Xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học môn tự nhiên và xã hội lớp 2 - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Thế kỉ XXI - thế kỉ của công nghệ thông tin, tri thức khoa học phát
triển như vũ bão. Trước sự phát triển đó đặt ra yêu cầu cho nền giáo dục nói
chung và nhà trường phổ thông nói riêng cần phải có những thay đổi nhất
định để phù hợp với sự phát triển của thời đại, đáp ứng được mục tiêu mà nền
giáo dục đặt ra. Mục tiêu đó là đào tạo con người phát triển toàn diện, đáp
ứng được yêu cầu đòi hỏi của xã hội. Để đạt mục tiêu này các trường phổ
thông nói chung và bậc Tiểu học nói riêng đã có sự thay đổi mạnh mẽ, nội
dung ngày càng hiện đại, tính hệ thống ngày càng cao, vấn đề đưa ra ngày
càng sâu sắc, còn phương pháp dạy học ngày càng phong phú, đa dạng theo
hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh.
Trong các môn học ở Tiểu học, môn Tự nhiên và Xã hội là một môn
học có tính tích hợp cao những kiến thức của khoa học tự nhiên và khoa học
xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành những phẩm chất, năng
lực của con người. Để đáp ứng được mục tiêu của hệ thống giáo dục quốc dân
nói chung và giáo dục Tiểu học nói riêng, chương trình môn Tự nhiên và Xã
hội đã đưa ra những mục tiêu nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức
ban đầu và thiết thực về một số sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội tiêu biểu
trong môi trường sống và mối quan hệ giữa chúng trong tự nhiên, đời sống,
sản xuất; hình thành ở các em những kĩ năng như: quan sát, mô tả, thảo luận,
phân tích, so sánh, đánh giá…, đồng thời giúp các em có thể vận dụng tri thức
đã học vào thực tiễn. Trên cơ sở những mục tiêu đó đòi hỏi việc hướng dẫn
của giáo viên phải hướng tới hoạt động tự chiếm lĩnh tri thức và hình thành,
rèn luyện kĩ năng của học sinh. Học sinh phải được hoạt động, tự bộc lộ mình
và phát triển tối đa khả năng của mình thông qua hoạt động học tập. Mục tiêu
này đòi hỏi trong quá trình giảng dạy môn Tự nhiên và Xã hội, giáo viên cần

2.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và cở sở thực tiễn về tình huống có vấn đề
trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
- Thiết kế một số tình huống có vấn đề trong dạy học môn Tự nhiên và
Xã hội lớp 2.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp phân tích.

Tháng Thị Thèn

2

GVHD: Phạm Quang Tiệp


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

6. Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng các tình huống có vấn đề vào dạy học môn Tự nhiên và
Xã hội lớp 2 thì sẽ nâng cao tính tích cực của người học trong dạy học môn
Tự nhiên và Xã hội lớp 2 và góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu
học.
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội

đựng”.
Như vậy có thể hiểu tình huống là những sự kiện, vụ việc, hoàn cảnh có
chứa mâu thuẫn nảy sinh trong hành động, trong mối quan hệ giữa con người
với tự nhiên, với xã hội, giữa con người với nhau, buộc chúng ta phải giải
quyết, ứng xử kịp thời nhằm hướng những bất lợi thành có lợi làm cho hệ
thống xã hội ổn định, phát triển cao hơn và bền vững hơn.
1.1.1.1.2. Tình huống có vấn đề
Có nhiều quan niệm khác nhau về tình huống có vấn đề:
- Theo A.M. Machuskin: “Tình huống có vấn đề là một dạng đặc biệt
của sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể, được đặc trưng bởi trạng
thái tâm lí xuất hiện ở chủ thể trong khi giải quyết một bài toán. Việc giải
quyết vấn đề đó lại cần đến tri thức mới, cách thức hành động mới chưa hề
biết trước đó”.

