Khóa luận tốt
nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thế kỉ XXI - thế kỉ của công nghệ thông tin, tri thức khoa học phát
triển như vũ bão. Trước sự phát triển đó đặt ra yêu cầu cho nền giáo dục nói
chung và nhà trường phổ thông nói riêng cần phải có những thay đổi nhất
định để phù hợp với sự phát triển của thời đại, đáp ứng được mục tiêu mà nền
giáo dục đặt ra. Mục tiêu đó là đào tạo con người phát triển toàn diện, đáp
ứng được yêu cầu đòi hỏi của xã hội. Để đạt mục tiêu này các trường phổ
thông nói chung và bậc Tiểu học nói riêng đã có sự thay đổi mạnh mẽ, nội
dung ngày càng hiện đại, tính hệ thống ngày càng cao, vấn đề đưa ra ngày
càng sâu sắc, còn phương pháp dạy học ngày càng phong phú, đa dạng theo
hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh.
Trong các môn học ở Tiểu học, môn Tự nhiên và Xã hội là một môn
học có tính tích hợp cao những kiến thức của khoa học tự nhiên và khoa học
xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành những phẩm chất, năng
lực của con người. Để đáp ứng được mục tiêu của hệ thống giáo dục quốc dân
nói chung và giáo dục Tiểu học nói riêng, chương trình môn Tự nhiên và Xã
hội đã đưa ra những mục tiêu nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức
ban đầu và thiết thực về một số sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội tiêu biểu
trong môi trường sống và mối quan hệ giữa chúng trong tự nhiên, đời sống,
sản xuất; hình thành ở các em những kĩ năng như: quan sát, mô tả, thảo luận,
phân tích, so sánh, đánh giá…, đồng thời giúp các em có thể vận dụng tri thức
đã học vào thực tiễn. Trên cơ sở những mục tiêu đó đòi hỏi việc hướng dẫn
của giáo viên phải hướng tới hoạt động tự chiếm lĩnh tri thức và hình thành,
rèn luyện kĩ năng của học sinh. Học sinh phải được hoạt động, tự bộc lộ mình
và phát triển tối đa khả năng của mình thông qua hoạt động học tập. Mục tiêu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và cở sở thực tiễn về tình huống có vấn đề trong
dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
- Thiết kế một số tình huống có vấn đề trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội
lớp 2.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp phân tích.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng các tình huống có vấn đề vào dạy học môn Tự nhiên và
Xã hội lớp 2 thì sẽ nâng cao tính tích cực của người học trong dạy học môn
Tự nhiên và Xã hội lớp 2 và góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu
học.
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội
dung chính của khóa luận bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng tình huống có
vấn đề trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
Chương 2: Thiết kế tình huống có vấn đề trong dạy học môn Tự nhiên
và Xã hội lớp 2.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
DẠY HỌC CÓ VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC MÔN
TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 2
1.1 . Cơ sở lí luận
Qua các khái niệm trên ta thấy rằng tình huống có vấn đề được đặc
trưng bởi một trạng thái tâm lí của chủ thể, đó là sự khó khăn về trí tuệ khi
đứng trước một vấn đề (mâu thuẫn trong nhận thức) mà họ thấy cần thiết và
có khả năng vượt qua nhưng không thể giải quyết ngay được với những kiến
thức kĩ năng có sẵn mà cần phải có tri thức mới, phương pháp hành động mới.
Như vậy tình huống có vấn đề mang tính chủ quan bên trong chủ thể nhận
thức và xuất hiện nhờ tính tích cực nghiên cứu của người học.
1.1.1.1.3. Tình huống có vấn đề trong dạy học
Vấn đề là điều cần được xem xét, nghiên cứu và giải quyết (Hoàng
Phê- Từ điển Tiếng Việt). Vấn đề chỉ có tính tương đối, ở thời điểm này nó là
vấn đề nhưng ở thời điểm khác nó không phải là vấn đề.
