Bài dự thi vận dụng kiến thức liên môn giải quyết tình huống thực tiễn - Pdf 32

I.TÌNH HUỐNG :

“HÃY HẠN CHẾ SỬ DỤNG BAO BÌ NYLON?”
II.MỤC TIÊU GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG:
Để giải quyết được vấn đề: “Hãy hạn chế sử dụng bao bì nylon” thì
chúng ta cần kết hợp kiến thức các môn học khi ngồi trên ghế nhà trường
như: Sinh học , Hóa học, vật lý , công dân
III. TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC
GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG:
Theo kiến thức hóa học và sinh học mà tôi biết nylon là một loại như tơ kết
hợp hóa học với đặc tính khó phân hủy trong tự nhiên. Theo các nhà khoa học,
các loại túi nylon phải mất từ 500 - 1.000 năm mới tự phân hủy. Nếu bao bì
nylon bị lẫn vào đất thì sẽ làm cản trở quá trình sinh trưởng của cá loài thực vật
bị nó bao quanh, cản trở sự phát triển của cỏ dẫn đến hiện tượng xói mòn ở
vùng đồi núi. Còn trên các dòng kênh, con rạch đều bắt gặp những chiếc túi
nylon đang dập dềnh trôi nổi trên mặt nước. Từ đây, túi nylon sẽ gây tắc nghẽn
các hệ thống thoát nước, tạo điều kiện cho muỗi và dịch bệnh phát sinh. Còn
nếu bao bì nylon bị trôi ra biển sẽ làm các sinh vật chết khi nuốt phải. Còn theo


các chuyên gia trong lĩnh vực hóa học, trong một số loại túi nylon có lẫn lưu
huỳnh, dầu hỏa nguyên chất, khi bị đốt cháy, gặp hơi nước sẽ tạo thành axit
sunfuric dưới dạng các cơn mưa axit có hại cho người và động vật. Tệ hơn nữa,
túi nylon làm bằng nhựa PVC khi cháy sẽ tạo ra chất điôxin gây ngộ độc, khó
thở, nôn ra máu, gây ung thư, giảm khả năng miễn dịch, rối loạn chức năng và
các dị tật bẩm sinh cho trẻ nhỏ... Đặc biệt, dùng túi nylon màu chứa thực phẩm
có thể khiến thực phẩm nhiễm các kim loại như chì, clohydric gây tác hại cho
não và là nguyên nhân gây ung thư phổi. Việc này không chỉ có ở nước ta mà
nhiều nước trên thế giới, rác thải túi nylon đã được gọi là “ô nhiễm trắng”.
IV. GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG:
Sau đây sẽ là một số biện pháp để giải quyết vấn đề trên:

làm cho cây trồng chậm tăng trưởng. Nghiêm trọng hơn, môi trường đất và
nước bị ô nhiễm bởi túi nilon sẽ ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới sức khỏe
con người. Trong thực tế, nhiều loại túi nilon được làm từ dầu mỏ nguyên chất
khi ngấm vào nguồn nước sẽ xâm nhập vào cơ thể người gây rối loạn chức năng
và dị tật bẩm sinh ở trẻ nhỏ. Túi nilon làm tắc nghẽn cống, rãnh, kênh, rạch, gây
ứ đọng nước thải và ngập úng dẫn đến sản sinh ra nhiều vi khuẩn gây bệnh.
Ngoài ra, túi nilon còn gây mất mỹ quan và cảnh quan. Ô nhiễm môi trường do
chất thải túi nilon hiện được các nhà môi trường gọi là “ô nhiễm trắng”.
Ở nước ta, việc sử dụng tràn lan các loại túi nilon trong các hoạt động sinh hoạt
xã hội, chủ yếu và đặc biệt là loại túi siêu mỏng, thể hiện sự dễ dãi của cả người
cung cấp cũng như người sử dụng; người bán sẵn sàng đưa thêm một hoặc vài
chiếc túi nilon cho người mua khi được yêu cầu; người mua ít khi mang theo
vật đựng (túi xách, làn…) vì biết chắc chắn rằng khi mua hàng hóa sẽ có túi
nilon kèm theo để xách về.