Tháng Thị Thèn

4

GVHD: Phạm Quang Tiệp


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

- Theo I.Ia.Lecne: “Tình huống có vấn đề là một khó khăn được chủ thể
ý thức rõ ràng hay mơ hồ mà muốn khắc phục được phải tìm tòi những tri
thức mới, những phương thức hành động mới”.
- Theo giáo sư Lê Nguyên Long: “Tình huống có vấn đề là trạng thái
tâm lí của sự khó khăn về trí tuệ xuất hiện ở con người khi họ trong tình


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

- Gợi nhu cầu nhận thức: Nếu tình huống có vấn đề nhưng học sinh
không có nhu cầu tìm hiểu, giải quyết thì đó chưa phải là một tình huống có
vấn đề. Điều quan trọng là giáo viên phải gợi ý ở học sinh làm bộc lộ khiếm
khuyết về kiến thức và kĩ năng của các em để các em thấy cần phải bổ sung,
hoàn thiện kiến thức, kĩ năng bằng cách tham gia giải quyết vấn đề nảy sinh.
- Gợi niềm tin ở khả năng của bản thân: Nếu một tình huống tuy có vấn
đề và học sinh có nhu cầu giải quyết vấn đề, nhưng họ cảm thấy vấn đề vượt
quá so khả năng của mình thì học sinh cũng không sẵn sàng tham gia giải
quyết vấn đề. Tình huống cần gợi ở học sinh những cảm nghĩ là tuy các em
chưa có ngay lời giải nhưng đã có một số tri thức, kĩ năng liên quan đến vấn
đề đặt ra và nếu các em tích cực suy nghĩ thì có nhiều hi vọng giải quyết vấn
đề đó. Như vậy có được niềm tin ở khả năng huy động tri thức và kĩ năng sẵn
có để giải quyết hoặc tham gia giải quyết vấn đề. Tình huống có vấn đề là tình
huống ở đó xuất hiện một vấn đề như đã nói ở trên. Vấn đề này vừa lạ vừa
quen đối với học sinh:
+ Quen vì chưa đựng những kiến thức có liên quan mà học sinh đã
được học trước đó.
+ Lạ vì mặc dù trông quen nhưng ngay tại thời điểm đó học sinh chưa
thể giải quyết được.
1.1.1.2. Phân loại tình huống có vấn đề
Về hình thức tổ chức, tình huống có vấn đề có thể được thể hiện dưới
dạng các câu hỏi, các bài tập hoặc các tình huống trò chơi.
- Dựa vào trình độ nhận thức của học sinh và nội dung của bài học, có
thể có bốn loại tình huống sau:
+ Các tình huống có vấn đề đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến

khi có hiện tượng, vấn đề xảy ra trái ngược với suy nghĩ của học sinh, điều
này xảy ra sự xung đột trong tư duy của học sinh. Loại tình huống này tạo ra
sự bất ngờ, nghịch lí so với những gì học sinh đã hiểu (trước đó). Chính sự
bất ngờ nhiều khi tưởng chừng như vô lí này lại dễ lôi cuốn sự tò mò của học
sinh, gây hứng thú để học sinh tìm cách tiếp cận và giải quyết tình huống.
+ Tình huống lựa chọn: Tình huống đặt học sinh trước một vấn đề có
một số dấu hiệu quen thuộc liên quan đến những kiến thức mà học sinh đã
biết nhưng bản thân chưa xác định được dùng kiến thức, phương pháp nào để
giải quyết vấn đề đó. Hoặc có thể các phương án đưa ra để lựa chọn, phương
án nào cũng đúng nhưng học sinh cần tìm một phương án đúng, hợp lí nhất
trong điều kiện cụ thể của tình huống đã nêu.
- Dựa vào tính chất của tình huống có các loại sau:
+ Các tình huống có vấn đề trong thực tiễn.

