Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Nguyễn Thị Thơm K34A Sử
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thời Pháp thuộc, xã hội Việt Nam có tính chất thuộc địa nửa phong
kiến. Đế quốc Pháp không những nắm quyền cai trị nhân dân ta mà chúng còn
duy trì và phát triển chế độ bóc lột phong kiến Việt Nam để tăng cường cướp
đoạt lợi nhuận ở thuộc địa Việt Nam. Lối cướp đoạt đế quốc kết hợp với lối
bóc lột phong kiến đã tạo nên một chế độ bóc lột rất nặng nề, hà khắc trong xã
hội Việt Nam. Tính chất độc quyền của nền kinh tế thực dân đã dẫn tới hậu
quả là: quan hệ sản xuất phong kiến trong nông nghiệp được duy trì nguyên
vẹn, các ngành thủ công cổ truyền đang còn có tác dụng tích cực bị bóp nghẹt,
kinh tế tư bản dân tộc bị kìm hãm không sao phát triển được. Điều đó làm cho
kinh tế nước ta bị kiệt quệ. Bên cạnh các tầng lớp, giai cấp đại diện cho xã hội
Việt Nam truyền thống, những giai cấp mới cũng có sự phát triển và phân hóa
ngày càng rõ hơn. Tư sản Việt Nam trước Chiến tranh thế giới thứ nhất mới
chỉ là một tầng lớp nhỏ bé kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực thương nghiệp,
hoạt động sản xuất còn hạn chế. Từ sau chiến tranh, hoạt động kinh doanh
trong hầu hết các ngành kinh tế, từ xay xát, in ấn, dệt, nhuộm..... cho đến sản
xuất sơn, xà phòng, đường....Một số đã có trong tay những sản nghiệp lớn như
mỏ, đồn điền, các công ty thương mại.... Một số đã có những cơ sở sản xuất
thu hút vài trăm công nhân, mở rộng và phát triển nhanh chóng về thế lực
kinh tế. Tư sản Việt Nam đã thực sự hình thành một giai cấp xã hội vào
những năm sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918). Tuy nhiên do tác
động của điều kiện kinh tế- xã hội nên sau chiến tranh, cơ sở kinh tế của giai
cấp tư sản Việt Nam hết sức nhỏ yếu, do đó thái độ chính trị của họ rất bạc
nhược. Từ sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, giai cấp tư sản Việt Nam chỉ có
hai con đường: hoặc là thỏa hiệp, hợp tác với chủ nghĩa đế quốc để duy trì địa
vị phụ thuộc của mình mà như vậy thì càng ngày càng đi đến chỗ bế tắc; hoặc
đang là một vấn đề gây tranh cãi nhiều đối với các học giả đương thời. Vấn đề
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Nguyễn Thị Thơm K34A Sử
nghiên cứu về giai cấp tư sản Việt Nam trong thời kì 1919-1945 được đề cập
đến trong các công trình nghiên cứu như:
Nguyễn Công Bình với tác phẩm “Tìm hiểu về giai cấp tư sản Việt
Nam thời Pháp thuộc”(1959), Nxb Văn Sử Địa đã tái hiện lại quá trình phát
triển của giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc. Từ đó có thể nhìn thấy sơ
bộ về thời kỳ hình thành giai cấp tư sản Việt Nam. Tác giả đã đi sâu tìm hiểu
về nguồn gốc xuất hiện của giai cấp tư sản Việt Nam trong một điều kiện xuất
hiện mà chủ nghĩa đế quốc Pháp nắm toàn quyền thống trị và chế độ phong
kiến Việt Nam được duy trì và phát triển. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đi sâu
tìm hiểu về mối quan hệ giữa giai cấp tư sản Việt Nam với đế quốc Pháp và
giai cấp địa chủ Việt Nam, từ đó rút ra mấy đặc điểm về kinh tế của giai cấp
tư sản Việt Nam trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Tác giả cũng đã giới
thiệu sơ lược về thái độ chính trị của giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam đối với
phong trào Cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, do nguồn sử liệu còn nghèo nàn
nên tác phẩm chưa giải quyết được một cách thỏa đáng, đúng mức với vị trí,
vai trò của giai cấp tư sản đối với phong trào Cách mạng Việt Nam thời kì
1919-1945.
