Yêu cầu trẻ phải tự phân biệt được từng phần tử của tập hợp
và chú ý khoảng cách để trống giữa các phần tử của nhóm.
Biện pháp xếp chồng:
Dạy trẻ biết đâu là tay trái, tay phải.
Dạy trẻ xếp các đối tượng của nhóm 1 thành hàng ngang hướng từ trái
sang phải.
Dạy trẻ xếp lên trên mỗi đối tượng của nhóm 1 một đối tượng của nhóm 2.
Khi xếp xong cho trẻ kiểm tra lại xem các phần tử đã được đặt chồng
khít lên nhau chưa. Cả 2 nhóm kh«ng có phần tử nào thừa ra và ưu điểm của
biện pháp này là: Trẻ kiểm tra được chính xác sự bằng nhau hay không bằng
nhau của 2 tập hợp.
Ví dụ: Bài tập hãy xếp kề xuống phía dưới mỗi chú thỏ 1 củ cà rốt.
Cách tiến hành như sau: Xếp tất cả những chú thỏ ra (tõ trái sang phải)
thành hàng ngang. Xếp kề xuống dưới mỗi chú thỏ là 1 củ cà rốt. Rồi cho trẻ
kiểm tra lại bằng biện pháp xếp chồng: Xếp tất cả những chú thỏ ra theo
hướng từ trái sang phải. Xếp lên trên những chú thỏ là 1 củ cà rốt. Xem cà rốt
7
đã chồng khít lên thỏ chưa, có phần nào dư ra không? Rồi sử dụng từ “bao
nhiêu, bấy nhiêu” để diễn đạt khi cho trẻ thực hiện bài tập.
vật, trẻ nhận biết và gọi tên đồ vật. Giáo viên sử dụng các câu hỏi: Cái gì đây?
màu gì? hình dạng gì?...
Cô thÓ như sau:
Phát cho mỗi trẻ một rổ gồm các hình với màu sắc và kích thước khác
nhau vµ cho trẻ quan sát rồi hỏi trẻ những câu hỏi như :
Hoạt động của cô
Dự kiến hoạt động của trẻ
Trong rổ có những hình gì?
Tam giác, tròn.
Có những màu gì?
Vàng, đỏ.
Độ lớn của hình thế nào?
Hình to, hình nhỏ.
Hãy nhặt tất cả hình tam giác bỏ ra Trẻ làm:
ngoài.
Trẻ tạo được hai nhóm, hình tam giác
ở ngoài và nhóm hình tròn ở trong rổ.
Chọn tất cả những hình màu vàng và Trẻ tạo được hai nhóm theo màu sắc.
màu đỏ riêng ra.
Nhặt tất cả những hình to và hình nhỏ Trẻ tạo được hai nhóm hình theo kích
riêng ra.
thước.
Trong khi trẻ thực hiện các yêu cầu của cô, cô cần hướng trẻ nhặt hết, chọn
hết, chọn tất cả, nhặt tất cả.Và trẻ dùng các từ đó khi nhận xét nhóm vật cháu
vừa tạo ra như: Cháu chọn tất cả các hình tam giác to.
Trong những tiết đầu giáo viên cho trẻ tạo nhóm đồ vật thường là đồng
nhất về màu sắc, hình dạng, chủng loại. Tiết sau có thể phức tạp dần lên và
trong các tiết luyện tập giáo viên cần cho trẻ thấy có thể tạo lên một tập hợp
bất kì từ các vật riêng rẽ đồng thời cho trẻ thấy tập hợp không phải là thể
thống nhất, trọn vẹn mà có thể gồm nhiều phần mỗi phần có thể khác nhau về
gian. Các bài tập cần được phức tạp dần, ví dụ: Mang cho cô một cái bút bi,
và nhiều bút chì, hay mang cho cô nhiều đồ chơi giống nhau. Khi trẻ mang
đến cô hỏi đó là cái gì? Suy ra trẻ phát triển ngôn ngữ và nói đúng cú pháp
(trẻ sẽ tìm được một tập hợp bất kỳ theo dấu hiệu nào đó cho trước).
