Đánh giá tác động của hoạt động sản xuất rượu truyền thống tới môi trường không khí và môi trường lao động tại làng vân vân hà việt yên bắc giang các giải pháp khắc phục - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo – Tiến sĩ Hoàng
Nguyễn Bình và Thạc sĩ Nguyễn Văn Hiếu đã tận tình hướng dẫn em trong
suốt quá trình thực hiện đề tài này. Em cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo
trong Ban Chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN và các thầy cô giáo trong tổ Động
Vật đã tạo điều kiện, giúp đỡ em hoàn thành đề tài.
Trong quá trình xây dựng đề tài, với sự cố gắng của bản thân nhưng đề
tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và chưa được hoàn hảo. Chính vì vậy
em mong các thầy cô giáo sửa chữa và đóng góp ý kiến để đề tài được hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày tháng

năm 2011

Người thực hiện

Nguyễn Thị Thu Hà

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hà

Lớp: K33A Sinh - KTNN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2


Nhu cầu oxy sinh hóa

COD

Nhu cầu oxy hóa học

TCCP

Tiêu chuẩn cho phép

UBND

Ủy ban nhân dân

DANH MỤC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 1:Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất
Bảng 2: Đặc trưng ô nhiễm từ sản xuất của một số loại hình làng nghề
Bảng 3: Tỷ lệ bệnh tật tại làng nghề Vạn Phúc (2000)
Bảng 4: Tải lượng khí khi sử dụng nhiên liệu đốt lò (hệ số tải lượng theo
Đặng Kim Chi)
Bảng 5: Số người mắc một số bệnh từ năm 2006-2009
Bảng 6: Số trẻ em dưới 10 tuổi mắc bệnh hô hấp từ năm 2006-2009
Bảng 7: Nhiệt độ ở các khoảng cách khác nhau xung quanh lò
Bảng 8: Bảng kiểm soát dân số nấu rượu
Bảng 9: Bảng sử dụng nguyên liệu than của một hộ dân

DANH MỤC SƠ ĐỒ TRONG LUẬN VĂN
Sơ đồ 1: Quy trình sản xuất rượu Vân và sản phẩm thải
Sơ đồ 2: Quy tắc phân phối Gauss trong phân phối chuẩn

2.1 Địa điểm nghiên cứu ............................................................................ 10
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hà

Lớp: K33A Sinh - KTNN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

2.2 Đối tượng nghiên cứu........................................................................... 10
2.3 Thời gian nghiên cứu............................................................................ 10
2.4 Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 10
CHƯƠNG 3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – XÃ HỘI VÀ QUY TRÌNH SẢN

XUẤT RƯỢU TẠI LÀNG VÂN, VÂN HÀ, VIỆT YÊN, BẮC GIANG 11
3.1 Sơ lược điều kiện tự nhiên – xã hội xã Vân Hà, Việt Yên, Bắc Giang .. 11
3.1.1 Vị trí địa lí ......................................................................................... 11
3.1.2Điều kiện khí hậu ............................................................................... 11
3.1.3 Điều kiện kinh tế - văn hóa – xã hội .................................................. 12
3.2 Quá trình sản xuất rượu tại làng Vân .................................................... 12
3.2.1 Sơ lược sự hình thành và phát triển của nghề nấu rượu Vân .............. 13
3.2.2 Quy trình sản xuất rượu tại làng Vân ................................................. 14
3.2.2.1 Quy trình sản xuất rượu sắn............................................................ 14
3.2.2.2 Quy trình sản xuất rượu gạo ........................................................... 17
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................. 19
4.1 Đánh giá tác động đến môi trường không khí từ quá trình sản xuất rượu
tại làng Vân ................................................................................................ 19
4.1.1 Nguồn thải......................................................................................... 19
4.1.2 Chất thải và tải lượng ........................................................................ 20