Vấn đề nhận định về giai cấp tư sản Việt Nam trong thời gian gần đây
đã được đặc biệt chú ý. Trong tác phẩm “Một số ý kiến về sự hình thành và
phát triển của giai cấp tư sản Việt Nam” (1959), Nxb Sự thật của Minh Tranh
và Nguyễn Kiến Giang, đã đề cập khá sâu sắc đến vấn đề: Lực lượng kinh tế
của giai cấp tư sản như thế nào? Tính chất của họ ra sao? Mại bản hay dân
tộc, thái độ chính trị của họ trong cuộc Cách mạng như thế nào?...
nghiên cứu tìm hiểu về giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc, rút ra được
một số nhận xét về mặt tích cực cũng như hạn chế của giai cấp tư sản Việt
Nam thời Pháp thuộc.
Đề tài này dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ công tác nghiên cứu,
giảng dạy.
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Nguyễn Thị Thơm K34A Sử
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài này tập trung tìm hiểu về giai cấp tư sản Việt Nam thời kì 19191945 trên các khía cạnh như : Qúa trình hình thành, phát triển cũng như vai
trò chính trị của giai cấp tư sản Việt Nam đối với phong trào cách mạng Việt
Nam thời kì 1919-1945.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Giai đoạn 1919-1945.
Về không gian: Giai cấp tư sản ở Việt Nam.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Để hoàn thành khóa luận này, tác giả đã sử dụng các nguồn tài tư liệu
gốc là các cuốn sách được lưu trữ tại thư viện Quốc gia, thư viện khoa Sử
trường Khoa học Xã hội và Nhân văn như các tác phẩm : “Tìm hiểu giai cấp
tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc” của tác giả Nguyễn Công Bình; “Một số ý
kiến về sự hình thành và phát triển của giai cấp tư sản Việt Nam” của Minh
Tranh và Nguyễn Kiến Giang...
Nguồn tài liệu tham khảo là các bài báo, tạp chí, tập san nghiên cứu
viết về quá trình hình thành, phát triển và vai trò của giai cấp tư sản Việt Nam
Nguồn tài liệu từ các công trình nghiên cứu chuyên sâu của nhiều tác
giả được lưu trữ tại thư viện khoa Sử của trường Khoa học Xã hội và Nhân
Chương 1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
GIAI CẤP TƯ SẢN VIỆT NAM THỜI KÌ 1919-1945
1.1. ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH GIAI CẤP TƯ SẢN VIỆT NAM
Những điều kiện đầu tiên cần phải có để cho nền sản xuất tư bản chủ
nghĩa phát sinh là nền sản xuất hàng hóa giản đơn và mối trao đổi trên thị
trường phải phát triển đến mức độ làm cho nhiều tiền bạc được tập trung lại
trong tay của một số người. Đồng thời xã hội ở thành thị và nông thôn phân
hóa tạo nên tầng lớp vô sản làm thuê. Rồi khi đó những người tích lũy được
nhiều tiền của sẽ sử dụng người vô sản làm thuê, chuyên sản xuất hàng hóa
kiếm lời, thì nền sản xuất tư bản chủ nghĩa mới ra đời. Trong “Các Mác và
chủ nghĩa Mác”, Lê-Nin đã thuyết minh học thuyết thiên tài của Mác về sự
xuất hiện nền kinh tế tư bản chủ nghĩa rằng: “Điều kiện lịch sử tiên quyết cho
tư bản xuất hiện, trước hết là ở chỗ phải có một số tiền nào đó tích lũy trong
tay những tư nhân, ở một giai đoạn sản xuất hàng hóa đã tương đối cao; sau
nữa là ở chỗ phải có những công nhân tự do về hai phương tiện: tự do không
bị bó buộc hạn chế gì cả trong việc bán sức lao động của họ, và tự do vì
không có ruộng đất và nói chung không có tư liệu sản xuất; phải có những
công nhân không có chủ, những công nhân vô sản chỉ có thể sống được bằng
cách bán sức lao động của mình” [3, tr.33]. Đó cũng là quy luật chung của sự
ra đời của chủ nghĩa tư bản ở tất cả các nước.