10
Bước 2: Dạy trẻ tìm một và nhiều vật trong hoàn cảnh tạo sẵn. Trước
tiên giáo viên đặt các nhóm đồ vật trong tầm nhìn của trẻ để trẻ dễ dàng nhìn
thấy. Rồi đặt chúng ở các vị trí khác nhau trong lớp học ®Ó trẻ dễ dàng tìm
kiếm. Cô hướng sự chú ý của trẻ tới các khu vực khác nhau, ví dụ: Ở góc
phân vai cháu thấy cái gì có một? Cái gì có nhiều? Để trẻ trả lời được cô có
thể sử dụng các nhóm đồ chơi có cả dấu hiệu chung và dấu hiệu riêng – trẻ có
thể trả lời như sau: Góc phân vai có nhiều bát, nhiều đĩa, nhiều nồi, có 1 bếp
ga, 1 quả mít…(Bát nhiều màu, đĩa nhiều màu, khác nhau). Khi thực hiện
xong bài tập trẻ cần nói dấu hiệu chung của cả nhóm vật cũng như dấu hiệu
riêng của một số nhóm vật, ví dụ: Dấu hiệu chung là đều có nhiều...
Bước 3: Dạy trẻ tìm các nhóm vật có số lượng là một và nhiều trong
hoàn cảnh tự nhiên.
Các cháu cùng tìm trong lớp học, ngoài lớp học có cái gì nhiều, cái gì có một.
3.1.2.Dạy trẻ các biện pháp so sánh số lượng các nhóm đối tượng bằng cách
xếp tương ứng 1-1
Để dạy trẻ so sánh được giáo viên cần đảm bảo những nhiệm vụ sau:
Dạy trẻ phân biệt tay phải, tay trái, chiều chuyển động từ trái sang
phải.
Dạy trẻ xếp các vật bằng tay phải.
Dạy trẻ xếp mỗi vật của nhóm này chồng lên (hay cạnh) một vật của
nhóm khác.
Dạy trẻ nhận xét và diễn đạt bằng lời nói mối quan hÖ số lượng giữa
Một số chú ý khi dạy trẻ là:
Đồ dùng dạy trẻ ghép đôi phải có ý nghĩa thực tế.
Không xếp từ giữa sang, phải xếp từ trái sang phải.
Xếp kề phải lưu ý vị trí, độ lớn, khoảng cách giữa các đối tượng để
không xếp ra ngoài giới hạn hoặc xếp vào khoảng trống giữa 2 đối tượng.
12
Đối tượng của nhóm 2 có thể nhiều hơn hoặc ít hơn đối tượng của
nhãm 1 và dạy trẻ biết kiểm tra kết quả khi xếp kề bằng biện pháp xếp chồng.
3.1.3. Dạy trẻ nhận biết sự khác biệt rõ nét về số lượng các đối tượng giữa 2
nhóm đồ vật
Trẻ chưa có khả năng đếm cho nên việc dạy trẻ nhận biết sự khác biệt về số
lượng giữa 2 nhóm đồ vật chủ yếu dựa vào trực giác. Bởi vậy nên sự khác biệt
về số lượng giữa 2 nhóm phải thật rõ nét và sự chênh lệch về kích thước
không quá nhiều. Cô tổ chức một hoạt động thực tiễn nào đó sao cho kết quả
của hoạt động có được là do sự khác biệt về số lượng giữa 2 nhóm đồ vật. Cô
dạy trẻ biết nhóm nào nhiều hơn, nhóm nào ít hơn. Ví dụ cô cho trẻ chơi trò
chơi đưa con vật về chuồng? Đội 1 gồm 3 người đội 2 gồm 5 người, đội 2 lúc
nào cũng thắng đội 1. Trẻ biết đội 2 thắng đội 1 là do đội 2 nhiều người hơn
đội 1. Sau khi trẻ biÕt được nhóm nào nhiều hơn, nhóm nào ít hơn qua hoạt
động thực tiễn rồi cô kiểm tra lại bằng cách so sách số lượng hai nhóm bằng
biện pháp xếp tương ứng 1:1 để trẻ nhìn thấy kết quả cụ thể tuy nhiên chỉ cô
làm và không bắt buộc phải dạy trẻ kỹ năng này và không bắt trẻ giải thích
kết quả. Sau khi xếp tương ứng 1:1 xong, cô cần chỉ cho trẻ thấy phần thừa
của nhóm nhiều hơn hoặc phần còn thiếu của nhóm ít hơn. Từ đó trẻ hiểu từ
(nhiÒu hơn) – (ít hơn)
Ví dụ: Khi kiểm tra đội 1 và đội 2 cô cho xếp tương ứng 1 bạn của đội 1
với một bạn của đội 2.
