Đầu tư phát triển vào lĩnh vực GD-ĐT ở Việt Nam trong những năm gần đây - Pdf 31

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ năm
1986. Kể từ đó, Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi mới
về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao
cấp, sang kinh tế thị trường định hướng XHCN thực hiện CNH-HĐH đất
nước, đa dạng hoá và đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện
mở cửa, hội nhập quốc tế. Con đường đổi mới đó đã giúp Việt Nam giảm
nhanh được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với sự công bằng tương đối
trong xã hội. Tiền đề phát triển đất nước trong thời kỳ mới chính là do sức
mạnh của con người Việt Nam quyết định. GD- ĐT là con đường quan trọng
nhất để xây dựng nguồn nhân lực và làm nên sức mạnh ấy.
Ngành GD- ĐT muốn phát triển được và đáp ứng yêu cầu của thời kỳ
mới nhất thiết phải được đầu tư cả về sức người và sức của. Đầu tư cho GD-
ĐT là một nội dung trong đầu tư phát triển con người. Từ trước đến nay đào
tạo bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực luôn được Đảng và Nhà
ta coi là hoạt động đầu tư cơ bản nhất. Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt
Nam đã khẳng định mục tiêu tổng quát của Chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội 2001-2010 là: “Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng
cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để
đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng
hiện đại hoá”. “ Con đường CNH- HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời
gian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vưac có những bước
nhẩy vọt…”. Để đạt được các mục tiêu nêu trên, giáo dục và khoa học công
nghệ có vai trò quyết định,nhu cầu phát triển giáo dục là rất bức thiết.
Việc đầu tư vào lĩnh vực GD- ĐT đã gặt hái nhiều thành tựu đáp ứng
công cuộc CNH- HĐH ở Việt Nam cụ thể như quy mô GD-ĐT được mở
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
rộng, đa dạng hóa các hình thức GD-ĐT đồng thời không ngừng nâng cao dân
trí và tăng cường cơ sở vật chất hạ tầng nhà trường. Tuy nhiên thực tế vốn

cho trẻ em vào lớp một (Điều 22- Luật Giáo dục ,2005)
1.1.2. Quy mô giáo dục mầm non
Số lượng các trường mầm non, mẫu giáo, nhà trẻ tăng đáng kể, góp phần
giảm dân số xã trắng về cơ sở giáo dục mầm non. Hiện cả nước có hơn
10.000 cơ sở giáo dục mầm non. Số cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập
tăng nhanh, năm học 2003- 2004 có 35.66% số nhà trẻ và 40.56% trường mẫu
giáo thuộc loại hình ngoài công lập. Tổng số trẻ ra lớp trên toàn quốc đạt
khoảng 2.600.000 cháu. Trở ngại lớn nhất hiện nay là đội ngũ giáo viên mầm
non chưa đủ so với định mức, nhiều giáo viên chưa đạt tiêu chuẩn, phòng học
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
và đồ dùng dạy học còn thiếu nhiều. Ngoài ra, trong giáo dục mầm non còn có
khoảng cách đáng kể giữa vùng nông thôn và thành thị, giữa các vùng khác
nhau.
1.1.3.Chất lượng giáo dục mầm non
Chất lượng giáo dục mầm non được đánh giá qua chất lượng nuôi
dương, chăm sóc và tổ chức các hoạt động vui chơi để giáo dục trẻ; thể hiện ở
trình độ phát triển nhiều mặt của trẻ.
Trong mấy năm gần đây, tính trung bình hằng năm tỷ lệ trẻ suy dinh
dưỡng đối với từng vùng trong các cơ sở giáo dục mầm non giảm xuống rõ
rệt, từ 2- 3%/năm. Kết quả điều tra trên một mẫu lớn cho thấy, năm học 2003-
2004, tỷ lệ suy dưỡng ở nhà trẻ là 13.5%, mẫu giáo là 13%, thấp hơn nhiều so
với tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ trong cộng đồng( 28,4%).
Sự phát triển của trẻ ở các cơ sở giáo dục mầm non về các mặt thể chất,
nhận thức cao hơn so với những trẻ không ra lớp. Đại đa số trẻ ở các cơ sở
giáo dục mầm non đã có một số kỹ năng xã hội, hình thành được nề nếp, thói
quen, hành vi văn minh; có khả năng quan sát sự vật và hiện tượng tự nhiên
khá tinh tế so với lứa tuổi, trí tưởng tượng và sáng tạo phát triển khá tốt, có
cảm nhận thẩm mỹ. Trẻ 5 tuổi vào học mẫu giáo đã được chuẩn bị tương đối
đầy đủ để vào học ở bậc tiểu học như ngồi học tư thế đúng, tập trung nghe