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hà

Lớp: K33A Sinh - KTNN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Nhiều
làng nghề đã nổi tiếng khắp trong và ngoài nước: gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội),
tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh), lụa Vạn Phúc (Hà Nội)... Trước đây làng
nghề không chỉ là trung tâm sản xuất thủ công mà còn là điểm văn hóa của
khu vực, của vùng, là nơi hội tụ những thợ thủ công có tay nghề cao mà tên
tuổi đã gắn liền với sản phẩm trong làng.
Trong những năm gần đây, làng nghề đang thay đổi nhanh chóng theo nền
kinh tế thị trường các hoạt động sản xuất tiểu thủ công phục vụ tiêu dùng
trong nước và xuất khẩu được tạo điều kiện phát triển. Làng nghề không
những tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động ở nông thôn mà
còn hạn chế sự di dân tự do ra thành thị, huy động được nguồn lực trong dân,
sử dụng nguồn tài nguyên sẵn có tại địa phương, giữ gìn bản sắc văn hóa lâu
đời của dân tộc, thu hẹp khoảng cách mức sống giữa nông thôn và thành thị.
Nghề nấu rượu của làng Vân cũng vậy.
Làng Vân (hay gọi đủ là Vạn Vân), xã Vân Hà, Việt Yên, Bắc Giang nơi
có truyền thống nấu rượu từ lâu đời (gọi là rượu làng Vân hay rượu Vân).
Rượu Vân có vị cay nồng, hương thơm đặc biệt ai uống một lần sẽ nhớ mãi.
Chính vì vậy rượu Vân đã được vua Lê Hy Tông (1703) sắc phong cho bốn
chữ vàng “Vân hương mỹ tửu”. Tiếng thơm của rượu Vân được lưu truyền

phương, được địa phương phổ biến cho người dân và đang từng bước được
người dân áp dụng thực hiện.
4. Ý nghĩa của đề tài
Công trình nghiên cứu sẽ góp phần:
1- Đánh giá tác động tiêu cực của quá trình sản xuất rượu tới môi trường
và sức khỏe con người.
2- Góp phần giảm thiểu những tác động tiêu cực của quá trình nấu rượu
tới môi trường và sức khỏe của người dân.
3- Đưa ra những giải pháp nhằm khôi phục, phát triển bền vựng nghề nấu
rượu gạo truyền thống. Đồng thời đảm bảo lợi ích của người dân, duy trì làng
nghề không bị ô nhiễm.
4- Các giải pháp đưa ra khả quan và có thể vận dụng để khôi phục, phát
triên bền vững nghề nấu rượu và cho các làng nghề tương tự.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hà

-3-

Lớp: K33A Sinh - KTNN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Sơ bộ tình hình làng nghề ở Việt Nam
Đa số các làng nghề ở nước ta đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm
năm, song song với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa với nông
nghiệp của đất nước. Nhờ vào chủ trương khôi phục và phát triển các làng


Chế biến

Tái chế

Thủ công

Vật liệu

Nghề

dệt nhuộm,

nông sản,

phế liệu

mỹ nghệ

xây dựng

khác

thuộc da

thực phẩm

Miền Bắc

138


5

93

5

42

Tổng cộng

173

197

90

618

31

341

Sự khôi phục và phát triển của các làng nghề Việt Nam có ý nghĩa tích
cực về kinh tế - xã hội, đặc biệt trong tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại
hoá đất nước. Tuy nhiên, việc sản xuất chưa gắn liền với biện pháp xử lý chất
thải, BVMT nên tại các làng nghề môi trường đang bị ô nhiễm nghiêm trọng,
ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân trong vùng.
1.2. Hiện tượng ô nhiễm ở các làng nghề Việt Nam
Song song với việc đem lại lợi ích kinh tế từ việc sản xuất của các làng

Khí thải

Nước thải

Chất thải rắn

Ươm tơ,dệt

Bụi, CO, SO2, NOx,

BOD5 COD, độ màu,

Xỉ than, tơ sợi, vải

nhuộm, thuộc da

hơi axit, hơi kiềm,

hoác chất, thuốc tẩy

vụn, cặn và bao bì hóa

dung môi

chất

Chế biến nông

Bụi, CO, SO2, NOx,


hóa chất

- Bụi, CO, hơi kim

- COD, SS, dầu

- Xỉ than, rỉ sắt, vụn

loại, hơi axit, Pb,

mỡ,kim loại

kim loại nặng (Cr6+,
Zn2+...)

ZN, HF, THC
- Tái chế nhựa

- Bụi, CO, Cl2,HCl,

- BOD5 COD, tổng

-Nhãn mác, tạp không

THC, hơi dung môi

N, tổng P, độ màu,

tái sinh, chi tiết kim


ZN, Pb, Cr
Vật liệu xây dựng

Bụi, CO, SO2, NOx,
HF, THC

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hà

SS, Si, Cr

-6-

Xỉ than, xỉ đá, đá vụn

Lớp: K33A Sinh - KTNN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

Kết quả khảo sát cho thấy, ở khu vực sản xuất làng nghề tái chế phế liệu
hàm lượng bụi đều vượt TCVN từ 3 – 8 lần, hàm lượng SO2 có nơi vượt đến
6,5 lần. Nước thải của các làng nghề ươm tơ, dệt nhuộm đều giàu chất hữu cơ:
hàm lượng COD, BOD5 gấp 2 – 15 lần TCVN.[1]
Chính môi trường sản xuất ô nhiễm đã làm cho sức khỏe của người dân
tại các làng nghề bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ví dụ như ở làng nghề dệt
nhuộm Vạn Phúc (Hà Nội) tỷ lệ những người mắc các bệnh về hô hấp, mắt,
viêm mũi, viêm xoang là khá cao. Ngoài ra những người mắc phải các căn
bệnh và tử vong do ung thư trong vài năm trở lại đây ngày càng tăng. Trong

4.