Muốn bàn đến sự hình thành của giai cấp tư sản Việt Nam, trước hết
chúng ta hãy cùng nhau xét đến ý niệm của hai tiếng tư sản. Hai tiếng này
dịch từ chữ bourgeois mà ra. Nhiều sách Trung Quốc trước kia đã dịch là thị
dân và cũng có sách đã dịch âm bua-geoa. Hiện nay thì thống nhất là tư sản.
Trong các sách báo Việt Nam, chữ bourgeois cũng đã lần lượt phiên dịch
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Nguyễn Thị Thơm K34A Sử
tế tư bản ngoại quốc thâm nhập vào Việt Nam đã làm phá vỡ tính chất tự
nhiên của nền kinh tế Việt Nam, làm cho thị trường Việt Nam được mở rộng.
Những điều kiện đó đã kích thích khách quan cho giai cấp tư sản Việt Nam
phát triển.
Trong nền kinh tế thuộc địa nửa phong kiến đã có những tư nhân Việt
Nam tích lũy được nhiều của cải bằng bóc lột, cướp đoạt, làm vô sản hóa
nhiều người sản xuất khác. Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa đã thúc đẩy
họ trở thành những chủ xí nghiệp tư bản chủ nghĩa. Sự phát triển của kinh tế
hàng hóa đã tạo nên sự phân hóa trong nội bộ đám người tiểu sản xuất hàng
hóa, một số ít giàu có trở thành chủ xí nghiệp trong khi một số khác trở thành
vô sản làm thuê. Để cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ra đời và phát triển phải
có những tư nhân tập trung được nhiều tiền của vào tay bằng nhiều hình thức,
đồng thời tạo ra tầng lớp vô sản bán sức lao động cho họ. Giai cấp tư sản Việt
Nam hình thành trong thời Pháp thuộc, thực dân Pháp dùng phương thức bóc
lột đế quốc chủ nghĩa để cướp đoạt tài nguyên nhằm thu lợi nhuận cao nhất ở
thuộc địa Việt Nam. Trong điều kiện đó, dĩ nhiên giai cấp tư sản Việt Nam
không thể có những hình thức và mức độ tích lũy tư bản đầu tiên giống như
giai cấp tư sản các nước tư bản Âu châu trước kia. Sự phát triển của nền kinh
tế thuộc địa nửa phong kiến đã tạo nên nhiều hình thức cho tư nhân Việt Nam
tích lũy tiền của trước khi trở thành chủ xí nghiệp tư bản chủ nghĩa.
Khi thị trường Việt Nam được mở rộng từ Bắc tới Nam, hàng hóa xuất
nhập cảng ngày một nhiều thì tầng lớp thương nhân Việt Nam cũng ngày một
đông, vai trò môi giới của thương nhân cũng ngày một quan trọng. Nhiều
thương nhân đã làm giàu khá nhanh chóng bằng những biện pháp sau: Tăng
cường trao đổi không ngang giá giữa họ với người sản xuất, giữa họ với
đoạt tiền vốn của nông dân. Nông dân nghèo túng đã phải bán hết nông phẩm
để nộp thuế, tô và trả nợ, do đó họ ngày càng lệ thuộc chặt chẽ hơn vào địa
chủ. Thực dân Pháp tiến hành cướp đoạt ruộng đất của nông dân đem cho
hoặc bán rẻ cho tay sai để biến bọn này thành địa chủ. Kết quả là sở hữu
ruộng đất của giai cấp địa chủ ngày càng nhiều. Tầng lớp đại địa chủ phát
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Nguyễn Thị Thơm K34A Sử
triển. Đại địa chủ Bắc Kì chiếm 17% diện tích cấy lúa Bắc Kì. Ruộng đất tập
trung mạnh nhất vào tay đại địa chủ Nam Kì chiếm tới 34% tổng diện tích cấy
lúa ở Nam Kì. Sự tập trung ruộng đất vào tay địa chủ với nhiều hình thức bóc
lột phong kiến nặng nề, đã tạo điều kiện cho thực dân Pháp thực hiện chính
