Bài tiểu luận :VẤN ĐỀ KHAI THÁC KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM
Những năm gần đây cùng với sự phát triển chung của đất nước các hoạt động khai
thác khoáng sản đã và đang góp phần to lớn vào công cuộc đổi mới đất nước. ngành công
nghiệp khai thác mỏ đã và đang chiếm vị trí quang trọng trong nền kinh tế Việt Nam.
Trong những năm qua hoạt động khai thác khoáng sản đã đóng góp tới 5,6% GDP. Tuy
nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực đó thì chúng ta cũng đang phải đới mặt với
những vấn đề về môi trường mà chính họat động khai thác khoáng sản đã gây ra. Quá
trình khai thác mỏ phục vụ cho lợi ích của mình, con người đã làm thay đổi môi trường
xung quanh. Yếu tố chính gây tác động đến môi trường là khai trường của các mỏ, bãi
thải, khí độc hại, bụi và nước thải...làm phá vỡ cân bằng điều kiện sinh thái, đã được hình
thành từ hàng chục triệu năm, gây ra sự ô nhiễm nặng nề đối với môi trường nhất là đối
với môi trường đất và là vấn đề cấp bách mang tính chất xã hội và chính trị của cộng
đồng.
I.
CÁC KHÁI NIỆM
I.1. Ô nhiễm đất.
Có rất nhiều khái niệm về ô nhiễm đất:
Khi nồng độ các chất trong đất vượt quá giới hạn cân bằng tự nhiên-sự tự
điều chỉnh hệ sinh thái đất giữ được sự ổn định khi co tác đông ngoại cảnh,thì đất
sẽ có nguy cơ bị ô nhiễm,giảm đọ phì,giảm tính năng sản xuất
Ô nhiễm đất là hậu quả của hoạt động sản xuất của con người làm thay đổi
các nhân tố sinh thái quá ngưỡng sinh thái sinh thái của quần xã sống trong đất
( Giáo trình Đất và bảo vệ đất - sở Giáo dục và đào tạo. NXB Hà Nội).
I.2. Khái niệm khai thác khóang sản:
Khoáng sản là các dạng vật chất được tạo thành trong suất quá trình hình
thành và phát triển của tự nhiên, cuộc sống sinh vật và con người, các dạng vật chất này
cung cấp nguyên - nhiên vật liệu, hỗ trợ và phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế, xã
hội của con người ( Giáo trình tài nguyên khoáng sản và vấn đề năng lượng - Phạm Văn
Sang).
Khoáng sản là tài nguyên trong lòng đất, trên mặt đất dưới dạng những tích tụ tự
quặng sắt hiện nay có thể đáp ứng sản lượng là 500.000 tấn/năm. Thị trường quặng sắt
hiện nay: 80% sử dụng trong nước, chủ yếu là để luyện thép, còn 20% xuất khẩu.
II.2. Bô-xit
Nước ta có tiềm năng rất lớn về quặng bôxít với tổng trữ lượng và tài nguyên dự báo
đạt khoảng 5,5 tỷ tấn, phân bố chủ yếu ở tỉnh Đắc Nông, Lâm Đồng, Gia Lai, Bình
Phước,…
Nhìn chung, nước ta có trữ lượng tài nguyên bôxít lớn, chất lượng tương đối tốt,
phân bố tập trung, điều kiện khai thác thuận lợi. Mặt khác, thị trường cung – cầu sản
phẩm alumin trên thị trường thế giới hiện nay rất thuận lợi cho phát triển ngành công
nghiệp nhôm ở nước ta. Bên cạnh nước ta là Trung Quốc có nhu cầu nhập khẩu rất lớn về
alumin, hàng năm khoảng 5-6 triệu tấn alumin. Do vậy, cần phải khai thác và chế biến
sâu bôxít, điện phân nhôm để phát triển ngành công nghiệp nhôm phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
II.3. Quặng titan
Theo kết quả điều tra, thăm dò địa chất, cho tới nay đã phát hiện 59 mỏ và điểm
quặng titan, trong đó có 6 mỏ lớn có trữ lượng từ 1 đến 5 triệu tấn, 8 mỏ trung bình có trữ
lượng > 100.000 tấn và 45 mỏ nhỏ và điểm quặng. Xét về tổng thể, quặng titan Việt Nam
không nhiều, nhưng đủ điều kiện để phát triển ngành titan đồng bộ từ khâu khai thác và
chế biến sâu với quy mô công nghiệp không lớn, đáp ứng nhu cầu trong nước, thay nhập
khẩu, có hiệu quả hơn nhiều so với xuất khẩu quặng tinh và nhập khẩu pigment, ilmenhit
hoàn nguyên và zircon mịn ngay trước mắt và lâu dài cho các ngành công nghiệp
Ngành Titan hoạt động với giá trị xuất khẩu quặng tinh titan 20-30 triệu USD/năm,
có hiệu quả kinh tế đáng kể, đặc biệt có ý nghĩa kinh tế xã hội với nhiều địa phương suốt
dọc ven biển từ Thanh Hoá đến Bình Thuận.