Bởi vậy, tình huống có vấn đề trong dạy học là những tình huống gợi
cho học sinh những khó khăn về mặt lí luận hay thực tiễn mà họ thấy cần thiết
phải vượt qua nhưng không phải ngay tức khắc nhờ một thuật giải, mà phải
qua quá trình tích cực suy nghĩ và hành động để làm biến đổi đối tượng hành
động và điều chỉnh kiến thức đã có.
Tình huống có vấn đề là tình huống thỏa mãn ba điều kiện sau:
- Tồn tại một vấn đề: Tình huống phải bộc lộ rõ mâu thuẫn giữa thực tế với
trình độ nhận thức mà vốn hiểu biết sẵn có của chủ thể chưa đủ điều kiện để
vượt qua.
- Gợi nhu cầu nhận thức: Nếu tình huống có vấn đề nhưng học sinh không
có nhu cầu tìm hiểu, giải quyết thì đó chưa phải là một tình huống có vấn
đề. Điều quan trọng là giáo viên phải gợi ý ở học sinh làm bộc lộ khiếm
khuyết về kiến thức và kĩ năng của các em để các em thấy cần phải bổ sung,
hoàn thiện kiến thức, kĩ năng bằng cách tham gia giải quyết vấn đề nảy sinh.
- Gợi niềm tin ở khả năng của bản thân: Nếu một tình huống tuy có vấn đề và
học sinh có nhu cầu giải quyết vấn đề, nhưng họ cảm thấy vấn đề vượt quá
so khả năng của mình thì học sinh cũng không sẵn sàng tham gia giải
+ Tình huống mâu thuẫn (tình huống không phù hợp): Tình huống này
xuất hiện do mâu thuẫn giữa kiến thức cũ và kiến thức mới, mâu thuẫn giữa
kiến thức thực tế và bài học mới. Học sinh đối diện với những vấn đề, hiện
tượng, quy luật trái với quan niệm thông thường hay ngược lại với những kiến
thức mình đã biết. Khi loại tình huống này xuất hiện buộc học sinh phải thắc
mắc, tò mò và muốn tìm cách giải quyết.
+ Tình huống nghịch lí (tình huống xung đột): Tình huống xuất hiện
khi có hiện tượng, vấn đề xảy ra trái ngược với suy nghĩ của học sinh, điều
này xảy ra sự xung đột trong tư duy của học sinh. Loại tình huống này tạo ra
sự bất ngờ, nghịch lí so với những gì học sinh đã hiểu (trước đó). Chính sự
bất ngờ nhiều khi tưởng chừng như vô lí này lại dễ lôi cuốn sự tò mò của học
sinh, gây hứng thú để học sinh tìm cách tiếp cận và giải quyết tình huống.
+ Tình huống lựa chọn: Tình huống đặt học sinh trước một vấn đề có
một số dấu hiệu quen thuộc liên quan đến những kiến thức mà học sinh đã
biết nhưng bản thân chưa xác định được dùng kiến thức, phương pháp nào để
giải quyết vấn đề đó. Hoặc có thể các phương án đưa ra để lựa chọn, phương
án nào cũng đúng nhưng học sinh cần tìm một phương án đúng, hợp lí nhất
trong điều kiện cụ thể của tình huống đã nêu.
- Dựa vào tính chất của tình huống có các loại sau:
+ Các tình huống có vấn đề trong thực tiễn.
+ Các tình huống có vấn đề từ các kiến thức đã biết bằng cách biến đổi
hay dấu đi một yếu tố nào đó.
+ Các tình huống mà việc giải quyết dẫn đến một kiến thức mới.
Cách phân loại các tình huống học tập trên chỉ là tương đối. Để tăng sự
hấp dẫn của bài học, sự mềm dẻo trong tư duy của học sinh, giáo viên nên
thường xuyên thay đổi kiểu tình huống một cách hợp lí.