sách bóc lột nhân công với giá rẻ mạt, kìm hãm sự phát triển của nền công
nghiệp dân tộc Việt Nam và là một hình thức cho địa chủ tập trung nhiều tiền
của trong tay. Địa chủ đã sử dụng số tiền này vào việc cho vay và mở rộng
thêm đồn điền, trại, ấp, phát canh cho nông dân tá điền. Đã có không ít địa
chủ dùng tiền của tích lũy được lập hội buôn, mở xưởng kinh doanh theo lối
tư bản chủ nghĩa. Từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, xu hướng tập trung
ruộng đất vào tay địa chủ đã phát triển, lúc đó cũng đã có một số ít địa chủ tư
sản hóa. Từ sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918), sự tập trung
ruộng đất vào tay địa chủ ngày càng nhiều, nhất là ở Nam Kì. Rất nhiều nông
dân bị cướp đoạt hết đất đai. Một số ít địa chủ đã mở xưởng cưa, lò gạch, máy
xay sử dụng hàng chục công nhân. Trong điều kiện mà thóc lúa địa chủ bị
cuốn vào thị trường, việc mua bán lúa gạo rất thịnh hành ở Nam Kì, nên cũng
có nhiều địa chủ bỏ vốn lập ra các công ty buôn bán lúa gạo kiếm lời, một số
còn chung vốn với tư bản ngoại quốc để kinh doanh. Trần Trinh Trạch- đại
địa chủ ở Bắc Kỳ có 17.000 mẫu tây đất và Nguyễn Tấn Sử- đại địa chủ ở Bà
số quan chức về hưu ở Thái Bình mở Công ty Nam Phong chuyên dệt chiếu
bán trực tiếp cho lái buôn nước ngoài. Một số đã có ý thức chung vốn lại
thành lập những công ty lớn để có thể cạnh tranh với Pháp và Hoa Kiều. Ở
Quảng Nam, có Quảng Nam hiệp thương công ty phát triển từ năm 19061907, vốn chừng 20 vạn đồng, thu mua lâm thổ sản ở nông thôn chở đi Hà
Nội, Sài Gòn, Hồng Kông bán, rồi lại mua hàng ở các nước đó về. Ở Phan
Thiết có công ty nước mắm Liên Thành đặt nhiều chi nhánh trong nước. Công
ty Phượng Lâu (Thanh Hóa) chuyên buôn tơ lụa, năm 1907 phát triển thêm
nhiều chi nhánh ở Huế, Vinh, Hà Tĩnh.....
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Nguyễn Thị Thơm K34A Sử
Cũng có những người hoạt động yêu nước chuyển sang kinh doanh
thương nghiệp để hỗ trợ cho công tác chính trị. Ở Nghệ An, Đặng Nguyên
Cẩn, Ngô Đức Kế mở Triêu Dương thương quán. Ở Hà Tĩnh, Lê Văn Huân
mở hội buôn Mộng Hanh. Ở Hà Nội, Nguyễn Quyền mở hiệu Hồng Tân
Hưng; Hoàng Tăng Bí lập công ty Đông Thành Xương.... Những công ty này
ít vốn, cổ phần nhỏ nên quy mô kinh doanh không phát triển mạnh.
Đó là mấy hình thức chủ yếu về sự tập trung của cải của giai cấp tư sản
Việt Nam trước khi nó ra đời. Do sự thống trị kinh tế của thực dân Pháp và
phong kiến Việt Nam, những hình thức tích lũy của cải ấy đều bị hạn chế và
không có tính chất triệt để. Sự tích lũy của cải bị hạn chế khiến cho tư sản
Việt Nam không thể mở nhiều đại xí nghiệp, kinh tế của họ nhỏ bé và bị phụ
thuộc nhiều vào kinh tế của đế quốc.
1.1.1.2. Tích lũy nhân công
Do chính sách bóc lột và cướp đoạt dã man của thực dân Pháp và
phong kiến Việt Nam đã đẩy sự phá sản trong nông dân, thợ thủ công, dân
nghèo thành thị... ngày càng diễn ra trầm trọng. Chính sách bóc lột của thực
Pháp là chính sách tăng thêm các thứ thuế cũ và đặt thêm nhiều thứ thuế mới.