II.4. Quặng thiếc
Ở nước ta, thiếc được khai thác sớm nhất tại vùng Pia Oắc – Cao Bằng khoảng cuối
thế kỷ XVIII. Đến 1945, người Pháp đã khai thác khoảng 32.500 tấn tinh quặng SnO2.
Sau hoà bình lập lại, mỏ thiếc Tĩnh Túc Cao Bằng được Liên Xô (cũ) thiết kế và trang bị
Dầu khí đã được phát hiện ở Việt Nam từ những năm 1970, nhưng chỉ sau năm
1984, ngành công nghiệp dầu khí mới thực sự có bước đi vững chắc, ngày càng góp
nhiều vào việc tăng trưởng xuất khẩu của cả nước. Dầu khí được tập trung ở các bể trầm
tích Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay, Thổ Chu, Phú Khánh, Tư Chính,
Vũng Mây, Trường Sa. Đến nay, đã có 37 Hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký kết giữa
Petro Vietnam và các đối tác nước ngoài nhằm thăm dò, khai thác dầu khí ở thềm lục địa
Việt Nam. Tổng diện tích các lô đã được ký hợp đồng thăm dò vào khoảng 250.000 km2,
chiếm 50% tổng diện tích thềm lục địa Việt Nam. Qua kết quả thăm dò cho thấy: Bể
Sông Hồng chủ yếu là khí. Bể Cửu Long chủ yếu phát hiện dầu. Hai bể còn lại là Nam
Côn Sơn và Malay- Thổ Chu phát hiện cả dầu và khí. Bể Phú Khánh và Tư Chính- Vũng
Mây mới chỉ dự báo triển vọng trên cơ sở nghiên cứu cấu trúc địa chất. Khoáng sản dầu
khí đang được thăm dò với cường độ cao. Trữ lượng dầu đã được phát hiện vào khoảng
1,7 tỷ tấn và khí đốt vào khoảng 835 tỷ m3. Trữ lượng dầu được dự báo vào khoảng 6 tỷ
tấn và trữ lượng khí vào khoảng 4.000 tỷ m3. Trong những năm gần đây, sản lượng khai
thác dầu và khí đều tăng cao, năm 1999 đã khai thác 15,2 triệu tấn dầu và 1.439 triệu m3
khí. Tính đến cuối năm 1999 đã khai thác được 82 triệu tấn dầu và 3.900 triệu m3 khí.
100% số dầu khai thác được dùng để xuất khẩu.
II.8 Than.
Than Việt Nam được hình thành ở 8 thời kỳ khác nhau: Devon giữa và muộn;
Carbon sớm và giữa; Permi muộn; Trias giữa; Trias muộn; Jura sớm; Neogen và Đệ tứ.
Chỉ có than được hình thành ở Trias muộn và Neogen là có giá trị kinh tế cao nhất. Than
có giá trị kinh tế được tập trung ở Triasic muộn và được tập trung chủ yếu ở bể than
Quảng Ninh thành các vùng như: Cẩm Phả, Dương Huy, Hòn Gai, Uông Bí, Bảo Đài
chiếm 90% trữ lượng, bể than Sông Đà ở miền Bắc và bể than Nông Sơn ở miền Trung
Việt Nam. Tổng trữ lượng ước tính của than Triasic muộn là 6,6 tỷ tấn. Nguồn tài nguyên
than nâu ở vùng châu thổ Bắc Bộ với trữ lượng dự báo gần 200 tỷ tấn, nhưng rất khó
khăn cho thăm dò và khai thác vì ở dưới độ sâu từ 200 đến hơn 4.000m dưới đồng bằng.
