XÂY DỰNG MỘT SỐ CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN CHƯƠNG CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN TRONG TRƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ ĐẠI CƯƠNG - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA VẬT LÝ


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:

GVHD: Thầy Dương Đào Tùng
SVTH: Trần Trịnh Minh Hoà
Khoá: 2005 - 2009

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2009


LỜI CẢM ƠN
Để cuốn luận văn được hoàn thành em đã được sự giúp đỡ từ bạn bè và đặc biệt là
Thầy đã hướng dẫn và đã tận tình sửa chữa lại cho em về các câu trắc nghiệm
cũng như cách trình bày luận văn. Em xin chân thành cảm ơn Thầy cùng các bạn
đã giúp đỡ em và em cũng xin cảm ơn khoa Vật Lý trường Đại Học Sư Phạm Tp
Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để em thực hiện đề tài này. Tuy đã cố gắng nhưng
vẫn còn những sai sót mong các Thầy, Cô đọc và nhận xét để em rút kinh nghiệm.


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: Thầy Dương Đào Tùng

A. Mở đầu
I.


trong khâu ra đề thi và khâu chấm thi. Đa số các bài kiểm tra luận đề chỉ
nhằm khảo sát khả năng nhớ hay thuộc lòng những gì học sinh đã học qua các
bài giảng, sách vở. Còn đối với các kỳ thi lớn như thi tốt nghiệp trung học phổ
thông hay thi tuyển sinh đại học thì nhìn chung các đề thi cũng chưa đáp ứng
được các yêu cầu của việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh,
chưa khảo sát được tình hình học tập của họ. Hậu quả của cách kiểm tra đánh
SVTH: Trần Trịnh Minh Hoà


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: Thầy Dương Đào Tùng

giá như vậy là làm cho học sinh phải ghi nhớ kiến thức như một nghĩa vụ, học
biết đó rồi quên ngay sau đó; lý thuyết thì thuộc một cách máy móc nhưng khi
vận dụng thì gặp nhiều khó khăn, nhiều khi không vận dụng được trong thực
tế. Bên cạnh đó là sự bất cập trong khâu chấm thi. Đáp án đề thi được đưa ra
nhiều khi còn gây tranh cãi, ngay các các phương án cho điểm cũng gây tranh
cãi. Việc tổ chức chấm thi với hàng loạt bài thi theo lối luận đề rất mất thời
gian và tốn kém.
Rõ ràng việc áp dụng hình thức trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra,
đánh giá kết quả học tập nói chung ngày càng trở nên cần thiết. Với các ưu
điểm vốn có của mình, trắc nghiệm khách quan sẽ phần nào khắc phục được
những hạn chế của hình thức luận đề và giúp cho việc thi cử trở nên nhẹ
nhàng, ít tốn kém hơn. Hơn nữa nếu có thể kết hợp phương pháp trắc nghiệm
với các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập khác thì có thể đáp
ứng được các yêu cầu của việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học
sinh.
Trong tương lai, theo nghề nghiệp đã chọn, em sẽ trở thành giáo viên
Vật lý thì việc tìm hiểu hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan là rất cần