Hiện chưa có số liệu thống kê chính thức về số lượng túi nilon được sử dụng ở
Việt Nam nhưng đã có một số khảo sát, ước tính về số lượng này. Tuy có sự
khác nhau về con số nhưng ấn tượng chung là rất lớn và chưa được quản lý ở
hầu hết tất cả các khâu của vòng đời túi nilon: từ sản xuất, lưu thông phân phối,
sử dụng cho đến thải bỏ, thu gom, xử lý.
Theo một khảo sát của cơ quan môi trường, trung bình một người Việt Nam
trong 1 năm sử dụng ít nhất 30 kg các sản phẩm có nguồn gốc từ nhựa. Từ 2005
đến nay, con số này là 35 kg/người/năm. Năm 2000, trung bình một ngày, Việt
Nam xả khoảng 800 tấn rác nhựa ra môi trường. Đến nay, con số đó là 2.500
tấn /ngày và có thể còn hơn.
Với số lượng và khối lượng túi nilon được sử dụng và thải bỏ hàng ngày lớn
như vậy nhưng việc quản lý chúng trong nhiều năm qua và cho đến nay ở nước ta
vẫn đang là vấn đề còn chưa tìm được lời giải hợp lý. Đã có những đề xuất: cấm
sử dụng; áp dụng các công cụ kinh tế (thuế, phí…); công cụ giáo dục, nâng cao

của các bên liên quan với nhận thức khá tốt và khá rõ trong xã hội về tác hại và
tính cấp thiết phải quản lý và xử lý chúng.Trung tâm công nghệ môi trường, cho
biết để giảm thiểu túi nilon chúng ta cần đẩy mạnh tuyên truyền tái sử dụng
nhiều lần, hạn chế cấp phép các cơ sở sản xuất mới, khuyến khích tái chế, tái sử


dụng. Mặt khác, cần trợ giá đối với các sản phẩm nilon tự hủy hoặc các sản
phẩm sinh học.
Nhận thức được tác hại của túi nilon đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng,
trong thời gian qua, các cơ quan quản lý nhà nước đã có nhiều giải pháp để giải
quyết vấn đề này. Để hiện thực hóa chủ trương kiểm soát ô nhiễm môi trường
do các loại bao bì khó phân hủy, Bộ Tài Nguyên & Môi Trường đã triển khai
thực hiện Dự án “Kiểm soát ô nhiễm môi trường do việc sử dụng bao bì khó
phân hủy (còn gọi là túi nylon)” với mục tiêu tuyên truyền, nâng cao nhận thức
cho các đối tượng có liên quan về tác hại của túi nilon đối với môi trường và
sức khỏe. Đồng thời, đề xuất những giải pháp cần thiết, hiệu quả trong Đề án
quốc gia về “Khắc phục triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường do các loại bao
bì khó phân hủy" trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong năm 2012.
Theo dự đoán của một số tiến sĩ tham gia nghiên cứu thì đến năm 2015 giảm
40% lượng túi nilon sử dụng tại các siêu thị và trung tâm thương mại trên địa
bàn TP.HCM và một số tỉnh lân cận so với lượng sử dụng vào năm 2010 là gần
70 tấn/ngày. Việc hạn chế sử dụng túi nylon trong thời gian qua ở thành phố
cũng chỉ dừng lại ở sự vận động là chính, như thông qua hoạt động của Ngày
hội tái chế; Tháng sử dụng túi thân thiện... Để đạt được mục tiêu trên, đã có
người đề xuất giải pháp: “Việc giải quyết vấn đề chất thải túi nilon khó phân
hủy cần được tiến hành với nhiều giải pháp đồng bộ. Chúng ta đang có nhiều
điều kiện và giải pháp hứa hẹn khả năng thay thế túi nylon bằng các loại bao bì
thân thiện môi trường. Việc nghiên cứu và đưa bao bì phân hủy sinh học vào
ứng dụng thay thế túi nylon cần nhận được sự hỗ trợ từ Nhà nước về những quy
định, chính sách khích lệ thay đổi thói quen sử dụng túi nylon, định hướng