Hiện nay, sản lượng than khai thác đạt khoảng 15 triệu tấn. Than đã được xuất khẩu đi
khỏi lòng đất tạo nên một khoảng trống rất lớn và rất sâu. Một khối lượng lớn chất thải
rắn được hình thành do những vật liệu có ích thường chỉ chiếm một phần nhỏ của khối
lượng quặng được khai thác, dẫn đến khối lượng đất đá thải vượt khối lượng quặng nằm
trong lòng đất. Chất thải rắn, không sử dụng được cho các mục đích khác, đã tạo nên trên
bề mặt đất địa hình mấp mô, xen kẽ giữa các hố sâu và các đống đất, đá. Đặc biệt ở
những khu vực khai thác "thổ phỉ", tình hình còn khó khăn hơn nhiều.
Tại các vùng khai thác than đã xuất hiện những núi đất, đá thải cao gần 200m,
những moong khai thác sâu khoảng 100m. Để sản xuất 1 tấn than, cần bóc đi từ 8 đến 10
m3 đất phủ, thải từ 1 đến 3m3 nước thải mỏ. Khối lượng chất thải rắn và nước thải mỏ gây
ô nhiễm nặng cho vùng mỏ. Một vài vùng ô nhiễm đã đến mức báo động như Mạo Khê,
Uông Bí, Cẩm Phả...
II.2. Khai thác khoáng sản làm suy giảm diện tích, ô nhiễm và mất đất canh tác
(Hình 2)
Việc dọn mặt bằng xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ việc mở mỏ, làm các bãi thải,
bãi khai trường, cũng làm cho quỹ đất nông lâm nghiệp bị mất, hoặc thay đổi địa hình,
việc khai thác khoáng sản trên các thửa ruộng đã làm cho các ruộng đất biến dạng và ảnh
hưởng đến sản xuất.
Bảng 1. Mức độ ô nhiễm đất nông nghiệp do khai thác mỏ
Nguồn: Nguyễn Đức Quý, Tạp chí Hoạt động Khoa học, số 4, 1996
Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2005, tổng diện tích dành cho các hoạt động khai
thác khoáng sản là 41.000ha. Diện tích đó ngày càng mở rộng và lấn sang phần đất khác,
nhiều diện tích rừng nhiệt đới, rừng phòng hộ bị tàn phá, xâm hại.
Tại Yên Bái, toàn tỉnh có trên 168 điểm mỏ với 15 loại khoáng sản. Ngoài ra, còn
nhiều đơn vị thăm dò khoáng sản theo giấy phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Chỉ
trong 2 năm 2007 và 2008, tỉnh Yên Bái đã cấp phép thăm dò và khai thác hàng trăm
"sa mạc" hoá không thể canh tác được, đời sống của người dân nơi đây đã khó khăn, nay
càng khó khăn hơn. Thống kê của UBND xã An Bá cho thấy: vụ lúa chiêm năm 2009,
diện tích lúa của thôn Lái bị mất trắng gần 1,6 ha thì vụ lúa mùa năm 2010, diện tích bị
mất trắng tăng lên hơn 1,7ha.
Trước đây, các chuyên gia đã xác định mức độ thiệt hại đối với canh tác nông
nghiệp ở các tỉnh ven biển miền Nam Trung bộ khoảng 3 triệu tấn lúa/năm (cái giá phải
trả tương đương 1 tấn lúa bị thất thu/1 tấn bauxite được khai thác).