Chính sách đó không cần tính đến khả năng đóng góp của nhân dân, nhất là
nông dân mà chỉ nhằm mục đích rút ruột nông dân, vơ vét đến cùng cho đầy
túi của chúng. Trong rất nhiều thứ thuế phong kiến được giữ lại, thứ thuế bất
công nhất, tàn dư của thời trung cổ, mà nhân dân ta phải gánh là thuế thân- nó
làm cho nông dân vô cùng khốn quẫn. Trong tình trạng nghèo khổ, nông dân
thiếu thuế là một điều rất dễ hiểu. Nông dân phá sản, ruộng đất càng tập trung
vào tay địa chủ, thực dân.
Sau gánh nặng thuế má là gánh nặng muối, thực dân Pháp đã nắm độc
quyền bán muối từ năm 1897. Chúng đã nâng giá muối bán một cách vô lý từ
0 $50 một tạ năm 1897 lên 2$25 năm 1907. Về rượu chúng cũng nâng giá bán
rượu từ 5 hoặc 6 xu một lít lên 0$26 năm 1926. Cùng với việc tăng sản xuất
lượng rượu thì thuế rượu cùng không ngừng tăng lên. Báo Rạng đông Đông
Dương, ra ngày 8-9-1934 viết: “Chính phủ quyết định từ nay mỗi người dân
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Nguyễn Thị Thơm K34A Sử
phải tiêu thụ 7 lít rượu. Tất cả các làng không mua đủ số rượu mà chính phủ
quy định sẽ coi như là đã làm loạn và hương lý sẽ bị trừng phạt. Số rượu phân
phối cho từng làng căn cứ theo số dân đinh, cứ mỗi người 7 lít. Số tiền bán
rượu dù hết hay không cũng phải trả đủ. Việc tiêu thụ rượu là điều bắt buộc
trước hết ở Bắc Kì và Trung Kì, rối sau tới Nam Kì và trong toàn liên bang”
[15, tr.101].
Một trong những nguồn bóc lột chủ yếu của thực dân Pháp là độc
quyền thương mại, nhất là trong vấn đề thu mua thóc gạo để xuất khẩu kiếm
lãi và đầu cơ thóc gạo để lũng đoạn thị trường thóc gạo trong nước. Nhờ cả
một loạt chính sách về thuế quan và giá cả, nền thương mại ở Đông Dương
những người trồng dâu nuôi tằm ở địa phương vay vốn lấy lãi để rồi thu mua
tơ cho họ với giá rẻ. Nhờ đó mà đầu thế kỉ XX, hãng này mới là một chủ xí
nghiệp nhỏ, nhưng khoảng năm 1920 đã có trên một 100 công nhân ươm tơ,
dệt lụa, có 30 mẫu trồng dâu, 200 mẫu trồng lúa. Trong giai cấp tư sản Việt
Nam có nhiều người kiêm địa chủ, họ vốn là địa chủ có kinh doanh công
thương nghiệp hay vốn là nhà công thương nghiệp nhưng tậu thêm ruộng đất
cho phát canh thu tô. Số tư sản này chẳng những bóc lột công nhân, còn bóc
lột nông dân bằng nhiều biện pháp như: Chế độ tô tức nặng nề của địa chủ
làm cho nông dân mất dần đất đai vào tay chúng, chế độ thuế khóa nặng nề
của đế quốc làm cho nông dân bị bần cùng hóa phải bán rẻ ruộng đất cho địa
chủ. Nông dân còn bị bóc lột nặng nề về mặt thương nghiệp, trong khi cần có
tiền nộp sưu thuế, trả nợ lãi, mua tư liệu sản xuất và tiêu dùng bắt buộc họ
phải bán nông phẩm đi. Nông dân nghèo túng đã phải bán hết số nông phẩm
để nộp thuế, tô và trả nợ lãi thì họ phải lệ thuộc chặt chẽ hơn vào địa chủ. Các
thứ thuế trực thu và gián thu đặt ra sau chiến tranh ngày một nhiều và nặng
nề. Một người dân ở Nam Kì năm 1913 nộp 5$85 thuế thân, năm 1930 tăng
lên tới 7$50. Đế quốc Pháp còn cướp đoạt ruộng đất của nông dân đem cho
chúng hoặc bán rẻ cho bọn tay sai của chúng, biến bọn này thành địa chủ. Kết
quả là sở hữu ruộng đất của giai cấp đại chủ ngày càng nhiều. Theo thống kê
năm 1930, ở 18 tỉnh Bắc Kì có tới 594.091 gia đình chỉ có dưới một mẫu
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Nguyễn Thị Thơm K34A Sử
ruộng còn ở 13 tỉnh Trung Kì là 449.391gia đình chỉ có dưới một mẫu ruộng.