để đánh giá kết quả học tập của sinh viên như môn Cơ, Điện, Quang, Vật lý
hạt nhân, Vật lý thống kê…
Một mức độ thực nghiệm cao hơn là sau khi được chính thức cho phép
triển khai phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kì thi tuyển sinh năm
2001, sau đó bộ GDĐT đã quyết định dời lại đến năm 2005 mới triển khai,
Đại Học Quốc Gia TPHCM (ĐHQG TPHCM) đã tổ chức thí điểm thi theo
phương pháp này tại An Giang, Bình Thuận và tại TPHCM. Ông Nguyễn Hội
Nghĩa, giám đốc trung tâm khảo thí ĐHQG TPCHM, đã cho biết trong số 11
môn thi đại học có 10 môn đã thực hiện xong ngân hàng câu hỏi, mỗi môn có
500 câu nhưng đó cũng chỉ là các câu hỏi thô chưa qua thử nghiệm và phân
tích. Các câu hỏi trắc nghiệm được soạn dựa trên chương trình đang áp dụng
cho các kỳ thi tuyển sinh hằng năm, bao gồm toàn bộ chương trình thi. Mỗi
câu hỏi gồm 4 đáp án chọn 1. Thời gian trung bình cho mỗi câu là 2 phút,
điểm số cho mỗi câu có giá trị ngang nhau. Tỉ lệ các câu trắc nghiệm khó, dễ
và trung bình tương ứng là 30%, 30% và 40%. Về kĩ thuật, ĐHQG TPHCM
đã biên soạn và nghiệm thu phần mềm quản lý, khai thác ngân hàng đề thi với
các chức năng chủ yếu: nhập câu hỏi trắc nghiệm, quản lý câu hỏi trắc nghiệm
với các ngôn ngữ khác nhau, bổ sung, tu chỉnh, cập nhật ngân hàng câu hỏi,
chấm bài thi, phân tích thống kê và hiển thị kết quả.
Trên đây là một số tìm hiểu về các nghiên cứu có liên quan đến đề tài,
qua sự tìm hiểu này sẽ giúp em có được sự hiểu biết sâu sắc hơn và đầy đủ
hơn về đề tài của mình, đồng thời qua đó có thể học tập các ưu điểm để bổ
sung các ý hay cho đề tài của mình cũng như rút kinh nghiệm tránh mắc phải
các sai sót.
III. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Xây dựng hệ thống 50 câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
theo các mức độ nhận thức cho phần “Các định luật bảo toàn” trong chương
trình Vật Lý đại cương và tiến hành thực nghiệm trên 91 sinh viên lớp Lý I hệ
chính quy trường Đại học Sư phạm TPHCM.
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Đại học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh.
3. Phương pháp thống kê toán học: Xử lý, thống kê và đánh giá hệ
thống câu hỏi trắc nghiệm.

VI. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN:
Luận văn được trình bày gồm 2 phần và 4 chương. Bên cạnh đó là một
số phụ lục. Cụ thể như sau:
Mở đầu (trình bày lý do chọn đề tài, tổng quan về các nghiên cứu có liên
quan đến đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài,
phương pháp nghiên cứu, cấu trúc của luận văn).
Chương I: Tổng quan về hình thức kiểm tra trắc nghiệm (trình bày
vấn đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong dạy học vật lý, các ưu điểm và
nhược điểm của hình thức kiểm tra trắc nghiệm, so sánh trắc nghiệm và luận
đề, quy trình soạn thảo một bài trắc nghiệm khác quan nhiều lựa chọn)
Chương II: Nội dung kiến thức phần Các định luật bảo toàn (trình
bày cấu trúc, đặc điểm, tóm tắt nội dung chính).
Chương III: Vận dụng qui trình soạn thảo hệ thống câu hỏi trắc
nghiệm khách quan nhiều lựa chọn phần Các định luật bảo toàn (phân
tích nội dung kiến thức và vận dụng qui trình soạn thảo hệ thống câu hỏi trắc
nghiệm khách quan nhiều lựa chọn phần Các định luật bảo toàn trong chương
trình Vật Lý đại cương.

SVTH: Trần Trịnh Minh Hoà


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: Thầy Dương Đào Tùng

Chương IV: Thực nghiệm sư phạm (trình bày quá trình thực nghiệm

tiêu chí trong một khoá học, một giai đoạn học.
- Trắc nghiệm: là một dụng cụ hay một phương thức hệ thống nhằm đo lường
thành tích của một cá nhân so với các cá nhân khác hay so với những yêu cầu,
nhiệm vụ học tập đã được dự kiến.
- Kiểm tra: là một hoạt động nhằm cung cấp những dữ kiện, những thông tin
làm cơ sở cho việc đánh giá.
- Lượng giá: là đưa ra một thông tin ước lượng về trình độ, phẩm chất của một
cá nhân, một sản phẩm. Trong dạy học, dựa vào các điểm số một học sinh đạt
được, người thầy giáo có thể ước lượng trình độ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
của học sinh đó. Số lượng giá cho ta biết trình độ tương đối của một học sinh
so với tập thể lớp, so với yêu cầu của chương trình học tập, nhưng chưa trực
tiếp nói lên thực chất trình độ của chính học sinh đó.
- Đánh giá: đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về
kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối
chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết

SVTH: Trần Trịnh Minh Hoà


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: Thầy Dương Đào Tùng

định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng, hiệu
quả công việc.
- Độ tin cậy: độ tin cậy của một dụng cụ đo là khái niệm cho biết mức độ ổn
định, vững chãi của các kết quả đo được khi tiến hành đo vật thể đó nhiều lần.
Một đề kiểm tra được coi là có độ tin cậy nếu kết quả làm bài phản ánh đúng
trình độ người học và đúng mục đích đánh giá.
- Độ giá trị: độ giá trị của một dụng cụ đo là một khái niệm chỉ ra rằng dụng


SVTH: Trần Trịnh Minh Hoà


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: Thầy Dương Đào Tùng

2) Luận đề và trắc nghiệm khách quan:
Luận đề và trắc nghiệm khách quan đều là những phương tiện kiểm tra khả
năng học tập, và cả hai đều là trắc nghiệm cả. Theo nghĩa chữ Hán, "trắc" có
nghĩa là "đo lường", "nghiệm" là "suy xét, chứng thực".
2.1) Những điểm tương đồng giữa trắc nghiệm và luận đề:
- Trắc nghiệm hay luận đề đều có thể đo lường hầu hết mọi thành quả học tập
quan trọng mà một bài khảo sát bằng lối viết có thể khảo sát được.
- Dù là trắc nghiệm hay luận đề đều có thể sử dụng để khuyến khích học sinh
học tập nhằm đạt đến các mục tiêu: hiểu biết các nguyên lí, tổ chức và phối
hợp các ý tưởng, ứng dụng kiến thức trong việc giải quyết các vấn đề.
- Cả hai loại trắc nghiệm và tự luận đều đòi hỏi sự vận dụng ít nhiều phán
đoán chủ quan của người làm.
- Giá trị của cả hai loại trắc nghiệm và tự luận tuỳ thuộc vào tính khách quan
và độ tin cậy của chúng.
2.2) Những điểm khác nhau giữa trắc nghiệm và luận đề:
- Một câu hỏi luận đề đòi hỏi thí sinh phải tự mình soạn câu trả lời và diễn tả
nó bằng ngôn ngữ của chính mình. Mặt khác, một câu hỏi trắc nghiệm buộc
thí sinh phải lựa chọn câu trả lời đúng nhất trong một số câu đã cho sẵn.
- Một bài luận đề gồm số câu hỏi tương đối ít và có tính cách tổng quát, đòi
hỏi thí sinh phải triển khai câu trả lời bằng lời lẽ dài dòng, trong khi một bài
trắc nghiệm thường gồm nhiều câu hỏi có tính cách chuyên biệt chỉ đòi hỏi
những câu trả lời ngắn gọn.

- Sự phân bố điểm số của một bài thi luận đề có thể được kiểm soát một phần
lớn do người chấm (ấn định điểm tối đa và tối thiểu). Ngược lại với bài trắc
nghiệm thì phân bố điểm số thí sinh hầu như hoàn toàn được quyết định do
bài trắc nghiệm.
2.3) Nên sử dụng luận đề để khảo sát thành quả học tập trong các
trường hợp:
- Khi nhóm học sinh được khảo sát không quá đông và đề thi chỉ được sử
dụng một lần, không dùng lại nữa.
- Khi thầy giáo cố gắng dùng mọi cách có thể được để khuyến khích tưởng
thưởng sự phát triển kỹ năng diễn tả bằng văn viết.
- Khi thầy giáo muốn thăm dò thái độ hay tìm hiểu sự tưởng tượng của học
sinh, sự phát triển kỹ năng diễn tả bằng văn viết.
- Khi thầy giáo muốn thăm dò thái độ hay tìm hiểu tư tưởng của học sinh về
một vấn đề nào đó hơn là khảo sát thành quả học tập của chúng.
- Khi thầy giáo tin tưởng vào khả năng phê phán và chấm bài luận đề một
cách vô tư và chính xác hơn là vào khả năng soạn thảo những câu trắc nghiệm
thật tốt.
- Khi không có nhiều thời gian để soạn thảo bài khảo sát nhưng lại có nhiều
thời gian để chấm bài.
2.4) Nên sử dụng trắc nghiệm khảo sát thành quả học tập trong các
trường hợp sau:
- Khi ta cần khảo sát thành quả học tập của một số đông học sinh, hay muốn
rằng bài khảo sát có thể được sử dụng lại vào một lúc khác.
- Khi ta muốn có những điểm số đáng tin cậy, không phụ thuộc vào chủ quan
người chấm bài.
- Khi các yếu tố công bằng, vô tư, chính xác là những yếu tố quan trọng nhất
của việc thi cử.
- Khi ta có nhiều câu trắc nghiệm tốt đã được dự trữ sẵn để có lựa chọn và
soạn lại một bài trắc nghiệm mới, và muốn chấm nhanh để sớm công bố kết
quả.