III.3. Giảm diện tích đất rừng, gia tăng suy thoái đất (Hình 3)
Tài nguyên khoáng sản không những nằm ngoài rừng mà còn nằm trong lòng rừng
núi cho nên khi khai thác khoáng sản thì phải chặt phá cây rừng làm cho lớp phủ thực vật
bị suy giảm nó tác động gián tiếp làm cho núi đất trọc, dễ phong hóa, không giữ được ẩm
dễ bị xói mòn rửa trôi, sạt lở. Hoạt động khai thác khoáng sản cũng làm cho thực vật,
động vật bị giảm số lượng hoặc tuyệt chủng do các điều kiện sinh sống ở rừng cây, đồng
cỏ và sông nước xấu đi. Một số loài thực vật bị giảm số lượng, động vật phải di cư sang
nơi khác
Hiện nay, ở khu vực Hòn Gai_Cẩm Phả có khoảng 30 mỏ than lớn nhỏ đang hoạt
động, bình quân khoảng 2000ha, có một mỏ với tổng diện tích là 175km 2, chiếm 28,7 %
diện tích đất tự nhiên của thành phố Hạ Long và thị xã Cẩm Phả. Ở Hòn Gai, Nam đường
18A(Cẩm Phả) trong giai đoạn 1970-1997, các hoạt động khai thác than làm mất khoảng
2900ha(trung bình mỗi năm mất 100-110ha) đất các loại, trong đó khoảng 2000ha bị mất
do mở vỉa, đổ đất đá thải. Độ che phủ rừng tự nhiên từ 33,7% năm 1970 giảm xuống
6,7% (1985) và 4,7% (1997). Tại khu vực Cẩm Phả, trước năm 1975 việc khai trường
được mở rộng về phía tây nam (khoảng 100ha) và phía tây (25 ha). Sau 1975 khai trường
và bãi thải phát triển về phía bắc khoảng 435ha, phía tây bắc 265ha và phía đông 75ha.
Việc khai thác than ở Quảng Ninh đã phá huỷ hàng trăm km 2 rừng, tạo ra xói mòn, bồi
lấp ở các sông suối và làm ô nhiễm Vịnh Hạ Long. Một số mỏ than còn sử dụng công
nghệ khai thác lạc hậu, thiếu chương trình khoa học tổng thể để xác định sự cần thiết về
tăng trưởng công suất cho phù hợp với các yêu cầu bảo vệ môi trường. Do đó, môi trường
Một số diện tích đất xung quanh các bãi thải quặng có thể bị bồi lấp do sạt lở, xói
mòn của đất đá từ các bãi thải, gây thoái hoá lớp đất mặt. Việc đổ bỏ đất đá thải tạo tiền
đề cho mưa lũ bồi lấp các sông suối, các thung lũng và đồng ruộng phía chân bãi thải và
các khu vực lân cận. Khi có mưa lớn thường gây ra các dòng bùn di chuyển xuống vùng
thấp, vùng đất canh tác, gây tác hại tới hoa màu, ruộng vườn, nhà cửa, vào mùa mưa lũ
thường gây ra lũ bùn đá, gây thiệt hại tới môi trường kinh tế và môi trường xã hội.
Một số diện tích đất xung quanh các bãi thải quặng có thể bị bồi lấp do sạt lở, xói
mòn của đất đá từ các bãi thải, gây thoái hoá lớp đất mặt. Các cồn đống cuội, đá thải
trong quá trình khai thác vàng trên lòng sông ngăn cản, thay đổi dòng chảy gây sự xói lở
đất bờ sông, đê điều, gây úng lụt cục bộ.
Việc đổ bỏ đất đá thải tạo tiền đề cho mưa lũ bồi lấp các sông suối, các thung lũng
và đồng ruộng phía chân bãi thải và các khu vực lân cận. Quá trình san lấp mặt bằng, xây
dựng nhà tạm hoặc thủ công, hoặc cơ giới đều gây tiếng ồn, gây bụi làm ô nhiễm môi
trường không khí, ô nhiễm nguồn nước cũng như làm đảo lộn môi trường đất tạo nên một
vùng "đất mượn". Vùng "đất mượn" khi có mưa lớn thường gây ra các dòng bùn di
chuyển xuống vùng thấp, vùng đất canh tác, gây tác hại tới hoa màu, ruộng vườn, nhà
cửa, vào mùa mưa lũ thường gây ra lũ bùn đá, gây thiệt hại tới môi trường kinh tế và môi
trường xã hội.
Theo đề tài “Nghiên cứu sử dụng thực vật để cải tạo đất bị ô nhiễm kim loại nặng
tại các vùng khai thác khoáng sản” của Viện Công nghệ môi trường:
Kết quả phân tích mẫu đất tại mỏ than núi Hồng (Thái Nguyên) cho thấy: Hàm
lượng As trong đất từ 202-3690 ppm (1ppm = 1 phần triệu), gấp 17-308 lầnTCVN, có nơi
lên đến 15146ppm.