Đau sưng khớp

6

5.

Bệnh ngoài da

1

B

Bệnh mãn tính, trong đó

1.

Xương khớp

29

2.

Loét dạ dày, tá tràng

27

3.


kêu cứu bởi ô nhiễm chất thải, gây ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống của
người dân trong vùng. Vì vậy, việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề
đang là vấn đề cấp bách đòi hỏi các cấp chính quyền có phương án đồng bộ
và hiệu quả.
1.3. Các nghiên cứu về đánh giá tác động môi trường của các làng nghề ở
Việt Nam
Sự phát triển của các làng nghề truyền thống đem lại một nguồn thu nhập
đáng kể cho những người dân vùng nông thôn (chưa kể đến là đem lại thu
nhập chính). Chính vì vậy, mặc dù mục tiêu đến năm 2020 đất nước ta cơ bản
trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại nhưng Đảng và Nhà
Nước ta cũng không thể bỏ qua lợi ích của những hoạt động sản xuât thủ công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề truyền thống. Tuy nhiên bên
cạnh việc đem lại những lợi ích về kinh tế, các làng nghề truyền thống đang
đứng trước những thử thách khó khăn do cơ sở vật chất hạ tầng yếu kém, kỹ
thuật thủ công lạc hậu, thiếu vốn đầu tư,… nên hiệu quả kinh tế chưa cao và
khó cạnh tranh với các ngành nghề hiện đại khác, thêm vào đó các sản phẩm
thải của quá trình sản xuất thường được thải trực tiếp vào môi trường và chưa
qua xử lí cũng gây nên những tác động tiêu cực không nhỏ đến môi trường và
sức khỏe của con người.
Chính vì vậy, có rất nhiều những đề tài nghiên cứu sự tác động tiêu cực
của hoạt động sản xuất tại các làng nghề truyền thống tới môi trường tự nhiên
– xã hội và các biện pháp đưa ra nhằm hạn chế những tác động tiêu cực đó, ví
dụ:
­ Các kết quả khảo sát tại làng nghề giấy Phú Lâm và Phong Khê (Bắc
Ninh) của Viện Hóa học Công nghệ Môi trường, Đại học Bách khoa Hà Nội,
2005 cho thấy: bụi vượt vượt TCCP từ 1,1 – 1,3 lần, SO2 vượt 1,3 lần, H2S
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hà

-8-


­ Báo, tin tức của đài truyền hình Bắc Giang về những bức xúc tại làng
Vân, Bắc Giang.
­ Báo VOV News của Đài tiếng nói Việt Nam: Ô nhiễm môi trường tại
làng Vân.[11]
SVTH: Nguyễn Thị Thu Hà

-9-

Lớp: K33A Sinh - KTNN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

CHƯƠNG 2. ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu
­ Làng Vân, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
­ Quy trình sản xuất rượu tại làng Vân.
­ Sự ô nhiễm môi trường không khí, môi trường lao động tại làng Vân.
­ Sức khỏe của người dân trong làng.
2.3. Thời gian nghiên cứu
­ Từ tháng 8/2008 đến tháng 12/2009.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
 Điều tra, khảo sát thực địa:
­ Xác định các thông số tự nhiên (độ ẩm, nhiệt độ…)
­ Điều tra lịch sử nghề nấu rượu bằng phát vấn hoặc sưu tầm tài liệu.
­ Tìm hiểu quy trình sản xuất rượu xưa và nay.

Giang cách trung tâm huyện 12km và cách Thành phố Bắc Giang 22km. Xã
Vân Hà bao gồm 3 thôn: thôn Yên Viên (làng Vân), thôn Thổ Hà và thôn
Nguyệt Đức. Toàn xã có 3 mặt giáp sông Cầu và giáp danh với các xã:
­ Phía Bắc giáp với xã Tiên Sơn huyện Việt Yên.
­ Phía Nam giáp với xã Vạn An huyện Yên Phong-Bắc Ninh.
­ Phía Đông giáp với xã Hòa Long huyện Yên Phong-Bắc Ninh.
­ Phía Tây giáp với xã Tam Đa huyện Yên Phong-Bắc Ninh.
3.1.2. Điều kiện khí hậu.
Khí hậu xã Vân Hà mang đặc điểm khí hậu miền Bắc Việt Nam là khí hậu
nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều, một năm có hai mùa rõ rệt (mùa hè và
mùa đông).