Tháng Thị Thèn

7

GVHD: Phạm Quang Tiệp


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

+ Các tình huống có vấn đề từ các kiến thức đã biết bằng cách biến đổi
hay dấu đi một yếu tố nào đó.
+ Các tình huống mà việc giải quyết dẫn đến một kiến thức mới.
Cách phân loại các tình huống học tập trên chỉ là tương đối. Để tăng sự
hấp dẫn của bài học, sự mềm dẻo trong tư duy của học sinh, giáo viên nên

Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

- Có một điều chưa biết: Điều chưa biết ở đây có thể là tri thức mới
hoặc cách thức hành động mới; là điều khám phá, không phải là điều phải
tìm.
- Nhu cầu cần tìm kiếm tri thức mới, nhu cầu cần giải quyết vấn đề:
Điều này có tác dụng kích thích sự hoạt động trí tuệ của trẻ hay nói cách khác
là kích thích tính tích cực nhận thức của trẻ.
- Khả năng của học sinh trong việc hoàn thành bài làm đặt ra, trong
việc phân tích các điều kiện và phát hiện điều chưa biết, biểu hiện khả năng
trí tuệ của học sinh.
Phân tích cấu trúc tâm lí của tình huống có vấn đề, ta thấy rằng, một
tình huống có vấn đề trong dạy học phải nhằm cung cấp tri thức mới, hình
thành khái niệm cho học sinh, đảm bảo chứa đựng một mâu thuẫn giữa tri
thức cũ và tri thức mới trong đó tri thức cũ phải là cơ sở, nền tảng cho tri thức
mới, mâu thuẫn phải vừa sức và học sinh phải có nhu cầu khám phá và có khả
năng giải quyết được.
1.1.2. Một số vấn đề vấn đề môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
1.1.2.1. Mục tiêu của môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
Sau khi học xong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2, học sinh sẽ:
- Biết sơ lược về hoạt động của cơ quan vận động và cơ quan tiêu hoá ở
trong cơ thể người; phòng chống cong vẹo cột sống; giữ vệ sinh ăn uống,
phòng nhiễm giun.
- Biết về công việc của các thành viên trong gia đình, nhà trường và
một số nghề nghiệp trong xã hội, ở địa phương; giữ sạch nhà ở, trường học,
giữ an toàn khi ở nhà, ở trường và khi đi đường.
- Biết cây cối và các con vật có thể sống được ở khắp nơi: trên cạn,
dưới nước, trên không; biết quan sát bầu trời ban ngày, ban đêm; có hiểu biết

- An toàn khi ở nhà.
2. Trường học
- Các thành viên trong trường học.
- Cơ sở vật chất của trường học.
- Vệ sinh trường học.
- An toàn khi ở nhà,
3. Địa phương
- Huyện hoặc quận nơi đang sống.
- An toàn giao thông.
III. Tự nhiên
1. Thực vật và động vật

Tháng Thị Thèn

10

GVHD: Phạm Quang Tiệp


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

- Một số thực vật sống trên cạn, dưới nước.
2. Bầu trời ban ngày và ban đêm
- Mặt trời.
- Mặt trăng và các vì sao.
2) Cấu trúc nội dung
SGK môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 gồm 3 chủ đề với 35 bài ứng với 35
tiết của 35 tuần thực học, trong đó có 31 bài học mới và 4 bài ôn tập, được

11

GVHD: Phạm Quang Tiệp


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

rất sinh động giúp các em biết những việc nào nên làm và những việc nào
không nên làm. Những câu hỏi và những “lệnh” yêu cầu học sinh làm việc, tất
cả đều ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ. Điều đó đặc biệt quan trọng với
học sinh Tiểu học. Việc học của các em lúc này nhờ vào việc trực tiếp quan
sát các hình ảnh trong SGK kết hợp với sự hướng dẫn của giáo viên.
Một điểm mới là ở đầu các câu hỏi hoặc các “lệnh” trong SGK có các kí
hiệu chỉ dẫn hoạt động học tập của học sinh. Kí hiệu này được dùng trong
sách là một hình vẽ tượng trưng mang tính biểu tượng. Chúng tương ứng với
việc quan sát, liên hệ thực tế, trò chơi học tập, vẽ, thực hành, bạn cần biết.
Với cách trình bày như vậy, mỗi bài học đã thể hiện một chuỗi các trình tự
hoạt động học tập của học sinh, đồng thời gợi ý cho giáo viên xây dựng các
tình huống có vấn đề, lựa chọn các phần và hình thức tổ chức thích hợp.
1.1.2.3. Đặc điểm chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
- Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 được xây dựng theo quan
điểm tích hợp, thể hiện ở 3 điểm sau:
+ Môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 xem xét tự nhiên – con người – xã hội
trong một thể thống nhất, có mối quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau.
+ Các kiến thức trong chương trình môn Tự nhiên và Xã hội là kết quả
tích hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học: Sinh học, Vật lí, Hóa học, Địa
lí, Lịch sử, Môi trường, Dân số…
+ Học sinh lớp 2 là giai đoạn đầu của bậc Tiểu học, ở giai đoạn này tri