1.1.1.3. Yêu cầu về tình huống có vấn đề trong dạy học
Khi xây dựng các tình huống có vấn đề trong dạy học, giáo viên cần
tình huống có vấn đề trong dạy học phải nhằm cung cấp tri thức mới, hình
thành khái niệm cho học sinh, đảm bảo chứa đựng một mâu thuẫn giữa tri
thức cũ và tri thức mới trong đó tri thức cũ phải là cơ sở, nền tảng cho tri thức
mới, mâu thuẫn phải vừa sức và học sinh phải có nhu cầu khám phá và có khả
năng giải quyết được.
1.1.2. Một số vấn đề vấn đề môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
1.1.2.1. Mục tiêu của môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
Sau khi học xong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2, học sinh sẽ:
- Biết sơ lược về hoạt động của cơ quan vận động và cơ quan tiêu hoá ở trong
cơ thể người; phòng chống cong vẹo cột sống; giữ vệ sinh ăn uống,
phòng nhiễm giun.
- Biết về công việc của các thành viên trong gia đình, nhà trường và một số
nghề nghiệp trong xã hội, ở địa phương; giữ sạch nhà ở, trường học, giữ an
toàn khi ở nhà, ở trường và khi đi đường.
- Biết cây cối và các con vật có thể sống được ở khắp nơi: trên cạn, dưới
nước, trên không; biết quan sát bầu trời ban ngày, ban đêm; có hiểu biết sơ
lược về hình dạng và đặc điểm của Mặt Trời, Mặt Trăng và các vì sao.
1.1.2.2. Cấu trúc nội dung chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
1) Nội dung chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp
2 Gồm 3 chủ đề:
I. Con người và sức khỏe
1. Cơ thể người
- Cơ quan vận động.
- Cơ quan tiêu hóa.
2. Vệ sinh phòng bệnh
- Vệ sinh cơ quan vận động, phòng bệnh cong vẹo cột sống.
- Vệ sinh cơ quan tiêu hóa, phòng bệnh giun.
3. Dinh dưỡng
: 13 bài
- Tự nhiên
: 12 bài
Nội dung kiến thức trong toàn bộ cuốn sách được phát triển theo nguyên
tắc từ gần đến xa, dẫn dắt học sinh mở rộng vốn hiểu biết từ bản thân đến gia
đình, trường học; từ cuộc sống xã hội xung quanh đến thiên nhiên rộng lớn; từ
những cây cối, con vật thường gặp đến Mặt trời, Mặt trăng và các vì sao.
Nội dung kiến thức trong mỗi chủ đề đều được tích hợp nội dung giáo
dục sức khỏe một cách hợp lí, đi từ sức khỏe cá nhân trong chủ đề “Con
người và sức khỏe” đến sức khỏe cộng đồng trong chủ đề “Xã hội” và sức
khỏe liên quan đến môi trường trong chủ đề “Tự nhiên”.
3) Cách trình bày cuốn sách
SGK Tự nhiên và Xã hội lớp 2 được trình bày bằng những hình ảnh minh
họa sinh động, màu sắc tươi sáng, do đó sẽ thu hút và hấp dẫn học sinh lứa
tuổi Tiểu học. Ở mỗi bìa thường bắt đầu bằng phần “Liên hệ thực tế và trả
lời”. Ở phần này SGK đưa ra những câu hỏi về những sự việc xảy ra thường
ngày của bản thân và xung quanh. Bên dưới là những hình ảnh minh họa rất
sinh động thể hiện câu hỏi và tiếp đó là phần “Bạn cần biết”. Đây chính là
phần cung cấp cho các em những hiểu biết về bản thân, về gia đình và xã hội.
Phần quan sát tranh và trả lời câu hỏi cũng đưa ra những hình ảnh minh họa
rất sinh động giúp các em biết những việc nào nên làm và những việc nào
không nên làm. Những câu hỏi và những “lệnh” yêu cầu học sinh làm việc, tất
cả đều ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ. Điều đó đặc biệt quan trọng với
học sinh Tiểu học. Việc học của các em lúc này nhờ vào việc trực tiếp quan
sát các hình ảnh trong SGK kết hợp với sự hướng dẫn của giáo viên.