Nhiệt độ
­ Mùa hè nhiệt độ trung bình là 300C, nhiệt độ cao nhất 40,50C.
­ Mùa đông nhiệt độ trung bình là 130C, nhiệt độ thấp nhất là 90C.



Độ ẩm
Độ ẩm tường đối cao, trung bình 83%/năm, có sự chênh lệnh không

nhỏ giữa các mùa trong năm.


Chế độ mưa:

Làng Vân có lượng mưa khá lớn vào tháng 6, tháng 7, tháng 8 hằng năm.
Lượng mưa lớn làm nước dâng cao, nên cũng chính những tháng đó làng Vân
thường phải chịu một đợt lụt hoặc ngập úng từ 15-20 ngày.

130ha. Tổng diện tích đất gieo trồng trông năm 2010 là 134 ha. Trong đó lúa
chiêm xuân 119,77 ha; lúa mùa muộn 102,98 ha, hoa mầu 8,62 ha. Đưa tổng
sản lượng lương thực trung bình 797,5 tấn.
Xã có 4 ngành nghề chính : nấu rượu, làm bánh nem-bánh tráng, đánh bắt
- chăn nuôi thủy sản và làm ruộng - chăn nuôi.
Làng Vân có nghề nấu rượu và làm ruộng là chủ yếu. Trong đó thu nhập
chính là nghề nấu rượu. Thu nhập trung bình một tháng của một hộ gia đình
vào khoảng 2.000.000VNĐ.


Văn hóa

Vân Hà là một xã có những làng nghề truyền thống điển hình của làng quê
Việt Nam. Ngoài hoạt động sản xuất nấu rượu của làng Vân; làm gốm, bánh
tráng, bánh nem của làng Thổ Hà thì xã Vân Hà cũng có những nét văn hóa
đặc sắc khác:
­ Rằm tháng giêng hàng năm làng Vân có lễ hội truyền thống, có đền thờ
Đức Thánh Tam Giang.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hà

- 12 -

Lớp: K33A Sinh - KTNN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2



Lớp: K33A Sinh - KTNN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

rất ngon”. Cũng giai đoạn đó nghề nấu rượu gạo đã đem lại sự hưng thịnh
cho người dân nơi đây và Vân Hà được coi là Lỵ sở của toàn huyện.[10]
Dưới triều đại phong kiến người dân làng Vân nấu rượu với quy trình thủ
công, lạc hậu, đồ dùng tự chế thô sơ còn được gọi là “nồi Ba ba” nên sản
lượng rượu không nhiều và thời gian chưng cất rượu là rất lâu (10-12h/mẻ).
Đến thời Pháp thuộc, dưới sự đầu tư và nghiên cứu của các chuyên gia
người Pháp kết hợp với ông Nguyễn Lễ (người Đáp Cầu) nghề nấu rượu của
làng Vân được mở rộng về quy mô và nâng cao về trình độ. Vào những năm
30 của thế kỷ XIX các nhà tư bản Pháp đã đầu tư vốn và xây dựng tại làng
Vân một nhà máy sản xuất rượu với công nghệ cao khác hẳn so với “nồi Ba
ba” cũ mà ngày nay người dân làng Vân vẫn đang sử dụng. Cũng chính vì vậy
mà rượu làng Vân còn được biết đến ở nhiều nước trên thế giới ngay từ thời
Pháp thuộc.
Nhưng đến những năm 60 của thế kỷ XIX khi lương thực, thực phẩm của
đất nước ta trở nên khan hiếm, đời sống nhân dân cùng cực khó khăn, lương
thực, thực phẩm đều được tập trung cho tiền tuyến thì việc nấu rượu bằng gạo
là một hành động vi phạm pháp luật. Vì vậy, để đảm bảo thu nhập kinh tế, bảo
tồn và duy trì nghề nấu rượu truyền thống người dân làng Vân đã chuyển sang
sử dụng một nguồn nguyên liệu mới đó là sắn, khoai, ngô… (trong đó sắn là
chủ yếu). Với việc thay đổi nguyên liệu sản xuất, rượu Vân không những vẫn
tồn tại, phát triển mà còn đem lại lợi ích kinh tế cho người dân dù rượu được
làm bằng sắn có chất lượng không cao bằng rượu gạo. Cho tới nay việc nấu

