Phối hợp phương pháp dạy học trực quan với phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trọng dạy học nội dung môn toán lớp 3 - Pdf 32

Khóa luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Dòng chảy thông tin mạnh cùng cơn lốc khoa học kĩ thuật đã và đang
từng ngày, từng giờ làm thay đổi da thịt những thành viên trong đại gia đình
nhân loại chúng ta. Kết quả của sự thay đổi tăng tốc ấy đòi hỏi sự thích ứng,
phát triển của nhân tố con người. Dĩ nhiên khẳng định vai trò của giáo dục là
rất quan trọng cho sự phát triển của tương lai nhân loài. Đặc biệt là giáo dục
Tiểu học – bậc học nền tảng – nơi nuôi dưỡng những mầm xanh cho đất nước,
sẽ là những điểm đặt đầu tiên trong những vi mạch của sự phát triển và kết
nối với các bậc học tiếp theo nhằm đào tạo nguồn nhân lực có nhân cách toàn
diện, đáp ứng nhu cầu của xã hội ngày càng lớn ấy.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội thì giáo dục thường
xuyên đổi mới. Song song với đổi mới nội dung dạy học và mục tiêu dạy học
tiểu học thì việc đổi mới phương pháp dạy học là rất cần thiết, mang tính chất
thời đại, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, các nhà quản lí giáo
dục cũng như các giáo viên trực tiếp đứng lớp. Đổi mới phương pháp dạy học
tức là phải biết kết hợp hài hòa, vận dụng linh hoạt các ưu điểm của phương
pháp dạy học trong từng tình huống cụ thể nhất là việc kết hợp phương pháp
dạy, phương pháp học truyền thống và hiện đại.
Điển hình cho sự phối hợp giữa phươg pháp dạy học truyền thống với
phương pháp dạy học hiện đại có thể kể tới hai phương pháp là dạy học phát
hiện và giải quyết vấn đề với dạy học trực quan. Sự kết hợp của hai phương
pháp này đã đáp ứng được phần nhiều xu thế đổi mới phương pháp dạy học
hiện nay là tập trung vào người học, phát triển tư duy sáng tạo của học sinh,
hình thành ở các em năng lực tự phát hiện các vấn đề trong học tập cũng như
trong cuộc sống nhằm thích ứng với xã hội hiện đại.

Hoàng Thị Tư – K34A – Giáo dục Tiểu học



Hoàng Thị Tư – K34A – Giáo dục Tiểu học

2


Khóa luận tốt nghiệp
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận.
4.2. Phương pháp điều tra quan sát.
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Sự phối hợp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề với
dạy học trực quan ở nội dung môn Toán lớp 3.
- Phạm vi: Nội dung môn Toán lớp 3 ở Tiểu học.
6. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận được chia thành
các chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Xây dựng một số giáo án thể hiện sự phối hợp dạy học trực
quan với dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học nội dung môn
Toán lớp 3.

Hoàng Thị Tư – K34A – Giáo dục Tiểu học

3


Khóa luận tốt nghiệp
NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lí luận


Khóa luận tốt nghiệp
Minh hoạ thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh
hoạ như bản mẫu, biểu đồ, bức tranh, tranh chân dung, hình vẽ trên bảng …
Trình bày thường gắn liền với việc trình bày những thí nghiệm, những
thiết bị kỹ thuật, chiếu phim đèn chiếu, phim điện ảnh, băng video.
Trình bày thí nghiệm là trình bày mô hình đại diện cho hiện thực khách
quan được lựa chọn cẩn thận về mặt sư phạm. Nó là cơ sở, điểm xuất phát
trong quá trình nhận thức – học tập của học sinh, là cầu nối giữa lý thuyết và
thực tiễn.
Thông qua sự trình bày bằng trực quan của giáo viên mà học sinh
không chỉ lĩnh hội dễ dàng tri thức mà còn giúp họ học tập được những động
tác mẫu mực của giáo viên, nhờ vậy, dễ dàng hình thành kỹ năng, kĩ xảo cho
học sinh.
1.1.1.2.2. Phương pháp quan sát
Quan sát là sự tri giác có chủ đích, có kế hoạch tạo khả năng theo dõi
tiến trình và sự biến đổi diễn ra trong đối tượng quan sát. Quan sát là hình
thức cảm tính tích cực nhằm thu thập những sự kiện ,hình thành những biểu
tượng ban đầu về đối tượng của thế giới xung quanh. Quan sát gắn chặt với tư
duy.
Quan sát được học sinh sử dụng khi giáo viên trình bày phương tiện
trực quan, phương tiện dạy học.
Phân loại: Căn cứ vào cách thức quan sát có thể phân ra quan sát trực
tiếp, quan sát gián tiếp.
- Căn cứ vào thời gian quan sát có thể phân ra quan sát ngắn hạn, quan
sát dài hạn.
- Căn cứ vào phạm vi quan sát có thể phân ra quan sát toàn diện, quan
sát khía cạnh.