Họ bắt buộc phải đi làm thuê để sống và lĩnh canh ruộng của địa chủ. Đội
quân vô sản và nửa vô sản một phần sống trong cảnh bần cùng hóa ở nông
thôn, làm thuê cho phú nông địa chủ, một phần phải bỏ đi làm hầm mỏ, đồn
Ở nước ta đầu thế kỷ XX, chính sách cai trị của thực dân Pháp đã tước
đoạt hết quyền tự do của nhân dân ta. Chính sách khai thác của thực dân Pháp
đã làm cho nền kinh tế nước ta bị phụ thuộc hoàn toàn vào nền kinh tế nước
Pháp. Những nhà máy, xí nghiệp, hãng buôn, hệ thống giao thông hợp thành
bộ phận kinh tế tư bản thực dân chỉ có tác dụng tiêu thụ hàng công nghiệp của
tư bản Pháp, vơ vét các mặt hàng nông, lâm để xuất khẩu và ăn cướp có tổ
chức tài nguyên thiên nhiên của nước ta. Nhưng mặt khác, kinh tế tư bản
ngoại quốc thâm nhập vào Việt Nam đã làm phá vỡ tính chất tự nhiên của nền
kinh tế Việt Nam, làm cho thị trường được mở rộng. Bên cạnh các tầng lớp
giai cấp đại diện cho xã hội Việt Nam truyền thống, những giai cấp mới cũng
có sự phát triển và phân hóa ngày càng rõ hơn. Trên cơ sở những biến đổi về
kinh tế và xã hội Việt Nam, cộng với ảnh hưởng cuộc vận động biến pháp từ
bên ngoài dội vào, tư tưởng dân chủ tư sản bắt đầu xuất hiện trên vũ đài chính
trị Việt Nam. Cũng như ở Trung Quốc, trào lưu tư tưởng mới có thể thâm
nhập vào Việt Nam một khi nền kinh tế mới, kinh tế tư bản dần xuất hiện.
Nhưng trào lưu tư tưởng mới chưa có thể thông qua giai cấp tư sản dân tộc
bấy giờ chưa hình thành, mà lại thông qua một số sĩ phu tiến bộ trong giai cấp
phong kiến có xu hướng tư sản hóa.
Đầu thế kỷ XX, xuất hiện tầng lớp tư sản và tiểu tư sản thành thị. Vì bị
thực dân Pháp chèn ép nặng nề, tư sản Việt Nam phát triển chậm chạp về mọi
mặt, chưa đủ điều kiện hình thành một giai cấp. Tuy vậy, sự phát triển của
nền kinh tế tư bản chủ nghĩa nói chung và sự lớn lên của tầng lớp tư sản dân
tộc nói riêng đã trở thành cơ sở thuận lợi cho sự tiếp thu các trào lưu tư tưởng
cách mạng từ bên ngoài dội vào. Giai cấp tư sản ở Việt Nam ra đời muộn hơn
so với sự hình thành giai cấp tư sản trên thế giới. Nó ra đời ở một nước thuộc
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Nguyễn Thị Thơm K34A Sử
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Nguyễn Thị Thơm K34A Sử
Ngoài tác động của các sự kiện của Nhật Bản, thời kỳ này còn có các
sự kiện diễn ra tại Trung Hoa. Đối với nước ta, Trung Hoa không chỉ là nước
đồng văn, đồng chủng, mà còn là nước cùng cảnh ngộ, ảnh hưởng nho giáo
Trung Quốc ở Việt Nam hết sức sâu đậm. Đầu thế kỷ XX, hầu hết các chí sĩ,
cách mạng yêu nước đều xuất thân từ tầng lớp sĩ phu nho học. Trong những
năm 90 của thế kỷ XX, nhiều tác phẩm của phái cấp tiến Trung Quốc đã được
đưa vào Hải Phòng, Sài Gòn, Đà Nẵng..... nơi có đông đảo Hoa Kiều sinh
sống. Mặc dù cuộc vận động cải cách ở Trung Quốc bị thất bại, nhưng những
tư tưởng tiến bộ của Khang, Lương và cuộc chính biến đã gây được tiếng
vang lớn, hướng nhân dân Trung Quốc về hoài bão một nước Trung Quốc
mới, giàu mạnh ngang bằng các nước tư bản phương Tây. Cũng nhờ đó, một
trào lưu văn hóa, tư tưởng tiến bộ của phương Tây thâm nhập vào Trung
Quốc và bắt đầu tấn công tư tưởng phong kiến quan liêu hủ bại, mở đường
cho tư tưởng dân chủ tư sản phát triển trong xã hội Trung Quốc. Nó thức tỉnh
nhân dân yêu nước, đề cao ý thức độc lập dân tộc, chống ngoại xâm và ý thức
dân chủ chống chuyên chế.