câu hỏi và mỗi câu có nhiều lựa chọn thì thực tế thí sinh không thể đạt điểm
cao nếu chỉ làm bài trắc nghiệm theo lối đoán mò. Một trong các phương pháp
tìm hiểu xem các thí sinh có đoán mò hay không là xem độ tin cậy của bài trắc
nghiệm. Nếu tất cả thí sinh đều đoán mò thì hệ số tin cậy của bài trắc nghiệm
là 0. Do đó nếu bài trắc nghiệm có hệ số tin cậy cao thì có thể tin tưởng rằng
sự đoán mò chỉ đóng góp một phần rất nhỏ vào các điểm số của thí sinh.
- Chỉ trích thứ hai được nêu ra về trắc nghiệm là trắc nghiệm chỉ đòi hỏi thí
sinh "nhận" ra những gì đã học qua các câu trả lời cho sẵn thay vì "nhớ" các
thông tin ấy và viết ra trên giấy. Tuy nhiên bằng cách thực hiện nhiều công
trình nghiên cứu thực nghiệm so sánh trắc nghiệm với luận đề và với hình
thức điền khuyết (nghĩa là câu hỏi bằng cách điền thế vào các chỗ trống) các
nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng trắc nghiệm cũng có khả năng tiên đoán
thành quả học tập không kém gì luận đề, và có sự tương quan gần như hoàn
toàn giữa các điểm số thu được bằng hai hình thức trắc nghiệm và điền
khuyết. Hơn nữa, công dụng của trắc nghiệm không chỉ nhằm khảo sát khả
năng "nhớ" các thông tin mang tính chất "sự kiện", khả năng "nhớ" lại những

SVTH: Trần Trịnh Minh Hoà


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: Thầy Dương Đào Tùng

gì đã nghe, đã đọc mà còn hướng đến các khả năng cao hơn, vì vậy lời chỉ
trích trên đã quan niệm không đúng về công dụng của trắc nghiệm.
- Chỉ trích thứ ba về trắc nghiệm là trắc nghiệm không khảo sát được mức độ
cao của quá trình tư duy. Người ta thường cho rằng bài thi luận đề mới nhằm
khảo sát khả năng này còn trắc nghiệm chỉ khảo sát được khả năng nắm vững
thông tin mang tính chất sự kiện. Thật ra điều này có thể đúng với những bài

3.1.2) Khuyết điểm:

SVTH: Trần Trịnh Minh Hoà


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: Thầy Dương Đào Tùng

- Với loại câu này học sinh có may rủi 50% chọn đúng câu trả lời hoàn toàn
bằng lối đoán mò.
- Các câu trắc nghiệm loại này sẽ trở nên tầm thường, sáo ngữ nếu người soạn
thảo trích ra những câu có sẵn trong sách giáo khoa, rồi chép nguyên văn các
câu ấy làm câu trắc nghiệm.
- Những câu đúng - sai được trích ra từ sách giáo khoa có thể khuyến khích và
tưởng thưởng những học sinh học thuộc lòng như vẹt.
- Tính khoa học kém.
- Các câu đúng - sai bị tách ra khỏi văn bản và không có căn bản để so sánh và
thẩm định, tính đúng hay sai tương đối của chúng.
3.1.3) Nguyên tắc soạn thảo câu trắc nghiệm đúng - sai:
- Những câu phát biểu cần phải dựa trên những ý niệm căn bản mà tính đúng
hay sai phải chắc chắn, không tuỳ thuộc vào quan niệm riêng của từng người,
từng tác giả hay dựa trên một giả định đặc biệt hay bất thường nào đó.
- Lựa chọn những câu phát biểu nào mà một người có khả năng trung bình
không thể nhận ra là đúng hay sai nếu không có đôi chút suy nghĩ.
- Không nên chép nguyên văn những câu trích từ sách giáo khoa.
- Mỗi câu trắc nghiệm chỉ nên diễn tả một ý tưởng độc nhất, tránh những câu
phức tạp, bao gồm quá nhiều chi tiết.
- Tránh dùng những từ như "tất cả", "không bao giờ", "không thể
nào"...Những câu có những từ ấy thường là những câu sai. Cũng vậy, những