Mỏ kẽm, chì làng Hích (Thái Nguyên) cũng có hàm lượng Pb và Zn tương ứng là
13028ppm và 9863ppm; gấp 186 lần TCVN đối với Pb và 49 lần đối với Zn.
Quá trình bốc xúc, tuyển rửa quặng, làm đất tơi xốp tạo điều kiện thuận lợi cho
phong hoá và hoá tách các khoáng vật kim loại chứa trong đó. Vì vậy, có ảnh hưởng lớn
đến môi trường, không chỉ khi cơ sở đang hoạt động mà còn tiếp diễn về lâu dài sau khi
mặt hoá học nên có tác động xấu đến môi trường đất. Tỷ lệ chất thải (đuôi quặng) này rất
lớn. Tuỳ thuộc vào chất lượng của bauxits và công nghệ chế biến có thể lên tới 2,5 tấn/
1tấn sảm phẩm alumina. Việc bảo quản các chất thải này để không gây ô nhiễm cho môi
trường đất và nước là rất tốn kém.
Bảng 5: Giới hạn hàm lượng tổng số của một số kim loại nặng trong một số
loại đất (ĐVT: mg/kg đất khô)
Thông
Đất nông
Đất lâm
Đất dân
số
Asen (As)
Cadimi(Cd)
Đồng (Cu)
Chì (Pb)
Kẽm (Zn)
nghiệp
12
2
50
70
200
nghiệp
12
Bảng 6: Kết quả phân tích hàm lượng Cd trong đất khu vực bãi thải mỏ than Phấn Mễ
Hàm lượng Cd(mg/kg đất khô)
TT
Kíhiệumẫu
Mẫu đất NC
QCVN03:2008/BTNMT QCVN03:2008/BTNMT(
(Đất nông nghiệp)
Đất lâmnghiệp)
1
MD1
9,6
2
2
2
MD2
2,25
2
3,49
6,75
6,7
6,78
5945-
1995
5,5-9
Độ đục
Mg/l
91
53,5
13,3
120
100
DO
Mg/l
142,8
82,8
66,3
0,5
Fe
Mg/l
-
1,591
1,548
0,528
5
Mn
Mg/l
-
5,042
Mg/l
-
0,29
0
0,21
0
0,06
0,5
5
Nguồn: Phòng tài ngyên và môi trường huyện Đông Triều, 2008
III.5. Ô nhiễm đất do dầu mỏ
Ở Việt Nam đất bị ô nhiễm do kim loại nặng chưa phải là phổ biến tuy nhiên cũng
đã xuất hiện mang tính cục bộ trên một diện tích nhất định. Và có một nguyên nhân gây ô
nhiễm đất mới xuất hiện gần đây nhưng nó có ảnh hưởng tới môi trường đất rất lớn đó là
ô nhiễm đất do hoạt động khai thác dầu mỏ. Ô nhiễm do dầu mỏ xuất hiện từ những năm
1980. Trong quá trình vận chuyển dầu mỏ khí đốt hoặc trong quá trình súc rửa thùng
chứa hoặc dầu nhớt từ các máy móc trong khi hoạt động khai thác bị đổ, nhiễm ra đất
không tránh khỏi làm ảnh hưởng tới môi trường đất.
Khi trên mặt đất có một lớp dầu mỏng (dù chỉ từ 0,2-0,5mm) thì cũng cản
trở quá trình trao đổi chất của sinh vật trong đất(vi sinh vật, động thực vật). Đất thiếu oxy
do không tiếp xúc với không khí nên các sinh vật trong đất sẽ chết dần.
đập, loang rộng, vùi lấp các cánh đồng, theo dòng suối tràn vào khu dân cư trùm lấp
vườn, ruộng và nhà ở của người dân xã Duyệt Trung. Ước tính ban đầu, khoảng 50 hộ
dân bị ảnh hưởng. Đó là do nguyên nhân các công trình xử lý nước tuyển rửa lạc hậu.
-
Công tác hoàn thổ, cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác còn chưa
được thực hiện tốt.