Việt Nam cũng nằm trong sự vận động chung của lịch sử Đông Á khi
đó. Chính vì vậy mà họ đã tiếp thu hệ tư tưởng dân chủ tư sản từ các nước
như Trung Quốc, Nhật Bản. Cho dù tư tưởng dân chủ tư sản đã là lạc hậu đối
với các nước Châu Âu, nhưng đối với phương Đông nói chung và Việt Nam
nói riêng đầu thế kỷ XX thì nó được xem là tiên tiến và cần thiết.
Trong đó, có một bộ phận tiểu tư sản đã theo xu hướng cách mạng tư
sản, và có ảnh hưởng của chủ nghĩa Tam dân của Quốc dân Đảng Trung Quốc
do Tôn Dật Tiên lãnh đạo. Họ tập hợp trong tổ chức Việt Nam Quốc dân
Đảng - tổ chức chính trị của tư sản Việt Nam. Nhưng khi Việt Nam Quốc dân
Đảng thành lập (1927) thì Quốc dân Đảng Trung Quốc do Tưởng Giới Thạch
khác kìm hãm nó phát triển. Lúc đó, ý thức của giai cấp tư sản Việt Nam cũng
đồng thời nảy sinh để bảo vệ và đấu tranh cho quyền lợi của họ” [3, tr.21].
Như vậy, sự phát triển của tầng lớp tư sản trải qua một quá trình nhất định .
Bắt đầu là lớp nhà buôn và người thủ công ở thành thị trong điều kiện sản
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Nguyễn Thị Thơm K34A Sử
xuất hàng hóa giản đơn, tới khi công trường thủ công xuất hiện, việc bóc lột
công nhân làm thuê nảy ra, sức lao động biến thành hàng hóa, sự bóc lột giá
trị thặng dư của công nhân làm thuê bắt đầu và mở rộng, kinh tế hàng hóa và
tiền tệ lôi cuốn kinh tế nông dân thì lúc bấy giờ mới có tầng lớp thực sự là tư
sản. Đến giữa thế kỷ XX, giai cấp tư sản Việt Nam thực sự ra đời. Quá trình
phát triển của giai cấp tư sản Việt Nam từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất
(1914-1918) là một quá trình lớn mạnh và chuyển biến từ tầng lớp sang giai
cấp.
1.2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIAI CẤP
TƯ SẢN VIỆT NAM THỜI KỲ 1919-1945
1.2.1. Giai cấp tư sản Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất
(1914-1918) đến khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933)
Trong thời kì đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918), công thương
nghiệp Việt Nam có phát triển hơn. Xuất hiện một số xí nghiệp có tính chất
cơ khí mới, tuy nhiên địa vị kinh tế của tư sản Việt Nam vẫn mờ nhạt trên thị
trường. Dù sao tầng lớp tư sản Việt Nam lúc này cũng đang ở trên một đà
phát triển mới, họ đang tăng cường việc tích lũy tư bản. Đáng chú ý là một số
tư sản lớn đã xuất hiện. Đó cũng là một báo hiệu rằng: Tầng lớp tư sản Việt
Nam đang có những biến chuyển để rồi họ có thể trở thành một lực lượng
đáng kể trong xã hội Việt Nam ở một giai đoạn tới.