hầu hết các câu hỏi ngoại trừ một hay hai câu còn lại, học sinh có thể đoán
trúng được hai câu còn lại ấy.
- Nếu cột câu hỏi và cột lựa chọn quá dài thì sẽ làm mất thời gian của học
sinh. Cứ mỗi câu họ lại phải đọc hầu hết tất cả các câu lựa chọn, trong đó có
nhiều lựa chọn rõ ràng là không thích hợp.
3.2.3) Nguyên tắc soạn thảo câu trắc nghiệm loại đối chiếu cặp đôi:
- Phải xác định rõ tiêu chuẩn để ghép một phần tử trong cột trả lời với phần tử
tương ứng trong cột câu hỏi. Phải nói rõ mỗi phần tử trong cột trả lời chỉ được
dùng một lần hay dùng nhiều lần.
- Số phần tử để chọn lựa trong cột trả lời nên nhiều hơn số phần tử trong cột
câu hỏi và mỗi phần tử trong cột trả lời nên được dùng nhiều lần để giảm bớt
yếu tố may rủi.
- Nên sắp xếp các phần tử theo một thứ tự hợp lý nào đó. Tất cả các phần tử
cùng danh sách nằm trên cùng một trang để học sinh đỡ nhầm lẫn hay gặp khó
khăn khi học sinh phải lật qua lật lại một trang nhiều lần.
3.3) Loại câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn (MCQ): Câu hỏi thuộc
loại nhiều lựa chọn gồm có hai phần: phần "gốc" và phần "lựa chọn". Phần
gốc là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng (chưa hoàn tất). Phần lựa chọn gồm
một số (thường là 4 hay 5) câu trả lời hay câu bổ túc để cho học sinh lựa chọn.
- Phần gốc dù là câu hỏi hay câu bỏ lửng, phải tạo căn bản cho sự lựa chọn
bằng cách đặt ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng giúp cho người
làm bài có thể hiểu rõ câu trắc nghiệm ấy muốn hỏi điều gì để lựa chọn câu trả
lời thích hợp.
- Phần lựa chọn gồm có nhiều lối giải đáp có thể lựa chọn trong số đó có một
lựa chọn được dự định cho là đúng, hay đúng nhất, còn những phần còn lại là
những "mồi nhử". Điều quan trọng là phải làm sao cho những mồi nhử ấy đều
hấp dẫn ngang nhau đối với những học sinh chưa đọc kỹ hay chưa hiểu kỹ bài
học.
3.3.1) Ưu điểm:
- Dễ chấm, điểm số chính xác và khách quan, không phụ thuộc vào người

án trả lời, xác suất mỗi câu là 25%, thí sinh trả lời sai sẽ bị trừ 0,25 điểm.
Điều này hạn chế được thí sinh đoán mò.
- Số thí sinh được kiểm tra - đánh giá đông.
- Nội dung kiểm tra bao quát, dàn trải, phủ kín nội dung hay chương trình
môn học.
- Nâng cao mức độ tư duy của người học.
- Dựa vào các số liệu thu được, người dạy có thể đánh giá chính xác từng
người học, lớp học.
- Người học có thể tự chấm bài của mình một cách dễ dàng khi biết đáp án.
3.3.2) Khuyết điểm:
- Thời gian biên soạn câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn và bài trắc nghiệm
nhiều lựa chọn rất tốn kém do phải in ấn với số lượng lớn và mất nhiều thời
gian, phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng.
- Nếu biên soạn hình thức câu hỏi theo hướng gợi nhớ sẽ dễ biên soạn, nhưng
không thể hiện năng lực sáng tạo của học sinh.
- Óc sáng tạo không thể kiểm tra qua bài trắc nghiệm (1 bài trắc nghiệm nhiều
lựa chọn với đầy đủ nhận thức của Bloom rất khó). Những câu hỏi lan man,
rời rạc như là câu hỏi tự luận, có thể kiểm tra được tính sáng tạo, tuy những