Do đó khi giáo viên xây dựng các tình huống trong bài học hay trong cả
quá trình học phải từ dễ đến khó. Các tình huống khó học sinh không giải
quyết được thì giáo viên nên chia nhỏ thành các tình huống nhỏ, dễ giải quyết
hơn sau đó giúp học sinh tổng hợp, khái quát lại để giải quyết tình huống đã
cho.
- Môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 là một môn học mà học sinh có nhiều vốn
sống, vốn hiểu biết để tham gia xây dựng bài học. Học sinh tới trường
mang theo cả vốn sống, vốn hiểu biết được hình thành từ trong cuộc sống với
gia đình, làng quê, phố phường nơi các em đang sinh sống và cả từ nguồn gốc
xã hội của mỗi em.
Các nguồn thông tin ngày càng nhiều và càng dễ tiếp nhận qua thông
tin đại chúng. Mặt khác, môn Tự nhiên và Xã hội lại là một môn học về tự
nhiên, con người và xã hội gẫn gũi bao quanh học sinh. Vì vậy dưới sự hướng
dẫn của giáo viên, học sinh hoàn toàn có khả năng tự phát hiện (khám phá)
kiến thức và áp dụng các kiến thức đó vào cuộc sống.
Do vậy, giáo viên xây dựng tình huống có vấn đề phải gẫn gũi, thiết
thực với cuộc sống hàng ngày của các em, phải đảm bảo học sinh có đủ tri
thức hay nguồn tài liệu tra cứu, gia công tìm tòi cách giải quyết.
1.1.3. Tác dụng của việc sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học môn Tự
nhiên và Xã hội lớp 2
Thế giới nội tâm của con người rất đa dạng và phong phú. Nó biến đổi
không chỉ theo đối tượng mà theo từng giai đoạn phát triển của đối tượng.
Qua nghiên cứu tôi thấy, ở lứa tuổi bậc đầu tiểu học, học sinh có những đặc
điểm tâm lí mà việc dạy học môn Tự nhiên và Xã hội nói chung hay dạy môn
Tự nhiên và Xã hội lớp 2 nói riêng cần thiết phải sử dụng tình huống có vấn
đề.
Học sinh ở lứa tuổi tiểu học nhân cách đang dần hình thành. Lứa tuổi
đầu cấp học sinh có những biến đổi không ngừng trong đời sống tinh thần,
mâu thuẫn xuất hiện của Nguyễn Thị Diệu Phương thì quy trình xây dựng
tình huống có vấn đề gồm hai bước:
- Bước 1: Tái hiện tri thức đã có liên quan đến tình huống sắp phải giải quyết.
Tình huống nào cũng xuất phát từ nội dung trong bài học, mà nội dung bài
học luôn có quan hệ với những kiến thức đã có. Việc tái hiện, vận dụng
kiến thức đã có sẽ làm cơ sở đưa ra tình huống có vấn đề.
- Bước 2: Tìm ra cái đối lập với cái đã biết. Cần xây dựng được những sự kiện
hiện tượng mâu thuẫn với tri thức vốn có của học sinh về nội dung đang đề
cập. Kĩ thuật tạo nên mâu thuẫn có nhiều cách: Mâu thuẫn giữa kiến thức cũ
và kiến thức mới, có thể là một nghịch lí, một bất ngờ, một thực tiễn trái với
lí thuyết,… buộc học sinh phải tìm cách giải quyết vấn đề nảy sinh đó.
Thạc sỹ Phạm Thị Thu Hiền đưa ra quy trình xây dựng tình huống có
vấn đề trong dạy học gồm bốn bước:
- Bước 1: Xác định mục tiêu bài học: Các lĩnh vực phẩm chất phải đạt của
mục tiêu bài học là những kiến thức, kĩ năng, thái độ.
- Bước 2: Phân tích lôgic nội dung bài học: Toàn bộ nội dung của bài học đều
có mối quan hệ lôgic với nhau. Nếu như mối liên hệ này bị vi phạm thì việc
tiếp thu tri thức gặp rất nhiều khó khăn, vì muốn nghiên cứu một nội dung
mới cần gắn liền cái chưa biết với cái đã biết.