viên THCS, THPT ở các vung khó khăn, thiếu giáo viên âm nhạc, mỹ thuật,
… Số học sinh tiểu học đang giảm dần và đi vào ổn định tạo điều kiện thuận
lợi cho việc nâng cao chât lượng của bậc học này và thực hiện phổ cập giáo
dục tiểu học đúng độ
1.2.2. Chất lượng giáo dục phổ thông
Về kiến thức, kỹ năng, khối lượng kiến thức cơ bản của học sinh phổ
thông hiện nay lớn và rộng hơn so với trước đây, nhất là về các môn khoa học
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tự nhiên, tin học và ngoại ngữ. Tỷ lệ học sinh khá giỏi có chiều hướng gia
tăng, tỷ lệ học sinh trung bình ổn định, tỷ lệ học sinh yếu kém và lưu ban
giảm.Trình độ của học sinh giỏi, học sinh các trường trọng điểm quốc gia,
trường chuyên, trường chuẩn quốc gia vẫn được duy trì và phát triển. Học
sinh Việt Nam luông đứng trong tốp 10 nước dẫn đầu về số huy chương đạt
được trong các kỳ thi toán quốc tế.
1.3. Giáo dục nghề nghiệp
Hệ thống giáo dục nghề nghiệp bao gồm dạy nghề và giáo dục trung cấp
chuyên nghiệp. Dạy nghề gồm 3 trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao
đẳng nghề.
1.3.1. Quy mô giáo dục nghề nghiệp
Dạy nghề đã được phục hồi sau nhiều năm suy giảm. Năm 2003, quy mô
tuyển sinh dạy nghề dài hạn và ngắn hạn đã tăng hơn 2 lần, tuyển sinh THCN
tăng 1.67 lần so với năm 1998. Ngoài hệ thống đào tạo chính quy, hệ đào tạo
nghề ngắn hạn trong những năm qua tập trung ở vùng Đồng Bằng Sông
Hồng(69 trường), vùng Đông Nam Bộ(52 trường) và vùng Đông Bắc(37
trường). Ba vùng này đã chiếm tới 70% tổng số trường dạy nghề của cả nước.
Các trường THCN cũng chỉ tập trung chủ yếu ở cac khu đô thị và thành phố
lớn như Hà Nội và TP.HCM. Tuy nhiên quy mô đào tạo nghề tuy tăng nhưng
chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao
động trong quá trình công nghiệp hoá và yêu cầu phát triển đa dạng về ngành

thí nghiệm, cơ sở thực hành, mua sắm thiết bị hiện đại và nối mạng internet.
Với số lượng khoảng 40.000 giảng viên so với quy mô trên 1 triệu sinh viên,
hầu hết các trường ĐH, CĐ đều thiếu giảng viên. Thêm vào đó, chưa có chính
sách thích hợp để thu hút đội ngũ cán bộ khoa học của các cơ quan nghiên
cứu tham gia giảng dạy tại các trường ĐH. Hoạt động nghiên cứu khoa học tại
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
các trường ĐH chưa được quan tâm đúng mức. Đa số giảng viên chỉ tập trung
vào giảng dạy, ít tham gia nghiên cứu khoa học.
1.4.2. Chất lượng giáo dục đại học và sau đại học
Chất lượng đào tạo đại học có sự phân tầng rõ rệt giữa các hệ chính quy
và không chính quy, giữa các trường công lập trọng điểm với trường công lập
địa phương và dân lập
Trong đào tạo cao học, đa số các ngành chưa mở rộng được chương trình
và nội dung đào tạo. Điều kiện cần thiết để nghiên cứu của học viên cao học
rất thiếu thốn như người hướng dẫn, tài liệu tham khảo, yêu cầu thực hành thí
nghiệm. Chất lượng đào tạo cao học nói chung còn hạn chế.
Trong tất cả các bậc học, ngoài hệ thống các trường công lập còn có
trường bán công, dân lập và tư thực. Bên cạnh hệ thống các trường chín quy,
ở tất cả các địa phương còn phát triển các trung tâm, cơ sở giáo dục không
chính quy, đáp ứng nhu cầu của người học từ xoá mù chữ, nâng cao trình độ
đến học nghề, tin học và ngoại ngữ
• Quy mô phát triển giáo dục không chính quy
Tính trung bình hàng năm có gần 300.000 người theo học các lớp bổ túc
văn hoá; khoảng 700.000 người theo học các chương trình bồi dưỡng ngoại
ngữ, tin học, giáo dục từ xa. Ngoài ra, còn có một số lượng lớn sinh viên các
khoá đào tạo liên kết giữa các trường và địa phương.
•Chất lượng giáo dục không chính quy
Trong những năm qua, các địa phương đã làm tốt công tác xoá mù chữ,
đồng thời giúp nhiều người có được những kiến thức thuộc các lĩnh vực cấn