Hoàng Thị Tư – K34A – Giáo dục Tiểu học

nhận thức mà lạm dụng chúng thì dễ làm cho học sinh phân tán chú ý, thiếu
tập trung vào những dấu hiệu bản chất, thậm chí còn làm hạn chế sự phát triển
năng lực tư duy trừu tượng của trẻ.

Hoàng Thị Tư – K34A – Giáo dục Tiểu học

6


Khóa luận tốt nghiệp
Tuy vậy phương pháp trực quan sinh động vẫn phát huy hiệu quả tốt,
nhất là đối với bậc tiểu học, nó góp phần phát huy tính tích cực nhận thức của
học sinh. Vì vậy trong giảng dạy giáo viên nên đầu tư nhiều hơn vào phương
pháp dạy học này để tiến tới hình thành được một cơ sở lí luận đầy đủ hơn.
1.1.1.4. Vai trò, chức năng và phạm vi sử dụng của phương pháp dạy học trực
quan trong dạy học toán
1.1.1.4.1.Vai trò và tác dụng của phương pháp dạy học trực quan
Do đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học (có tính trực giác, cụ thể)
và do tính chất đặc thù của các đối tượng Toán học (tính trừu tượng và khái
quát cao) mà phương pháp trực quan có vai trò quan trọng trong dạy học Toán
ở Tiểu học.
Với những hình ảnh trực quan (do các đồ dùng biểu diễn mang lại) và
lời giảng của giáo viên học sinh sẽ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và lĩnh hội
kiến thức toán học trừu tượng. Bản chất của phương pháp dạy học này là giáo
viên đã tác động vào tư duy học sinh tiểu học theo đúng quy luật nhận thức
“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến
thực tiễn”.
Nhìn chung, trong quá trình dạy học, các phương tiện dạy học giảm nhẹ
công việc của giáo viên và giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách
thuận lợi. Có được đồ dùng thích hợp, người giáo viên sẽ phát huy hết năng

hoặc hình ảnh của đồ vật thật, gần gũi với cuộc sống của trẻ. Ở giai đoạn 2,
các phương tiện trực quan thường ở dạng sơ đồ, mô hình có tính chất tượng
trưng, trừu tượng và khái quát hơn.
+ Các đồ dùng trực quan với mục đích chủ yếu là tạo chỗ dựa ban đầu
cho hoạt động nhận thức của trẻ, vì vậy phương tiện (đồ dùng) cần phải tập
trung bộc lộ rõ những dấu hiệu bản chất của các mối quan hệ toán học, giúp
học sinh dễ thấy, dễ cảm nhận được các nội dung kiến thức đó.
+ Các đồ dùng (phương tiện) phù hợp với nội dung yêu cầu của các bài
học, dễ làm, dễ kiếm, phù hợp với điều kiện cụ thể ở địa phương, phù hợp với
điều kiện kinh tế của giáo viên và phụ huynh học sinh. Tránh dùng các
phương tiện quá máy móc.