vốn sống, vốn hiểu biết để tham gia xây dựng bài học. Học sinh tới trường
mang theo cả vốn sống, vốn hiểu biết được hình thành từ trong cuộc sống với
gia đình, làng quê, phố phường nơi các em đang sinh sống và cả từ nguồn gốc
xã hội của mỗi em.
Các nguồn thông tin ngày càng nhiều và càng dễ tiếp nhận qua thông
tin đại chúng. Mặt khác, môn Tự nhiên và Xã hội lại là một môn học về tự
nhiên, con người và xã hội gẫn gũi bao quanh học sinh. Vì vậy dưới sự hướng
dẫn của giáo viên, học sinh hoàn toàn có khả năng tự phát hiện (khám phá)
kiến thức và áp dụng các kiến thức đó vào cuộc sống.
Do vậy, giáo viên xây dựng tình huống có vấn đề phải gẫn gũi, thiết
thực với cuộc sống hàng ngày của các em, phải đảm bảo học sinh có đủ tri
thức hay nguồn tài liệu tra cứu, gia công tìm tòi cách giải quyết.
1.1.3. Tác dụng của việc sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học môn
Tự nhiên và Xã hội lớp 2
Thế giới nội tâm của con người rất đa dạng và phong phú. Nó biến đổi
không chỉ theo đối tượng mà theo từng giai đoạn phát triển của đối tượng.

Tháng Thị Thèn

13

GVHD: Phạm Quang Tiệp


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Qua nghiên cứu tôi thấy, ở lứa tuổi bậc đầu tiểu học, học sinh có những đặc
điểm tâm lí mà việc dạy học môn Tự nhiên và Xã hội nói chung hay dạy môn


GVHD: Phạm Quang Tiệp


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

đề. Mà nét bản chất của dạy học giải quyết vấn đề không phải đặt ra những
câu hỏi mà là tạo ra những tình huống có vấn đề. Vì vậy việc xây dựng tình
huống có vấn đề có một ý nghĩa quan trọng trong dạy học nói chung và dạy
học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 nói riêng.
1.1.4. Một số quy trình xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học
Theo tiêu chí phân loại tình huống có vấn đề, dựa vào tính chất của
mâu thuẫn xuất hiện của Nguyễn Thị Diệu Phương thì quy trình xây dựng
tình huống có vấn đề gồm hai bước:
- Bước 1: Tái hiện tri thức đã có liên quan đến tình huống sắp phải giải
quyết. Tình huống nào cũng xuất phát từ nội dung trong bài học, mà nội dung
bài học luôn có quan hệ với những kiến thức đã có. Việc tái hiện, vận dụng
kiến thức đã có sẽ làm cơ sở đưa ra tình huống có vấn đề.
- Bước 2: Tìm ra cái đối lập với cái đã biết. Cần xây dựng được những
sự kiện hiện tượng mâu thuẫn với tri thức vốn có của học sinh về nội dung
đang đề cập. Kĩ thuật tạo nên mâu thuẫn có nhiều cách: Mâu thuẫn giữa kiến
thức cũ và kiến thức mới, có thể là một nghịch lí, một bất ngờ, một thực tiễn
trái với lí thuyết,… buộc học sinh phải tìm cách giải quyết vấn đề nảy sinh đó.
Thạc sỹ Phạm Thị Thu Hiền đưa ra quy trình xây dựng tình huống có
vấn đề trong dạy học gồm bốn bước:
- Bước 1: Xác định mục tiêu bài học: Các lĩnh vực phẩm chất phải đạt
của mục tiêu bài học là những kiến thức, kĩ năng, thái độ.
- Bước 2: Phân tích lôgic nội dung bài học: Toàn bộ nội dung của bài