SVTH: Trần Trịnh Minh Hoà


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: Thầy Dương Đào Tùng

câu hỏi mang tính tự luận có tính tin cậy thấp, nội dung không phong phú, đa
dạng.
- Thí sinh dễ đoán mò trong câu trả lời.
3.3.3) Nguyên tắc soạn thảo câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn

đậm từ, chữ diễn tả sự phủ định để học sinh không nhầm lẫn vì vô ý.
- Câu trắc nghiệm có một đáp án đúng và chỉ một mà thôi. Tránh câu trắc
nghiệm có hơn một lựa chọn đúng hoặc không có lựa chọn nào đúng cả.

SVTH: Trần Trịnh Minh Hoà


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: Thầy Dương Đào Tùng

- Phần gốc và mỗi lựa chọn của phần trả lời phải phù hợp, ăn khớp nhau về
mặt ngữ pháp: phần lựa chọn ghép với phần gốc thành một câu hỏi đáp hợp
logic (nếu phần gốc là câu hỏi) hoặc một câu hoàn chỉnh (nếu phần gốc là câu
bỏ lửng).
3.4) Loại câu điền khuyết: Các câu điền khuyết có thể có hai dạng: có
thể là những câu hỏi với giải đáp ngắn hoặc là những câu phát biểu với một
hay nhiều chỗ để trống mà học sinh phải điền vào bằng một từ hay một nhóm
từ ngắn.
3.4.1) Ưu điểm:
- Có thể thay thế cho câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn khi ta không tìm ra số
mồi nhử cần thiết.
- Thí sinh không thể đoán mò như trong các loại câu trắc nghiệm khách quan
khác vì phải nhớ hoặc nghĩ ra câu trả lời thay vì chỉ chọn lựa câu trả lời đúng
trong số các câu đã cho sẵn.
- Loại câu điền khuyết dễ soạn hơn các loại câu trắc nghiệm khách quan khác.
- Giúp học sinh luyện trí nhớ khi học.
3.4.2) Khuyết điểm:
- Cách chấm điểm loại câu điền khuyết không dễ dàng và điểm số không đạt
được tính khách quan tối đa. Việc chấm điểm các loại câu điền khuyết nhiều

nhằm phục vụ cho một mục đích chuyên biệt nào đó. Đó có thể là một bài thi
cuối học kỳ nhằm cho điểm và xếp hạng học sinh; có thể chỉ là bài kiểm tra
thông thường, nhằm kiểm tra những hiểu biết tối thiểu về một phần, một
chương của môn học; cũng có thể là một bài trắc nghiệm nhằm mục đích
chuẩn đoán, tìm ra chỗ mạnh, chỗ yếu của học sinh, hay có thể là một bài trắc
nghiệm nhằm mục đích tập luyện, giúp học sinh hiểu thêm bài học... Tóm lại,
trắc nghiệm có nhiều mục đích và người soạn trắc nghiệm phải biết rõ mục
đích của mình thì mới soạn được bài trắc nghiệm giá trị, vì chính mục đích
này chi phối nội dung, hình thức bài trắc nghiệm dự định soạn thảo.
2. Phân tích nội dung kiến thức cần kiểm tra đánh giá và viết các mục
tiêu nhận thức cho từng nội dung:
Ở bước này, người soạn thảo cần phải tìm hiểu nội dung các kiến thức
cần kiểm tra đánh giá. Nếu người soạn là một giáo viên thì nội dung cần kiểm
tra đánh giá có thể là một số tiết dạy đủ tạo thành một khối kiến thức hoàn
chỉnh, một hay nhiều chương trong sách giáo khoa…Người soạn thảo cần
phải tìm hiểu xem trong nội dung đó có các khái niệm nào, các định luật nào,
các định nghĩa, các công thức và các tính chất… quan trọng nào có thể khảo
sát học sinh.
Sau khi đã phân tích nội dung kiến thức cần kiểm tra đánh giá thì người
soạn thảo phải viết các mục tiêu nhận thức vào từng nội dung. Khi tiến hành
viết các mục tiêu nhận thức thì cần lưu ý một số điểm sau:
 Một nội dung có thể liên quan đến nhiều mục tiêu nhận thức.
 Mục tiêu cần phải cụ thể.
 Mục tiêu phải có thể đo được.
 Mục tiêu phải có thể đạt được.
 Mục tiêu phải hướng vào kết quả.
3. Xác định số câu hỏi trong bài trắc nghiệm và mức độ khó của các
câu hỏi:
Số câu hỏi của một bài trắc nghiệm khách quan tùy thuộc vào lượng thời
gian dành cho việc kiểm tra. Thời gian càng dài thì số câu càng nhiều. Nếu là