đưa ra thăm dò thị trường và đang xuất khẩu mặt hàng này ra nước ngoài. Tuy
nhiên, theo người phụ trách kinh doanh Công ty, do giá thành của bao bì nhựa
tự hủy cao hơn bao bì nhựa thường từ 15 – 20% nên chưa được các khách hàng
trong nước lựa chọn.
Sự trợ giúp này về BVMT phù hợp với chức năng quản lý nhà nước và đã được
luật định (Khoản 6, Điều 5; Mục c, khoản 2, Điều 111, Luật Bảo vệ môi trường
2005 và được cụ thể hóa tại Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14/1/2009 về
ưu đãi, hỗ trợ hoạt động BVMT). Nhiều nước trên thế giới cũng đang trợ giá
cho các bao bì thân thiện môi trường (một số siêu thị ở Thái Lan áp dụng giảm
15 -30% cho những khách hàng dùng túi xách của mình để đựng đồ). Sự trợ
giúp này đối với trường hợp loại túi nilon khó phân hủy với giả định giá bán
hiện nay ở nước ta khoảng 200 đ/túi thì trợ giúp của Nhà nước (trợ giá) khoảng
15% sẽ là 30 đ/túi. Với mức tiêu dùng hiện nay (khoảng 30 tỷ chiếc/năm) và giả
định lộ trình thay thế trong một số năm trước mắt là 10% số lượng mỗi năm thì
ước tính mức trợ giá của Nhà nước cho loại túi nilon thân thiện môi trường
khoảng gần 100 tỷ đồng mỗi năm.
Cũng có thể đưa vào cân nhắc con số ngân sách sự nghiệp môi trường hàng năm
dành cho kiểm soát, bao gồm cả xử lý ô nhiễm môi trường do chất thải và các
khoản thu khác từ môi trường (thuế, phí, phạt…) cũng như các nguồn quốc tế
(hỗ trợ chính thức và phi chính thức) cho môi trường cùng khả năng trích ra hỗ
trợ sản xuất túi nilon thân thiện môi trường để có thêm cơ sở về kinh tế – tài
chính cho việc lựa chọn giữa trợ giá với chấp nhận xử lý “theo cuối đường ống”


như hiện nay. Cũng lưu ý thêm rằng, sự trợ giá này chỉ diễn ra trong một số
năm nhất định để mang tính chất tạo đà vì theo quy luật thị trường, khi thị phần
của sản phẩm mới đạt tới tỷ lệ nhất định (thường là điểm “hòa vốn”) thì doanh
nghiệp tự cân đối mà không cần tới sự trợ giúp từ bên ngoài.
Theo quy định tại Khoản 3, Nghị định số 04/2009/NĐ-CP thì nguồn kinh phí hỗ
trợ giá được lấy từ Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam còn hạn chế về nguồn vốn

đầy đủ kiến thức về nhiều lĩnh vực trong đời sống nhằm đáp ứng thỏa mãn nhu
cầu của xã hội. Việc giải quyết tình huống có ý nghĩa giúp chúng ta rèn luyện
việc vận dụng kiến thức của nhiều môn học để giải quyết một hiện tượng, một
vấn đề nào đó trong đời sống. Đồng thời việc giải quyết thành công tình huống
“Tại sao không nên dùng bao bì ni lông” một lần nữa khẳng định lợi thế về việc
hiểu biết kiến thức liên môn của người học. trong thực tiễn học tập chúng ta còn
gặp rất nhiều tình huống khác nhau từ tình huống đơn giản đến tình huống phức
tạp cần phải giải quyết, mà muốn giải quyết được các tình huống đó chúng ta
phải sử dụng kiến thức của nhiều môn học khác nhau như: Để có thể giải được
một bài toán phối hợp phức tạp, thì cần có sự kết hợp kiến thức của các môn
khoa học tự nhiên Toán- Lý- Hóa- Sinh hay muốn giải được các bài tập tiếng
Anh? Làm sao để học giỏi môn tiếng Anh? Và ứng dụng chúng như thế nào
trong đời sống? của bộ môn tiếng anh thì cần sự dụng kiến thức mình về mọi
môn học có để có thể giao tiếp, tranh luận với bạn bè quốc tế. Tóm lại, ý nghĩa
thật sự của việc hiểu biết kiến thức liên môn là vận dụng kiến thức của nhiều


môn học để có thể giải quyết những vấn đề thực tiễn trong đời sống, có thể giải
thích được các hiện tượng thiên nhiên mà mình thường gặp.
Đây chỉ là thông tin và chút kiến thức, suy nghĩ của riêng chúng em. Tuy
còn nhiều hạn chế nhưng mong mọi người thông cảm và cho chúng em
lời khuyên chân thành. Chúng em thành thật cảm ơn.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status