lớn qua đường liên xã Vân Hà-Tiên Sơn. Nguyên liệu được sử dụng để nấu
trong một ngày là 65-70kg sắn khô.
 Men: là loại men Bắc 35 hoặc 38 vị, men được chế biến thành từng
bánh nhỏ (R = 4cm - 8cm) hoặc bánh lớn (R = 12 - 15cm). Khi sử dụng phải
nghiền nhỏ để tăng diện tích tiếp xúc với nguyên liệu. Lượng men sử dụng
cho 60kg sắn là 300g.
 Nhiên liệu: Than bùn và than tổ ong, đây là những loại than được thu
mua tại những nhà máy nhiệt điện, sau đó được chế biến và pha trộn với tỉ lệ
bùn, nước và những chất phụ gia đặc biệt.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hà

- 15 -

Lớp: K33A Sinh - KTNN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

2- Quá trình sản xuất rượu:
 Sơ đồ nấu rượu và sản phẩm thải:
Quy trình sản xuất rượu và các sản phẩm thải được thể hiện ở sơ đồ
sau:

Nguyên
liệu khô

Ngâm

nước cao hơn mực sắn là 15 - 20cm trong khoảng 10 - 15 giờ, rồi đem rửa
sạch. Việc ngâm sắn như vậy không những làm sắn dễ chín mà còn loại đi rất
nhiều cặn bẩn: tinh bột mủn, giảm bớt lượng chất độc hại (đặc biệt là HCN).
­ Sau khi sắn được ngâm nước và rửa sạch, sắn được luộc chín, để ráo
nước và làm nguội.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hà

- 16 -

Lớp: K33A Sinh - KTNN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

 Giai đoạn 2: Ủ nguyên liệu
­ Ủ hiếu khí: Sắn sau giai đoạn 1 được trộn với men Bắc 35 vị rồi được
ủ trong gơ (dụng cụ ủ nóng) trong 4 - 12 giờ sau đó đổ ra ngoài và ủ tải (nhiệt
độ khoảng 30 - 320C) trong vòng 15 - 17 giờ và có tiếp xúc với nguồn không
khí bên ngoài. Với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật nấm men
tăng trưởng về số lượng.
­ Ủ kị khí: Sau khi ủ hiếu khí nguyên liệu, khi thấy nguyên liệu có
mốc trắng, mềm, xốp và có mùi thơm thì nguyên liệu được đổ vào ang (một
loại chum có dung tích lớn khoảng 200 lít) sau đó đậy kín để quá trình lên
men rượu xảy ra. Quá trình ủ này được diễn ra trong 5 - 9 ngày. Sau 5 - 9
ngày thì đổ nước vào ang (3 phần nước, 1 phần nguyên liệu) để xảy ra quá
trình tách lọc rượu ra khỏi nguyên liệu đã được lên men. Sau 2 - 3 ngày là
có thể đem chưng cất.

nhiêu, cách điều chỉnh nhiệt độ như thế nào, cách lấy nước ra sao...
­ Qua trắc quan chúng tôi thấy quá trình sản xuất rượu của làng Vân thải
ra ba loại sản phẩm thải vào trong môi trường bao gồm cả rắn - lỏng -khí.

SVTH: Nguyễn Thị Thu Hà

- 18 -

Lớp: K33A Sinh - KTNN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2

CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đánh giá tác động đến môi trường không khí từ quá trình sản xuất
rượu tại làng Vân.
4.1.1 Nguồn thải
Trong quá trình làm chín nguyên liệu (luộc sắn, nấu chín gạo), quá trình
chưng cất rượu, với việc sử dụng than bùn và than tổ ong làm nhiên liệu đốt
đã tạo ra một lượng khí thải độc hại gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi
trường và sức khỏe con người.
Than bùn và than tổ ong là hai loại than được tạo ra từ than cám có nguồn
gốc từ các nhà máy nhiệt điện và có hàm lượng cacbon khá thấp từ 51-62%.
Để tạo ra than bùn và than tổ ong thì than cám sẽ được pha trộn với một luợng
bùn và một lượng H2O khá lớn, thêm vào đó là các tạp chất và phụ gia để tăng
khả năng cháy và khả năng kết dính. Mặt khác than tổ ong còn chứa một hàm
lượng chất đóng bánh có dung lượng Pb rất cao. Chính vì vậy, khi sử dụng
than bùn và than tổ ong làm nguyên liêu đốt sẽ tạo ra một lượng khí độc hại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status