Hoàng Thị Tư – K34A – Giáo dục Tiểu học

8


Khóa luận tốt nghiệp
+ Đồ dùng (phương tiện) cần đảm bảo tính thẩm mĩ nhưng không quá
cầu kì về hình thức và không quá lòe loẹt về màu sắc, gây phân tán sự chú ý
của học sinh vào những dấu hiệu không bản chất.
Hai là: Cần sử dụng đúng lúc, đúng mức độ phương tiện trực quan. Khi
cần tạo điểm tựa trực quan để hình thành kiến thức mới thì dùng các phương
tiện, khi học sinh đã hình thành được kiến thức thì phải hạn chế bớt việc dùng
các phương tiện, thậm chí cấm sử dụng phương tiện trực quan, giúp học sinh
tư duy trừu tượng.
Ví dụ: Khi hình thành bảng nhân 6 ở lớp 3 nên hướng dẫn học sinh sử
dụng các tấm bìa để tìm ra kết quả phép nhân. Nhưng khi học sinh đã thuộc
bảng nhân thì cố gắng không dùng các tấm bìa nữa mà tập cho học sinh cách
nói ngay, viết ngay kết quả phép tính.

việc làm đó không hỗ trợ cho sự phát triển tư duy của học sinh và là việc làm
máy móc.
1.1.2. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
1.1.2.1. Khái niệm
1.1.2.1.1. Tình huống gợi vấn đề
Tình huống gợi vấn đề là những tình huống gợi cho học sinh khó khăn
về mặt lí luận hoặc thực tiễn mà họ thấy cần thiết và có khả năng vượt qua,
nhưng không phải ngay tức khắc nhờ một thuật giải mà phải trải qua một quá
trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều
chỉnh kiến thức sẵn có.
Một tình huống được gọi là gợi vấn đề nếu thỏa mãn các điều kiện sau:
+ Tồn tại một vấn đề: Tình huống phải bộc lộ rõ mâu thuẫn giữa thực tế
với trình độ nhận thức mà vốn hiểu biết sẵn có của chủ thể chưa đủ điều kiện
vượt qua.
+ Gợi nhu cầu nhận thức: Nêu tình huống gợi vấn đề nhưng học sinh
không có nhu cầu tìm hiểu, giải quyết thì chưa phải là tình huống gợi vấn đề.
Điều quan trọng là giáo viên phải gợi ở học sinh làm bộc lộ khiếm khuyết về
kiến thức và kĩ năng của các em để các em thấy cần phải bổ sung, hoàn thiện
kiến thức, kĩ năng bằng cách tham gia giải quyết vấn đề nảy sinh.

Hoàng Thị Tư – K34A – Giáo dục Tiểu học

10


Khóa luận tốt nghiệp
+ Khơi dậy niềm tin ở khả năng của bản thân: Khơi gợi ở học sinh niềm
tin và khả năng học tập có thể giải quyết vấn đề đó.
1.1.2.1.2. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
“Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là phương pháp

của quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề mà còn làm cho học sinh học
được bản thân của việc học tức là học sinh học được cách thức mà loài người
tìm ra tri thức: Từ mò mẫm đến phát hiện đến kiểm chứng, chứng minh và
khẳng định tính chân lí của vấn đề ấy.
1.1.2.4. Các hình thức phát hiện và giải quyết vấn đề
1.1.2.4.1. Tự phát hiện và giải quyết vấn đề
1.1.2.4.2. Vấn đáp, phát hiện và giải quyết vấn đề
1.1.2.4.3. Thuyết trình, phát hiện và giải quyết vấn đề
Do đặc điểm của học sinh tiểu học nên các vấn đề được hướng tới là
những vấn đề đơn giản. Phần lớn các vấn đề được giải quyết trên cơ sở dựa
vào trực quan (quan sát các số, hình ảnh,… rút ra kết luận khái quát) nên hình
thức vấn đáp, phát hiện và giải quyết vấn đề được sử dụng nhiều nhất, phù
hợp nhất với học sinh tiểu học.
1.1.2.5. Quy trình phát hiện và giải quyết vấn đề
Gồm 4 bước:
*Bước 1: Thâm nhập, phát hiện vấn đề
Học sinh phát hiện ra vấn đề từ tình huống gợi vấn đề giáo viên đưa ra.
Có nhiều cách để gợi vấn đề cho học sinh:
+ Cách 1:Tạo tình huống gợi vấn đề từ các kiến thức học thường ngày
Ví dụ:Khi học bài: “Phép cộng các số trong phạm vi 10000”, để hướng
dẫn học sinh thực hiện phép cộng 3526 + 2759 giáo viên nêu bài toán: Phân
xưởng một làm được 3526 sản phẩm, phân xưởng hai làm được 2759 sản
phẩm. Hỏi cả hai phân xưởng làm được bao nhiêu sản phẩm?
Giáo viên đưa ra câu hỏi: “Muốn biết cả hai phân xưởng làm được bao
nhiêu sản phẩm ta làm thế nào?”