bao nhiêu tiếng thì cháu lấy bấy nhiêu đồ chơi.
Để rổ hình ra phía sau con và dùng tay sờ đồ vật không nhìn vào rổ và
lấy cho cô một hình tam giác .
14
Để thực hiện các bài tập này, trẻ phải tích cực sử dụng các giác quan
khác nhau như: Thính giác, thị giác, xúc giác...Từ đó góp phần giúp trẻ phát
triển độ nhạy của các giác quan này.
Có thể cho trẻ làm thêm các bài tập khó hơn: Xem có bao nhiêu chú thỏ
thì mang bấy nhiêu cñ cà rốt, nhìn xem trong rổ có bao nhiêu quả cam thì gõ
bấy nhiêu tiếng.
Ngoài các bài tập tri giác, các tập hợp bằng các giác quan khác, giáo viên
cần cho trẻ luyện tập so sánh số lượng các tập hợp có tính chất khác nhau. Ví
dụ: So sánh số lượng bóng bay của con với tiếng vỗ tay của cô. So sánh lần
tung bóng của cô với số hoa ở trên bàn. Qua các bài tập như vậy đã tạo nên sự
phối hợp các giác quan khác nhau ở trẻ: Mắt trẻ nhìn, tay đặt và tai nghe,...Cô
giáo giúp trẻ luyện tập phân tích chính xác từng phần tử của tập hợp để thiết
lập tương ứng 1:1 giữa một âm thanh, động tác với 1 vật. Đó là cơ sở đầu tiên
để sau này chúng ta dạy trẻ tập đếm.
3.1.5 Dạy trẻ ®Õm vµ nhËn biÕt sè lîng trong ph¹m vi 5
Để giúp trẻ đếm được trên các đối tượng cụ thể thì giáo viên cần dạy trẻ
thuộc lòng tên các con số theo thứ tự. Cho nên giáo viên và phụ huynh cần
khuyến khích trẻ đọc các số theo trình tự ngay từ khi trẻ tập nói. Dạy cái này
có thể diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi trong thời gian trò chuyện hay chơi với trẻ.
Dạy trẻ thuộc lòng tên gọi các con số từ 1 đến 5 theo khả năng của trẻ. Khi
trẻ đã thuộc lòng rồi ta mới dạy trẻ đếm mẫu cho trẻ và dạy trẻ trong quá trình
đếm thì mỗi số đọc ra chỉ tương ứng với 1 vật, không được đếm lặp lại không
bỏ sót vật trong khi đếm (có thể vừa đếm vừa chỉ tay vào). VD: 1, 2, 3 tất cả
kiến thức, kỹ năng đã học để giải quyết nhiệm vụ, qua đó chúng được củng cố
và trở nên vững chắc hơn cụ thể như sau:
Hai tập hợp kh«ng bằng nhau, trẻ diễn đạt nhiều hơn vì có phần thừa ra
hoặc ít hơn vì thiếu hay không đủ. Rồi từ đây trẻ có thể thay đổi để tạo thành
mối quan hệ mới.
16
4. Đồ dùng dạy học (xem[2], tr. 49)
Đồ dùng phải đủ cho tÊt cả trẻ trong lớp và mỗi trẻ phải có 1 rổ đựng
đồ dùng của cá nhân trong lớp học.
Đồ dùng phải phù hợp với nội dung và yêu cầu bài giảng, phải được sử
dụng rộng rãi trong cả các tiết học khác.
Đồ chơi để phân nhóm phải có ít nhất là 5, đồ chơi để dạy ghép đôi
phải có ý nghĩa tực tiễn.