Thiết lập dàn bài trắc nghiệm:
Thiết lập dàn bài trắc nghiệm là dự kiến phân bố hợp lý các câu hỏi của
bài trắc nghiệm theo mục tiêu và nội dung cần kiểm tra đánh giá sao cho có
thể đo lường chính xác khả năng mà ta muốn đo. Để thực hiện hiệu quả công
việc này người soạn trắc nghiệm cần đưa ra một số quyết định như: cần khảo
sát những gì ở học sinh ?, cần đặt tầm quan trọng vào những phần nào của
môn học và mục tiêu nào ?... trước khi thiết lập dàn bài. Thông thường, khi
muốn thiết lập một dàn bài trắc nghiệm, người ta xét đến một ma trận hay còn
gọi là bảng quy định 2 chiều: một chiều là nội dung và một chiều là mục tiêu.
Trên ma trận ghi số câu cần kiểm tra cho mỗi nội dung và mục tiêu.
Ví dụ minh họa một dàn bài trắc nghiệm
Nội dung
Mục tiêu
Nhận biết
Hiểu, áp dụng

Mục 1

Mục 2

Mục 3

3
3

4
3

3


50%
100%

5.

Tiến hành viết các câu hỏi trắc nghiệm:
Sau khi đã thực hiện đầy đủ các bước trên, người soạn thảo trắc nghiệm
đã có sự chuẩn bị tốt nhất trước khi tiến hành viết các câu hỏi trắc nghiệm.
Khi tiến hành viết các câu hỏi trắc nghiệm, đầu tiên người soạn thảo cần phải
lựa chọn loại câu hỏi sẽ sử dụng trong bài trắc nghiệm. Cần lưu ý rằng không
nên sử dụng nhiều hình thức trắc nghiệm khác nhau trong một bài trắc nghiệm
vì như vậy chỉ làm rối trí học sinh một cách vô ích. Hiện nay, hình thức câu
trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn là hình thức thông dụng nhất, hơn nữa
dạng câu với nhiều lựa chọn có thể sử dụng hiệu quả cho nhiều mục đích khảo
sát. Sau đó người soạn thảo bắt đầu viết các câu hỏi trắc nghiệm cho bài trắc
nghiệm. Trong quá trình viết, người soạn thảo cần tuân thủ đúng những
nguyên tắc soạn thảo các hình thức câu hỏi trắc nghiệm thông dụng đã được
đề cập ở trên (cụ thể là phần 3 ở III) để tránh mắc phải các sai sót và có thể
soạn thảo được những câu trắc nghiệm có chất lượng. Bên cạnh đó, người
soạn thảo cần dựa trên số lượng câu hỏi của bài trắc nghiệm, độ khó của các
câu hỏi, mục tiêu cần khảo sát… để tiến hành viết các câu hỏi trắc nghiệm
đúng mục đích mà mình đã dự định.
6.
Thẩm định lại các câu trắc nghiệm đã viết:
Sau khi đã kết thúc việc viết các câu hỏi trắc nghiệm, người soạn thảo đã
có được một bài trắc nghiệm hoàn chỉnh, nhưng để có thể sử dụng bài trắc
nghiệm này để khảo sát thành quả học tập thì vẫn còn phải thực hiện một vài
công đoạn nữa.Và công đoạn tiếp theo là cần phải thẩm định lại bài trắc
nghiệm vừa viết xong. Trước hết, người soạn thảo cần xem xét lại bài trắc

túc. Lưu ý giáo viên nên hướng dẫn cho học sinh cách làm bài kiểm tra trắc
nghiệm trước khi tiến hành khảo sát.
8.