Hoàng Thị Tư – K34A – Giáo dục Tiểu học

12


Hoàng Thị Tư – K34A – Giáo dục Tiểu học

13


Khóa luận tốt nghiệp
Như vậy, ở đây giáo viên đã đưa ra một tình huống là bài toán giải toán
có lời văn để hướng dẫn học sinh cách thực hiện phép cộng các số hạng trong
phạm vi 10000.
+ Cách 2: Xem xét tương tự để xây dựng kiến thức mới
Ví dụ: Ở các lớp 1, 2 khi học sinh học phép cộng trong phạm vi 10;
100; 1000… các em đã biết quy tắc cộng các số: “cộng từ phải sang trái, viết
các số hạng sao cho các chữ số ở cùng một hàng đơn vị thẳng cột với nhau.
Viết dấu + và kẻ vạch ngang dưới các số.
Lên lớp 3, khi học các bài “cộng trừ các số có 3 chữ số”, phép cộng các
số trong phạm vi 10000, phép cộng các số trong phạm vi 100000… học sinh
có thể dựa vào kiến thức tương tự để tính toán: “cộng từ phải sang trái, viết
các số hạng sao cho các chữ số ở cùng một hàng đơn vị thẳng cột với nhau.
Viết dấu + và kẻ vạch ngang dưới các số”. Từ đó học sinh nêu quy tắc tính.
+ Cách 3: Lật ngược một câu khẳng định đã biết
Ví dụ: Khi học sinh học dấu hiệu chia hết cho 9 “các số có tổng các chữ
số chia hết cho 9 thì chia hết cho 9” ta có thể có các phát biểu: “Mọi số chia
hết cho 9 thì có tổng các chữ sô chia hết cho 9” được không?
Hay “Nếu các số không có tổng các chữ số chia hết cho 9 thì có chia
hết cho 9” được hay không?
Học sinh phải suy nghĩ và xét các trường hợp số cụ thể để kiểm nghiệm
câu phát biểu mới đúng hay sai?
+ Cách 4: Khái quát hóa
Ví dụ:Viết số thích hợp vào ô trống
6


36

42

48

54

60

*Buớc 2: Học sinh phát hiện và giải quyết vấn đề
Học sinh phát hiện vấn đề và tìm giải pháp để giải quyết vấn
đề.Thường được thực hiện theo sơ đồ sau:

BẮT ĐẦU

PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ

ĐỀ XUẤT VÀ THỰC HIỆN HƯỚNG GIẢI QUYẾT

HÌNH THÀNH GIẢI PHÁP

_
GIẢI PHÁP ĐÚNG
+

KẾT THÚC
(Nếu giải pháp sai quay lại phân tích vấn đề)


+ Ứng dụng trong một số trường hợp khác nhờ vào phép tương tự, khái
quát hóa.