- Bước 3: Xác định nội dung kiến thức có thể mã hóa thành tình huống có vấn
đề: Những đơn vị kiến thức trong SGK được viết một cách cô đọng, kiểu
thuyết trình theo lôgic tường minh khoa học nhất định của môn học. Bởi
vậy, có xác định được lôgic vận động của nội dung cơ bản, trọng tâm của bài
học thì mới có thể xây dựng được tình huống có vấn đề giúp học sinh lĩnh hội
được những kiến thức đầy đủ, chính xác, có hệ thống. Nghĩa là tình huống có
vấn đề phải có tác dụng tổ chức, hướng dẫn học sinh trong quá trình tìm lời
giải, làm bộc lộ lôgic bên trong của hoạt động nhận thức. Khi ấy tình huống
có vấn đề trở thành phương tiện truyền tải nội dung tri thức SGK cho học
duy khác nhau, để mỗi học sinh đều được làm việc với sự nỗ lực trí tuệ nhưng
vừa sức.
- Bước 2: Phân tích lôgic cấu trúc nội dung bài học
Tri thức của mỗi môn học đều có quan hệ nội môn, liên môn gắn bó
chặt chẽ. Nếu như mối liên hệ này không được khai thác, thì việc khơi dậy
động cơ hứng thú tìm tòi cho học sinh sẽ rất khó khăn, nghĩa là khó làm học
sinh ý thức được tình huống có vấn đề.
Giáo viên phân tích lôgic nội dung bài học để xác định cụ thể mối liên
hệ giữa vốn tri thức, kĩ năng của học sinh với tri thức kĩ năng mới cần hình
thành. Đồng thời, giúp giáo viên xác định các nội dung có thể tạo tình huống
có vấn đề (ở bước 3) và vận dụng các kĩ thuật tạo tình huống có vấn đề đối
với nội dung đó (ở bước 4).
- Bước 3: Xác định các nội dung có thể tạo tình huống có vấn đề
Không phải mọi bài học trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 đều tồn
tại vấn đề và không phải nội dung nào cũng có thể tạo được tình huống có vấn
đề. Giáo viên cần biết được nội dung có thể tạo tình huống có vấn đề được
xác định bởi 3 tiêu chí sau:
+ Tiêu chí 1: Kiến thức đã có ở chủ thể (nghĩa là có “tồn tại vấn đề” đối
với học sinh, trong đó điều chưa biết phải mới và mang tính khái quát).
+ Tiêu chí 2: Nhu cầu nhận thức (mâu thuẫn trong tình huống có vấn đề
làm nảy sinh nhu cầu nhận thức cho học sinh).
+ Tiêu chí 3: Đối tượng nhận thức (nghĩa là đảm bảo tính vừa sức đối
với từng học sinh).
Như vậy, mối quan hệ để xác định tình huống có vấn đề là sự xuất hiện
mâu thuẫn (duy nhất) khi kiến thức đã có ở chủ thể về đối tượng nhận thức
không đủ thỏa mãn nhu cầu nhận thức.
Các tiêu chí nêu trên sẽ được sử dụng để kiểm tra tính đúng đắn của
tình huống có vấn đề (ở bước 5).
trường tiểu học địa bàn thị xã Phúc Yên:
1. Trường Tiểu học Xuân Hoà – Phúc Yên – Vĩnh Phúc.
2. Trường Tiểu học Lưu Quý An – Phúc Yên – Vĩnh Phúc.
3. Trường Tiểu học Trưng Nhị - Phúc Yên – Vĩnh Phúc.
Điều tra được tiến hành ở các trường tiểu học với điều kiện dạy học
khác nhau để khảo sát, đánh giá của đề tài mang tính khái quát, tổng hợp hơn.
Việc điều tra khảo sát tôi tiến hành theo các nội dung sau:
1.2.1. Hiểu biết của giáo viên về tình huống có vấn đề trong dạy học
Trước tiên tôi điều tra sự hiểu biết của giáo viên về tình huống có vấn
đề và vai trò của tình huống có vấn đề trong dạy học. Để có được kết quả
chính xác, khách quan tôi đã sử dụng phiếu điều tra kết hợp với trao đổi, trò
chuyện với giáo viên.