năng, thái độ. Có thể sử dụng các từ nghi vấn chung về phẩm chất, phương
thức, nguyên nhân, kết quả, so sánh, chứng minh,… để tạo ra các tình huống
có vấn đề cụ thể.
Thạc sỹ Dương Giáng Thiên Hương đưa ra quy trình xây dựng tình
huống có vấn đề gồm bốn bước sau:
- Bước 1: Xác định mục tiêu bài dạy.
- Bước 2: Phân tích nội dung bài dạy, xây dựng mối quan hệ giữa các
nội dung kiến thức trong bài cũng như mối quan hệ giữa các nội dung đó với
các kiến thức có liên quan ở các bài học trước.
- Bước 3: Xây dựng nguồn tư liệu (tìm kiếm thông tin liên quan đến bài
học).
- Bước 4: Xác định khả năng có thể xây dựng tình huống có vấn đề và
thực hiện thành vấn đề học tập.
Như vậy mỗi tác giả đều đưa ra một quy trình xây dựng tình huống có
vấn đề. Dựa trên việc nghiên cứu cơ sở lí luận của tình huống có vấn đề ở
chương 1 và kết hợp với các quy trình xây dựng tình huống có vấn đề của một

Tháng Thị Thèn

16

GVHD: Phạm Quang Tiệp


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

số tác giả, tôi xin đề xuất quy trình xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy
học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 gồm 5 bước như sau:

GVHD: Phạm Quang Tiệp


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

+ Tiêu chí 3: Đối tượng nhận thức (nghĩa là đảm bảo tính vừa sức đối
với từng học sinh).
Như vậy, mối quan hệ để xác định tình huống có vấn đề là sự xuất hiện
mâu thuẫn (duy nhất) khi kiến thức đã có ở chủ thể về đối tượng nhận thức
không đủ thỏa mãn nhu cầu nhận thức.
Các tiêu chí nêu trên sẽ được sử dụng để kiểm tra tính đúng đắn của
tình huống có vấn đề (ở bước 5).
- Bước 4: Lựa chọn kĩ thuật tạo tình huống có vấn đề và xây dựng tình
huống có vấn đề
Theo nghiên cứu của A.M. Machuskin đã đưa ra 27 loại tình huống có
vấn đề. Tuy nhiên trong dạy học nói chung người ta sử dụng phổ biến
một số loại sau:
+ Kĩ thuật tạo tình huống có vấn đề bằng việc sử dụng nghịch lí, bất
ngờ. Tức là tạo ra sự bất ngờ, nghịch lí so với những gì học sinh đã có mà khi
mới tiếp nhận vấn đề tưởng chừng như vô lí.
+ Kĩ thuật tạo tình huống có vấn đề bằng cách tạo nhiều phương án,
biện pháp, cách thức khác nhau trên một vấn đề đưa ra mà xem ra các phương
án, biện pháp, cách thức đều có vẻ hợp lí. Từ đó buộc học sinh đứng trước sự
lựa chọn đúng nhất.
+ Kĩ thuật tạo tình huống có vấn đề dựa trên sự mâu thuẫn giữa kinh
nghiệm cá nhân và tri thức khoa học.
+ Kĩ thuật tạo tình huống có vấn đề bằng việc gây mâu thuẫn nội tại.
+ Kĩ thuật tạo tình huống có vấn đề dựa trên mối quan hệ nhân - quả.

Việc điều tra khảo sát tôi tiến hành theo các nội dung sau:
1.2.1. Hiểu biết của giáo viên về tình huống có vấn đề trong dạy học
Trước tiên tôi điều tra sự hiểu biết của giáo viên về tình huống có vấn
đề và vai trò của tình huống có vấn đề trong dạy học. Để có được kết quả
chính xác, khách quan tôi đã sử dụng phiếu điều tra kết hợp với trao đổi, trò
chuyện với giáo viên.
Nội dung phiếu điều tra: Câu 1 và câu 2 (Phụ lục)
Kết quả điều tra người nghiên cứu tổng kết bằng biểu đồ 1 và biểu đồ 2:

Tháng Thị Thèn

19

GVHD: Phạm Quang Tiệp


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

70
60
50
40
30
20
10
0
Quan niệm 1


GVHD: Phạm Quang Tiệp


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Qua biểu đồ ta thấy sự hiểu biết của giáo viên về tình huống có vấn đề
trong dạy học còn hạn chế, chưa sâu sắc. Có tới 75% số giáo viên được hỏi
hiểu biết chưa đầy đủ về tình huống có vấn đề trong dạy học. Chỉ có 25 % số
giáo viên được hỏi hiểu đúng và hiểu đầy đủ về tình huống có vấn đề trong
dạy học. Qua điều tra thì tôi thấy đa số giáo viên đã hiểu đúng về vai trò của
tình huống có vấn đề trong dạy học, chỉ có 15% giáo viên chưa hiểu đúng về
vai trò của nó.
1.2.2. Mức độ và hiệu quả việc xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy
học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
Dựa theo những kết quả ở phiếu điều tra (phần phụ lục), kết hợp với
trao đổi và trò chuyện với các giáo viên về việc xây dựng tình huống có vấn
đề trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2, tôi nhận thấy mức độ xây
dựng tình huống có vấn đề tương đối cao. Kết quả điều tra được cụ thể hoá ở
biểu đồ 3 như sau:

60
50
40
30
20
10
0
Thường xuyên Thỉnh thoảng

học tập, từ đó mà việc dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 sẽ mang lại hiệu
quả rất cao. Các giáo viên trực tiếp đứng lớp cũng nhận thấy rất rõ điều này.
Vì vậy, khi được hỏi ý kiến các thầy cô về sự cần thiết xây dựng tình huống
có vấn đề trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 thì có tới 83% số giáo
viên được hỏi cho là cần thiết và 17% cho rằng rất cần thiết. Đây cũng là điều
kiện thuận lợi để xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học ở Tiểu học nói
chung và trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 nói riêng.
1.2.3. Thuận lợi và khó khăn trong việc xây dựng tình huống có vấn đề
trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
1.2.3.1. Thuận lợi
Trong dạy học, các tình huống có vấn đề gợi cho học sinh những khó
khăn về mặt lí luận hay thực tiễn mà học sinh cảm thấy cần thiết phải vượt
qua thông qua quá trình tích cực suy nghĩ và hành động. Vì vậy nó có tác
dụng kích thích ở học sinh khả năng tìm tòi nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức
mới và phát triển khả năng tư duy của học sinh. Người học luôn học ở trạng
thái vận động, giải tỏa sức ỳ, khuyến khích người học vượt qua khó khăn, bộc
lộ được năng lực, sở trường của bản thân, tạo không khí học tập vui vẻ, dễ tìm

Tháng Thị Thèn

22

GVHD: Phạm Quang Tiệp


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

thấy “tiếng nói chung” và phát triển mối quan hệ học tập một cách nhanh

23

GVHD: Phạm Quang Tiệp


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Thực tiễn và kinh nghiệm dạy học cho thấy việc tổ chức, hướng dẫn
học sinh tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức mới có vai trò quan trọng trong quá
trình hình thành và phát triển tư duy cho học sinh. Tuy nhiên trong quá trình
tổ chức thực hiện vẫn còn gặp một số khó khăn nhất định: trình độ tư duy của
học sinh trong lớp không đồng đều, các em hay có thói quen học vẹt, ghi nhớ
máy móc, tiếp thu vấn đề một cách thụ động… .Trong khi đó, giáo viên
thường sợ mất nhiều thời gian làm ảnh hưởng đến tiết học và còn lúng túng
trong quá trình lựa chọn, xây dựng tình huống có vấn đề.

Tháng Thị Thèn

24

GVHD: Phạm Quang Tiệp


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ TÌNH HUỐNG CÓ VẤN ĐỀ TRONG DẠY

25

GVHD: Phạm Quang Tiệp


Trích đoạn Quy trình thiết kế tình huống có vấn đề trong dạy học môn Tự nhiên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status