Pháp thuộc, khi nền kinh tế hàng hóa giản đơn phát triển tới mức độ làm nảy
sinh mầm mống quan hệ tư bản chủ nghĩa. Vào khoảng những năm 20 của thế
kỷ XX giai cấp tư sản Việt Nam ra đời. Nhưng giai cấp tư sản Việt Nam chỉ
có thể thực sự hình thành một khi lực lượng tư sản Việt Nam đã tập hợp thành
một tập đoàn người có địa vị kinh tế riêng. Trên cơ sở kinh tế đó, bộ phận
kinh tế của tư sản Việt Nam sẽ mâu thuẫn với bộ phận kinh tế khác kìm hãm
nó phát triển. Lúc đó ý thức hệ tư sản cũng đồng thời nảy sinh để bảo vệ và
đấu tranh cho quyền lợi giai cấp họ.
Từ sau đại chiến lần thứ hai giai cấp tư sản Việt Nam có hai đặc điểm
nổi bật đó là:
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Nguyễn Thị Thơm K34A Sử
Tư sản Việt Nam đã thành lập được nhiều hội buôn và không ít xí
nghiệp, trong đó có một số xí nghiệp khá to, do đó địa vị kinh tế của tư sản
cũng khá rõ rệt trên thị trường.
Ý thức của giai cấp tư sản Việt Nam đã thể hiện khá rõ nét.
Đó là hai đặc điểm mà từ trước đại chiến lần thứ nhất chưa có, đồng
thời cũng là hai điều kiện thiết yếu cho giai cấp tư sản Việt Nam hình thành.
Hai đặc điểm ấy đã diễn ra cụ thể như sau:
Về kinh tế: Trước Đại chiến lần thứ nhất, xí nghiệp tư bản chủ nghĩa
Việt Nam phần lớn là những công trường thủ công nhỏ bé, chỉ thuê dăm bảy
công nhân thủ công, nhiều ra là vài chục công nhân. Những xí nghiệp lớn còn
là một giấc mơ của tầng lớp công thương Việt Nam lúc bấy giờ. Đến khoảng
1919-1921 có khá nhiều xí nghiệp mới xuất hiện như xí nghiệp dệt ở Vinh An
-Huế, Chân Thụy -Hà Nội, nhà máy gạch Hưng Kì -Bắc Ninh, Nguyễn Văn
Diệm -Cầu Giấy..., sử dụng từ 30- 40 công nhân. Ngoài ra còn có nhiều công
thức giai cấp trong lĩnh vực kinh tế, họ còn biểu lộ trong lĩnh vực chính trị và
văn hóa. Họ muốn được tự do tham gia vào Hội đồng Quản hạt, Viện Dân
biểu, họ muốn có Hiến pháp, có Nghị viện như trong một chế độ tư bản, họ
muốn có chính đảng của giai cấp tư sản Việt Nam.
Như vậy, từ sau đại chiền thế giới lần thứ nhất (1914-1918), tư sản Việt
Nam đã trở thành một giai cấp có địa vị kinh tế trong nền kinh tế chung của
xã hội, đồng thời có một ý thức giai cấp rõ rệt.
1.2.1.2. Sự phát triển của giai cấp tư sản Việt Nam trong thời kì này
Có thể nói chưa bao giờ người ta thấy thương nhân Việt Nam hoạt
động mạnh như trong thời kì này. Nhiều thương nhân Việt Nam có tàu và
thuyền trực tiếp buôn bán với nước ngoài như Trung Quốc, Hồng Kông,
Nhật...Thuyền bè Việt Nam ra vào các cửa biển buôn hàng hóa giữa NamBắc, giữa trong nước và ngoài nước ngày càng tăng lên. Theo thống kê mấy
năm sau Đại chiến, hoạt động của thuyền buôn xuất nhập cảng của Việt Nam
dần dần tăng lên. Tổng số hàng hóa do thuyền Việt Nam xuất cảng từ 3 tới 7
nghìn tấn (1922: 6 nghìn tấn, 1923: 3 nghìn tấn, 1924: 6 nghìn tấn, 1926: 7