Đánh giá kết quả khảo sát bài trắc nghiệm bằng phương pháp thống

Hoàn thành các bước trên, người soạn thảo đã có được bài trắc nghiệm
đã được thử nghiệm. Điều mà ta cần quan tâm là bài trắc nghiệm có đáng tin
cậy hay không?, bài trắc nghiệm có vừa sức học sinh hay không?, các câu trắc
nghiệm đã soạn có tốt không?, độ khó của bài trắc nghiệm là bao nhiêu?... Nói
cách khác, ta cần phải mô tả kết quả của bài trắc nghiệm bằng các dữ kiện
thống kê liên quan đến độ khó, hệ số tin cậy của toàn bài trắc nghiệm, độ khó
và độ phân cách của từng câu…Với các dữ kiện ấy, ta mới có cơ sở để tin
tưởng rằng bài trắc nghiệm của ta là tốt, và nếu nó chưa được tốt lắm thì ta
cần phải sửa chữa như thế nào cho tốt hơn.
8.1 Phân tích bài trắc nghiệm
8.1.1 Điểm trung bình của bài test (Mean): được tính bằng cộng
tất cả các điểm số (của bài làm học sinh) và sau đó chia cho tổng số bài (hay
tổng số học sinh làm bài).
Gọi X là điểm bài trắc nghiệm của một học sinh và N là số học sinh làm
bài thi:
Mean 

X
N

8.1.2 Điểm trung bình lý thuyết (Mean LT):
MeanLT 

K T



 tt 
rTC 
Rxy 

RTC

N  X 2   X 

2

N  N  1

2 xrxy
1  rxy
N   XY     X  x   Y 
 N X 2   X 2    N Y 2  Y 2 
   

 

2
K  1 

1 

K  1 
 tt2 


S
N
S
Giá trị biên trên  Mean  Zx
N

Giá trị biên dưới  Mean  Zx

Trong đó: Mean là trung bình, S là độ lệch tiêu chuẩn, N là số học sinh.
X là giá trị tùy thuộc vào xác suất tin cậy định trước. Ví dụ
nếu chọn xác suất tin cậy 95% thì Z  1.96 , nếu xác suất tin cậy là 99% thì
Z  2.58 .
8.1.3 Độ khó của bài trắc nghiệm:
Độ khó bài =

Mean
.100%
K

8.1.4 Độ khó vừa phải của bài trắc nghiệm:
Độ khó vừa phải 

MeanLT
.100%
K

Đối chiếu các trị số của bài với trị số lý thuyết để rút ra kết luận về độ khó của
bài.
8.1.5 Độ chênh lệch tiêu chuẩn toàn bài: độ lệch tiêu chuẩn là căn
số bậc hai của số trung bình của bình phương các độ lệch. (Độ lệch = hiệu của

X là tổng điểm các câu lẻ, Y là tổng điểm các câu chẵn.
rxy là hệ số tương quan Pearson giữa tổng X và tổng Y trong bài test.
Công thức tính hệ số tương quan Pearson như sau:
Rxy 

N   XY     X  x   Y 

 N X 2   X 2    N Y 2  Y 2 
   
 


* Lưu ý: Nếu dùng máy tính để xử lý, thường dùng công thức
Kuder_Richardson căn bản
2
K  1 
RTC 
1 

K  1 
 tt2 
Với I = độ lệch tiêu chuẩn câu i.
tt = độ lệch tiêu chuẩn toàn bài.
K = số câu bài trắc nghiệm.
Hệ số tin cậy có giá trị từ 0 đến 1. Nếu càng gần 1 thì hệ số tin cậy của
thang đo càng cao. Với các bài trắc nghiệm, ta thường mong đợi giá trị của hệ
số tin cậy từ 0.9 trở lên. Thường với các bài trắc nghiệm gồm các câu mới
soạn, giá trị của hệ số tin cậy chỉ từ 0.6 đến 0.8. Nếu bài trắc nghiệm gồm các
câu soạn cẩu thả thì hệ số tin cậy còn thấp hơn.
8.2 Phân tích từng câu trắc nghiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status