Nội dung phiếu điều tra: Câu 1 và câu 2 (Phụ lục)
Kết quả điều tra người nghiên cứu tổng kết bằng biểu đồ 1 và biểu đồ 2:
70
60
50
40
30
20
10
0
Quan niệm 1
Quan niệm 2
Quan niệm 3
1.2.2. Mức độ và hiệu quả việc xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học
môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
Dựa theo những kết quả ở phiếu điều tra (phần phụ lục), kết hợp với
trao đổi và trò chuyện với các giáo viên về việc xây dựng tình huống có vấn
đề trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2, tôi nhận thấy mức độ xây
dựng tình huống có vấn đề tương đối cao. Kết quả điều tra được cụ thể hoá ở
biểu đồ 3 như sau:
60
50
40
30
20
10
0
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Hiếm khi
Chưa bao giờ
Biểu đồ 3: Mức độ xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học môn tự
nhiên và Xã hội lớp 2.
Qua biểu đồ 3 ta thấy được mức độ xây dựng tình huống có vấn đề
trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 tương đối cao. Có tới 60% giáo
viên cho biết là thường xuyên xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học
thái vận động, sử dụng mọi giác quan, điều này sẽ giúp các em không chỉ lĩnh
hội được nhiều thông tin tri thức, kĩ năng mà con giúp các em phát triển về
thể chất. Đây chính là mục đích luôn tiến tới của giáo dục tiểu học: giúp học
sinh phát triển một cách toàn diện.
Trong điều kiện hiện nay khi nền kinh tế ngày càng phát triển, sự tiến
bộ vượt bậc của khoa học kĩ thuật, sự bùng nổ thông tin…thì khả năng nhận
thức, tìm tòi nghiên cứu của học sinh ngày càng phát triển. Điều này tạo điều
kiện thuận lợi cho việc xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học ở tiểu
học nói chung và dạy học môn Tự nhiên và Xã hội nói riêng.
1.2.3.2. Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi trong việc xây dựng tình huống có vấn đề
trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 vẫn còn những khó khăn.
Để kích thích ở học sinh khả năng tìm tòi, nghiên cứu đòi hỏi giáo viên
phải lựa chọn kĩ các hoạt động học tập để xây dựng các tình huống có vấn đề.
Các tình huống có vấn đề phải đảm bảo mục tiêu bài học và đảm bảo tính vừa
sức đối với học sinh. Mặt khác, trong quá trình giải quyết các tình huống có
vấn đề nhiều khi giáo viên không thể lường trước được diễn biến của hoạt
động. Vì vậy muốn tiến hành thành công một giờ dạy đòi hỏi giáo viên phải
có một trình độ nhất định.
Khi xây dựng các tình huống có vấn đề giáo viên sẽ mất nhiều thời gian
để chuẩn bị xây dựng các tình huống có vấn đề và thời gian để chuẩn bị tổ
chức cho học sinh giải quyết các tình huống đó. Bên cạnh đó, giáo viên phải
nắm chắc được các kĩ thuật và nội dung bài học để xây dựng tình huống có
vấn đề và đảm bảo các tình huống đó phải nằm ở giới hạn trên của vùng phát
triển trí tuệ gần nhất của học sinh.
Thực tiễn và kinh nghiệm dạy học cho thấy việc tổ chức, hướng dẫn
học sinh tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức mới có vai trò quan trọng trong quá
trình hình thành và phát triển tư duy cho học sinh. Tuy nhiên trong quá trình
Dạy học vừa sức nghĩa là những yêu cầu và nhiệm vụ học tập đề ra mọi
học sinh trong lớp có thể thực hiện được với sự nỗ lực cao nhất về trí tuệ và
thể lực. Nguyên tắc này đòi hỏi giáo viên khi xây dựng tình huống có vấn đề
trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 cần có sự hiểu biết sâu sắc về học sinh để