ứng nhu cầu ngày càng lớn của mọi tầng lớp nhân dân về học tập và tiếp thu
những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, rèn luyện những phẩm chất, năng lực
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cần thiết trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập
kinh tế quốc tế.
Giáo dục nước ta phải vượt qua không chỉ những thách thức riêng của
giáo dục Việt Nam mà cả những thách thức chung của giáo dục thế giới. Một
mặt phải khắc phục những yếu kém bất cập, phát triển mạnh mẽ để thu hẹp
khoảng cách với những nền giáo dục tiên tiến cũng đang đổi mới và phát
triển. Mặt khác, phải khắc phục sự mất cân đối giữa yêu cầu phát triển nhanh
quy mô và đòi hỏi gấp rút nâng cao chất lượng; giữa yêu cầu vừa tạo được
chuyển biến cơ bản, toàn diện vừa giữ được sự ổn định tương đối của hệ
thống giáo dục.
Thực tiễn chuyển đổi cơ chế và phát triển kinh tế đòi hỏi giáo dục phải
tiếp cận và thích nghi với cơ chế mới, phải luôn phát triển và đi trước một
bước đón đầu sự phát triển của xã hội.
2.2. Đầu tư phát triển góp phần tạo ra các điều kiện đảm bảo phát triển GD-
ĐT
Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích
quốc gia, cộng đồng và nhà đầu tư điều này góp phần giải quyết công ăn việc
làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội
Phát triển giáo dục là nền tảng, nguồn nhân lực chất lượng cao là một
trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH là yếu tố cơ
bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Góp phần
không nhỏ vao việc nâng cao chất lượng giáo dục là các điều kiện bảo đảm
phát triển giáo dục, đó là đội ngũ giáo viên, chương trình, sách giáo khoa, cơ
sở vật chất, các chính sách quản lý và đầu tư cho giáo dục. Bản thân các điều
kiện này có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau.
a.Phát triển đội ngũ giáo viên

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phát triển Châu Á qua các dự án phát triển giáo dục ở các cấp học, bậc học.
Bằng việc thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn đầu tư các dự án vào lĩnh vực
giáo dục cùng với các chính sách của nhà nước đối với giáo dục sẽ tạo đà cho
bước phát triển mới cho giáo dục và đào tạo ở Việt Nam.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương II
Thực trạng đầu tư phát triển Giáo dục và đào tạo ở
Việt Nam
Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phát triển giáo dục là nền tảng, nguồn
nhân lực chất lượng cao là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội,
tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
I. Tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển cho GD- ĐT ở
Việt Nam
1. Nguồn vốn đầu tư phát triển GD- ĐT
Nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục và đào tạo bao gồm:
- Ngân sách nhà nước
- Học phí, lệ phí tuyển sinh; các khoản thu từ hoạt động tư vấn, chuyển
giao công nghệ, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các cơ sở giáo dục; đầu tư
của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài để phát triỂn giáo dục; các
khoản tài trợ khác của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài theo
quy định của pháp luật.
Bảng 2: Nguồn vốn đầu tư phát triển GD- ĐT giai đoạn 2001-2005
Năm 2001 2002 2003 2004 2005
1.TổngVĐT(tỷ đồng) 25.882 34.088 37.552 54.223 68.968
Ngân sách 15.337 19.898 22.777 32.819 41.547
các nguồn khác 10.545 14.19 14.775 21.404 27.421
2. Tốc độ tăng(%) 31,7 10,2 44,4 27,2