Việc hoàn thổ sau khi khai thác đối với các mỏ bauxite (cụ thể tại Tây Nguyên) chỉ
mang tính lý thuyết vì lý do kỹ thuật: lớp đất đá phủ bốc đi trước khi khai thác không giữ
lại được (chỉ trừ khi chúng ta tạo ra các bãi thải ở những nơi không có độ dốc và không
có nguy cơ trôi để đổ vào); việc hoàn thổ sau khi khai thác sẽ không có ý nghĩa nếu giữa
hai mùa mưa chưa phục hồi kịp tầng thực vật như trước khi khai thác. Những nơi khai
thác bauxite ở Tây Nguyên có độ dốc trên 25o nằm ở độ cao hàng nghìn mét so với mặt
nước biển lại có mùa mưa lũ cố định hàng năm, việc trôi lấp những lớp đất đá phủ bốc đi
trước khi khai thác và lớp đất hoàn thổ sau khi khai thác sẽ xảy ra trong các mùa mưa
thường xuyên hàng năm không thể ngăn chặn được.
-
Công tác tuyên truyền và thực hiện Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản
liên quan còn hạn chế
Pháp luật quy định mức phạt lên tới một tỷ đồng. Nếu tiếp tục vi phạm có thể phạt
nhiều lần và áp dụng các biện pháp khác. Công tác kiểm tra, xử phạt nghiêm minh là một
biện pháp hữu hiệu (tuy không phải là duy nhất) để tổ chức, cá nhân không dám coi
thường chính quyền, pháp luật. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận có tình trạng xuê xoa, nới
lỏng, kể cả tiêu cực nên DN nộp phạt lấy lệ rồi tiếp tục vi phạm.
Luật Khoáng sản, Luật Bảo vệ môi trường với những quy định cụ thể về trách
việc đưa chất thải trực tiếp vào môi trường, buộc sử lý chất thải và cô lập các chất thải
độc hại.
Trồng cây, gây lại rừng tại các vùng mỏ đã khai thác xong nhằm chống xói lở, bào
mòn tầng đất mặt.
Theo đó, các nhà khoa học tiến hành trồng thử nghiệm cỏ vetiver và dương xỉ
Pteris vittata, Pityrogramma calomelanos tại mỏ chì, kẽm làng Hích (huyện Đồng Hỷ),
mỏ thiếc Hà Thượng (huyện Đại Từ, Thái Nguyên). Kết quả kiểm tra cho thấy, sau khi
trồng khoảng 4 tháng, hàm lượng asen trong đất ở các mỏ này giảm rõ rệt. Kết quả trồng
đối chứng cũng cho thấy dương xỉ Pteris vittata có khả năng chống chịu với đất có hàm
lượng asen đến 1.500 ppm, chì đến 5.000 ppm. Cây sinh trưởng và tích lũy kim loại nặng
tốt nhất khi bổ sung phân bón vô cơ, hữu cơ và kim loại nặng trong đất sẽ được cây hấp
thụ, làm giảm nồng độ ô nhiễm. Đặc biệt, hàm lượng chì, kẽm, asen… trong đất ở độ sâu
đến 30cm được xử lý khá hiệu quả... Từ kết quả của 2 mô hình này, các nhà khoa học
đang đề xuất với Nhà nước và các đơn vị khai thác, chế biến quặng sớm triển khai việc
ứng dụng thực vật trong xử lý ô nhiễm môi trường đất. Đây là giải pháp thân thiện với
môi trường, thích hợp với điều kiện nước ta và rất khả thi khi chuyển giao công nghệ.
Đối với một số kim loại nặng như As, Zn, Pb có thể tiến hành trồng một số loại cây như:
+ As: Cây dương xỉ, cỏ màn trầu
+ Zn: cỏ vetiver và cỏ màn trầu
+ Pb: trồng liễu, lau sậy, cỏ vetiver hay cỏ màn trầu
Phải tiến hành khai thác nhanh, dứt điểm tại các vùng mỏ đã được quy hoạch khai
thác.
Hoàn thiện cơ sở pháp lý: hoạt động khoáng sản phải chịu sự chi phối của luật môi
trương, luật khoáng sản, luật tài nguyên đất, nước. Pháp lệnh bảo vệ tài nguyên rừng và
pháp lệnh về quản lý chất thải rắn. Giấy phép khai thác chỉ được cấp khi đã có báo cáo
đánh giá tác động môi trường đã được thông qua giám định. Trong báo cáo đánh giá tác
động môi trường của hoạt động khoáng sản yêu cầu phải có nội dung cải tạo môi trường
và hoàn thổ cụ thể; ngoài ra còn có chương trình quản lý và giám sát môi trường.