Chỉ nên dùng 3 màu xanh, đỏ, vàng.
Đồ dùng của cô, của cháu phải giống nhau về màu sắc, chủng loại, hình
dạng nhưng kích thước lớn hơn. Không đặt đồ dùng trên sàn nhà khi dạy trẻ.
17
Chương 2: DẠY HỌC HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ TẬP HỢP
SỐ VÀ PHÉP ĐẾM TRẺ 4 - 5 TUỔI
1. Đặc điểm nhận thức
Lứa tuổi 4 - 5 tuổi những biểu tượng tập hợp của trẻ được phát triển và
mở rộng cho nên trẻ hiểu tập hợp không phải chỉ là một thể thống nhất trọn
vẹn có một dấu hiệu mà có thể gồm nhiều phần tử, mỗi phần tử có những dấu
trong phạm vi 5, sau đó míi đếm nhiều đối tượng hơn.
2. Nội dung
Dạy trẻ phân loại theo 1-2 dấu hiệu cho trước, dạy trẻ tìm và tạo thành
nhóm các đối tượng theo đặc điểm, dấu hiệu nào đó: Kích thước, hình dạng,
màu sắc,...
Dạy trẻ so sánh số lượng bằng cách ghép đôi từng cặp đối tượng giữa 2
nhóm để nhận biết sự giống và khác nhau về số lượng đối tượng giữa 2 nhóm
đồ vật. Trên cơ sở đó dạy trẻ biết diễn đạt ®óng mối quan hệ bằng nhau, nhiều
hơn, ít hơn, nhiều hay ít hơn bao nhiêu?
Dạy trẻ nhận biết các con số chỉ số lượng và các con số thứ tự trong
phạm vi 5.
Dạy trẻ lấy nhóm đồ vật theo mẫu hoặc theo số cho trước, thêm, bớt để
tạo nhóm đồ vật có số lượng bằng số đã cho.
Dạy trẻ đếm và nhận biết các số lượng các nhóm vật, các âm thanh, các
chuyển động bằng các giác quan khác nhau giúp trẻ phân biệt, so sánh và xác
định số lượng của các tập hợp có số phần tử trong phạm vi 10.
3. Phương pháp hướng dẫn
Dạy trên giờ học
Dạy trẻ so sánh số lượng các nhóm đối tượng bằng thiết lập tương ứng 1:1
Khi lên lớp 4-5 tuổi ở những buổi học đầu tiên giáo viên cần tổ chức cho
trẻ ôn lại những kiến thức, kỹ năng so sánh bằng cách ghép tương ứng 1:1.
Lúc này trẻ sử dụng cách ghép tương ứng 1:1 làm phương tiện để so sánh,
19
nhận biết mối quan hệ giữa 2 tập hợp. Do đó cô giáo cần cho trẻ luyện tập so
sánh số lượng các nhóm vật xếp theo các cách khác nhau nhằm hình thành kỹ
năng so sánh bền vững cho trẻ.
thực hiện trên các hoạt động có chủ đích cụ thể như sau:
Bước 1: Giáo viên làm mẫu kết hợp với lời hướng dẫn.
Biện pháp sử dụng gạch nối:
Ví dụ: Để so sánh số lượng hình tròn và hình tam giác trên 2 tấm bìa.
Để làm được bài này cô nối 1 hình tròn trên tấm bìa này với 1 hình tam
giác trên tấm bìa kia (hình vẽ).
Biện pháp sử dụng vật thay thế: Để so sánh số bông hoa trên 2 cây hoa
cô dùng các hình tròn. Dán 1 hình tròn tương ứng với 1 bông hoa trên cây thứ
nhất. Khi đã dán xong cô thu hình tròn lại và dán từng hình lên mỗi bông hoa
ở cây thứ 2. Nếu số hình tròn vừa đủ cho những bông hoa trên cây thứ 2 thì số
hoa trên 2 cây bằng nhau, nếu số hình tròn sau khi xếp còn thừa ra (thiếu) thì
số hoa trên 2 cây hoa không bằng nhau.