bố trí ngân sách giáo dục, bảo đảm tỷ lệ tăng chi ngân sách giáo dục hằng
năm cao hơn tỷ lệ tăng chi ngân sách nhà nước.
Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục phải được phân bổ theo nguyên tắc
công khai, tập trung dân chủ; căn cứ vào quy mô giáo dục, điều kiện phát
triển kinh tế- xã hội của từng vùng; thể hiện được chính sách ưu tiên của Nhà
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nước đối với giáo dục phổ cập, phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số và
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Cơ quan tài chính có trách nhiệm bố trí kinh phí giáo dục đầy đủ, kịp
thời, phù hợp với tiến độ của năm học. Cơ quan quản lý nhà nước có trách
nhiệm quản lý, sử dụng có hiệu quả phần ngân sách giáo dục được giao và các
nguồn thu khác theo quy định của pháp luật.
Bảng 3: Ngân sách nhà nước đầu tư phát triển GD- ĐT giai đoạn
2000-2005
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005
1.Tổng chi NSNN cho GD-
ĐT( tỷ đồng) 12.398 15.337 19.898 22.777 32.819 41.547
2.Chi thường xuyên ( tỷ
đồng) 8.88 10.816 14.128 18.625 25.927 32.406
Tỷ trọng so với tổng
NSNN(%) 71,6 70,5 71,0 81,7 79,0 78,0
3.Chi đầu tư (tỷ đồng) 3.518 4.521 5.77 4.152 6.892 9.141
Tỷ trọng so với tổng
NSNN(%) 28,4 29,5 29 18,3 21 22
(Nguồn Vụ kế hoạch- tài chính,Bộ GD-ĐT và sách: hệ thống những văn bản về chủ
trương, chính sách chiến lược phát triển GD Việt nam(đến 2020) và www.moet.gov.vn)
Qua bảng trên ta thấy rằng NSNN chi cho giáo dục đào tạo đã tăng thêm
trong các năm từ 2000 là 12.398 tỷ đồng sau 5 năm là năm 2005 là 41.547 tỷ
đồng. Như vậy ta có thể đánh giá rằng cùng với thời gian và sự phát triển nền

Mặt khác tình trạng trong thời gian qua đang làm xôn xao dư luân xã hội
đã làm cho gây mất lòng tin của Đảng và Nhân dân vào chất lượng giáo dục,
để giải quyết hiện tượng tiêu cực Chính phủ đã đưa ra nhiều biện pháp như
tăng cường việc kiểm tra giám sát, phát động phong trào chống tiêu cực trong
ngành giáo dục. Năm học mới 2007- 2008 ngành giáo dục và đào tạo sẽ tiếp
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tục thực hiện cuộc vận động đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực trong
giáo dục, với "căn bệnh" thành tích để nâng cao chất lượng dạy và học.
1.2. Các nguồn vốn khác
Bên cạnh nguồn vốn ngân sách nhà nước thì nhà nước cũng khuyến
khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân đầu tư, đóng góp trí tuệ , công sức,
tiên của cho giáo dục. Ngoài ra học phí, lệ phí tuyển sinh cũng là một nguồn
đầu tư vô cùng quan trọng của giáo dục. Học phi, lệ phí tuyển sinh là khoản
tiền của gia đình người học hoặc người học phải nộp để góp phần bảo đảm chi
phí cho các hoạt động giáo dục. Học sinh tiểu học trường công lập không phải
đóng học phí. Ngoài học phí và lệ phí tuyển sinh, người học hoặc gia đình
người học không phải đóng góp khoản tiền nào khác.
Chính phủ quy định cơ chế thu và sử dụng học phí đối với tất cả các loại
hình nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Hiện nay, mức đóng góp cho chi phí
giáo dục của gia đình và người đi học, theo ước lượng của một vài chuyên
gia, là 44,5% cho tiểu học; 48,7% cho Trung học cơ sở; 51,5% cho Trung học
phổ thông; 30,7% cho cao đẳng và đại học. Như vậy tổng số chi phí của tư
nhân cho giáo dục là khoảng 44%, nghĩa là 2,4%GDP. Tính đến năm 2005 chi
tiêu cho giáo dục và đào tạo ở Việt Nam chiếm 8,3% GDP, vượt cả Mỹ chỉ có
7,2%. Trong chi tiêu đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo thì ở các nước phát
triển cao chi trả 20% còn ở Việt Nam dân chi trả tới hơn 40%.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, thu hút
đầu tư từ các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước. Theo ước tính, từ năm
1990 đến nay, tổng giá trị đóng góp của các doanh nghiệp và nhà hảo tâm cho

tư phát triển GD-ĐT đạt hiệu qủa sẽ góp phần nâng cao chất lượng GD-ĐT.
Sau đây là bảng tổng kết:
18

Trích đoạn Nâng cao chất lượng quản lý đối với hoạt động đầu tư vào GD-ĐT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status