Cô có thể cho trẻ thực hành dùng bút chì hoặc phấn để nối 2 đối tượng
với nhau thành 1 cặp hay cho trẻ dùng các vật khác nhau có sẵn trong lớp để
làm vật thay thế. Sau khi trẻ biết sử dụng các biện pháp so sánh mới học, giáo
viên hướng để trẻ nói được: Số hình tròn bằng số hình tam giác hay số lượng
21
2 nhóm bằng nhau hay hình tròn nhiều hơn hình tam giác... Cô dùng các câu
hỏi gợi mở để trẻ trả lời: Vì sao con biết? Vì sao con cho là...?
Hướng dẫn trẻ giải thích mối quan hệ số lượng đó bằng lời nói: Nhóm
thỏ nhiều hơn nhóm cà rốt vì có 1 chú thỏ thừa ra...
Bước 2:
Trẻ sẽ được cô tổ chức cho thực hành luyện tập nhằm củng cố kỹ năng
so sánh bằng các biện pháp mới học. Bài tập sẽ đa dạng và phức tạp dần.
Ví dụ: Tăng dần về số lượng: Ban đầu cho trẻ so sánh số lượng các
nhóm trong phạm vi 5, sau đó là trong phạm vi 10 và có thể theo khả năng
kết quả đếm, và khi đếm phải nhớ kết quả đếm là điều rất cần thiết. Ví dụ:
Đếm số bạn nữ lên hát: 1, 2, 3, 4, 5 Cô hỏi: Có mấy bạn? Trẻ trả lời: Tất cả là
5. Cô hái: 5 bạn gì? Trẻ: Tất cả là 5 bạn nữ.
Trong hoạt động học có chủ đích, giáo viên hình thành số mới cho trẻ
bằng cách thêm 1 đối tượng vào số cũ – số liền trước số mới. Để làm được
điều đó ta cho trẻ so sánh số lượng các nhóm vật là nhóm số mới và nhóm số
cũ. Cho trẻ đọc số mới vừa lập.
Để củng cố thêm về số mới lập được cho trẻ, giáo viên tổ chức cho trẻ
đếm các nhóm đối tượng có dấu hiệu đa dạng nhưng lại là số mới và có số
lượng bằng nhau, ví dụ: 4 hình tròn, 4 bông hoa,... Trẻ sẽ hiểu được ý nghĩa
khái quát của con số chính là chỉ số cho số lượng của tất cả các nhóm vật có
cùng số lượng.
Ta cho trẻ thực hiện các bài tập đếm đa dạng như: §ếm các đối tượng
khác nhau về màu sắc, kích thước, hình dạng, các nhóm đối tượng khác
nhau,...Đếm nhóm vật được s¾p đặt theo các cách khác nhau trong không
gian...Để trẻ thấy được rằng, kết quả của phép đếm không phụ thuộc vào các
dấu hiệu khác nhau như: Màu sắc, kích thước, hình dạng, hướng đếm,...
Giáo viên còn có thể cho trẻ tạo các nhóm đối tượng theo mẫu cho trước:
Hãy lấy số thìa bằng số cốc.
23
Trên bảng cô có bao nhiêu lọ hoa thì mang bấy nhiêu bông hoa.
Hãy lấy số táo nhiều hơn số bạn mà cô đang khen.
Bài tập như thế này muốn làm được thì trẻ phải đếm số lượng nhóm đồ
vật có sẵn, rồi mới tìm hoặc tạo nhóm vật nhiều hơn, ít hơn hoặc bằng số vừa
đếm. Cuối cùng cô giáo cho trẻ sử dụng các biện pháp như: So sánh bằng
thiết lập tương ứng 1:1 hay đếm số lượng 2 nhóm, để kiểm tra kết quả.
Muốn rèn luyện cho trẻ khả năng chú ý, ghi nhớ có chủ định, khả năng
thêm, bớt, giáo viên cần cho trẻ so sánh số lượng của 2 nhóm nào ít hơn. Từ
đó trẻ có thể diễn đạt được các từ: Lớn hơn, nhỏ hơn, và trẻ hiểu mối quan hệ
thuận nghịch giữa các số liền kề thuộc dãy số tự nhiên như: 2>1 là 1; 3>2 là
1; 2