Hoàng Thị Tư – K34A – Giáo dục Tiểu học

16


Khóa luận tốt nghiệp
Ví dụ: “Bảng nhân 6”
*Bước 1: Giáo viên đưa ra bài toán: “Có một tấm bìa, trên tấm bìa có 6
chấm tròn. Hỏi có tất cả bao nhiêu chấm tròn?”
- Học sinh phát hiện ra: phải thực hiện phép nhân 6  1= 6.
Vậy trên tấm bìa có tất cả 6 chấm tròn
Tương tự khi ta lấy 2 tấm bìa, 3 tấm bìa,…
- Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào các phép tính vừa nêu để dự đoán
yêu cầu của bài học ngày hôm nay.
*Bước 2: Học sinh phát hiện và giải quyết vấn đề
- Dựa vào gợi ý của giáo viên học sinh phát hiện yêu cầu của bài học là
thành lập bảng nhân 6.
- Học sinh phát hiện: Khi ta thêm một tấm bìa có cùng 6 chấm tròn thì
kết quả của phép tính liền sau sẽ bằng kết quả của phép tính liền trước cộng
thêm 6.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào cách xây dựng bảng nhân đã
học ở các lớp dưới để thành lập “Bảng nhân 6”.
- Giáo viên yêu cầu học sinh nhận xét về thừa số thứ nhất, thừa số thứ
hai và tích của mỗi phép nhân vừa lập?
- Học sinh: Thừa số thứ nhất luôn bằng 6, thừa số thứ hai của phép tính
liền sau hơn thừa số thứ hai của phép tính liền trước là 1 đơn vị, tích sau hơn
tích trước 6 đơn vị (tích sau bằng tích trước cộng thêm 6 đơn vị).

- Rèn luyện cho học sinh các loại tư duy logic, biện chứng khoa học và
sáng tạo.
- Bồi dưỡng cho học sinh tình cảm trí tuệ sâu sắc: có cảm xúc và niềm
vui trong lao động sáng tạo, tự tin ở năng lực của mình, hứng thú với học tập,
chiếm lĩnh tri thức khoa học.
- Làm cho nội dung bài học có tính thuyết phục, biến kiến thức thành
niềm tin.

Hoàng Thị Tư – K34A – Giáo dục Tiểu học

18


Khóa luận tốt nghiệp
1.2. Nội dung và thực trạng dạy học nội dung môn Toán lớp 3
1.2.1. Nội dung môn Toán lớp 3
a) Số học:
*Phép nhân và phép chia trong phạm vi 1000(tiếp):
- Củng cố các bảng nhân với 2, 3, 4, 5 (tích không quá 50) và các bảng
chia cho 2, 3, 4, 5 (số bị chia không quá 50). Bổ sung cộng, trừ các số có 3
chữ số (có nhớ không quá 1 lần).
- Lập các bảng nhân với 6, 7, 8, 9, 10 (tích không quá 100) và các bảng
chia với 6, 7, 8, 9, 10 (số bị chia không quá 100).
- Hoàn thiện các bảng nhân và bảng chia.
- Nhân, chia ngoài bảng trong phạm vi 1000: nhân số có 2, 3 chữ số với
số có 1 chữ số có nhớ không quá 1 lần, chia số có 2, 3 chữ số cho số có 1 chữ
số. Chia hết và chia có dư.
- Thực hành tính: Tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính; tính nhẩm số
có 2 chữ số với số có 1 chữ số không nhớ; chia nhẩm số có 2 chữ số với số có
1 chữ số không có số dư ở từng bước chia. Củng cố về cộng, trừ, nhân, chia

- Ngày, tháng, năm. Thực hành xem lịch.
- Phút, giờ. Thực hành xem đồng hồ, chính xác đến phút. Tập ước
lượng khoảng thời gian trong phạm vi một phút.
- Giới thiệu tiếp về tiền Việt Nam. Tập đổi tiền với các trường hợp đơn giản.
c) Yếu tố hình học:
- Giới thiệu góc vuông và góc không vuông. Giới thiệu êke. Vẽ góc
bằng thước thẳng và êke.
- Giới thiệu đỉnh, góc, cạnh của các hình đã học.
- Tính chu vi hình chữ nhật, hình vuông.
- Giới thiệu compa. Giới thiệu tâm và bán kính, đường kính của hình
tròn. Vẽ đường tròn bằng compa.
- Thực hành vẽ trang trí hình tròn.
- Giới thiệu diện tích của một hình. Tính diện tích hình chữ nhật và
diện tích hình vuông.
d) Yếu tố thống kê:

Hoàng Thị Tư – K34A – Giáo dục Tiểu học

20


Khóa luận tốt nghiệp
- Giới thiệu bảng số liệu đơn giản.
- Tập sắp xếp lại các số liệu của bảng theo mục đích, yêu cầu cho trước.
e) Giải bài toán:
- Giải các bài toán có đến 2 bước tính với các mối quan hệ trực tiếp và
đơn giản.
- Giải bài toán quy về đơn vị và các bài toán có nội dung hình học.
1.2.2. Thực trạng dạy học nội dung môn Toán lớp 3
Qua thực tế tìm hiểu tình hình dạy học nội dung số học ở lớp 3 trường

đề với dạy học trực quan sẽ phát huy tính tự giác, tích cực và chủ động sáng
tạo của học sinh. Nếu chỉ sử dụng dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề mà
không phối hợp cùng dạy học trực quan thì học sinh rất khó phát hiện chiếm
lĩnh tri thức. Từ trực quan học sinh có thể phát hiện được vấn đề một cách
nhanh nhất để từ đó tìm ra biện pháp để giải quyết vấn đề đó. Tuy nhiên
không phải bài nào cũng có thể áp dụng phương pháp này, phải linh hoạt
trong khi sử dụng thì sẽ phát huy được tính tự giác tích cực trong học tập đạt
hiệu quả cao theo mục tiêu bài học. Có thể sử dụng phối hợp với các phương
pháp dạy học truyền thống như: đàm thoại, gợi mở - vấn đáp, thực hành luyện tập,… để giờ học thêm sôi nổi, học sinh hào hứng tham gia các hoạt
động học tập mà giáo viên đưa ra.
Nội dung môn Toán lớp 3 có rất nhiều bài có thể sử dụng cách thức dạy
học theo định hướng nêu trên. Nhưng vì điều kiện có hạn nên tôi chỉ soạn một
số giáo án thể hiện sự phối hợp giữa dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
với dạy học trực quan trong dạy học nội dung môn Toán ở lớp 3.

Hoàng Thị Tư – K34A – Giáo dục Tiểu học

22


Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG II
XÂY DỰNG MỘT SỐ GIÁO ÁN THỂ HIỆN SỰ PHỐI HỢP DẠY
HỌC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VỚI DẠY HỌC TRỰC
QUAN TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG MÔN TOÁN Ở LỚP 3

BẢNG NHÂN 6
(TOÁN 3)

I. Mục tiêu

Khóa luận tốt nghiệp
2+2+2+2+2+2

2 + 2 + 2 + 2 + 2 + 2 = 2 … 6 = 12

5+5+5+5+5+5

5 + 5 + 5 + 5 + 5 + 5 = 5 … 6 = 30

- Yêu cầu 2 học sinh làm bài trên - Học sinh thực hiện yêu cầu của giáo
bảng vừa chỉ và gọi tên các thành viên.
phần và kết quả của các phép nhân
vừa lập được.
- Nhận xét và cho điểm học sinh.
2. Dạy học bài mới:
2.1.Giới thiệu bài:
2.2. Hướng dẫn học sinh lập bảng
nhân 6:
- Giáo viên gắn 1 tấm bìa có 6 chấm - Học sinh quan sát hoạt động của
tròn lên bảng và đưa ra các câu hỏi:

giáo viên và trả lời các câu hỏi:

+ Có mấy chấm tròn?

+ Có 6 chấm tròn.

+ 6 chấm tròn được lấy mấy lần?

+ 6 chấm tròn được lấy 1 lần.

+ Vì sao em biết 6 nhân 2 bằng 12?

+ Vì 6 x 2 = 2 x 6 mà 2 x 6 = 12 (học
sinh đã học bảng nhân 2) nên 6 x 2 = 12.

- Viết lên bảng phép nhân:

- Sáu nhân hai bằng 12.

6 x 2 =12 và yêu cầu học sinh đọc
phép nhân này.
- Giáo viên chia lớp thành các nhóm - Học sinh thảo luận và trình bày kết
đôi và phát phiếu thảo luận cho học quả: Học sinh phát hiện ra hoàn
sinh với nội dung như sau:
PHIẾU HỌC TẬP

thành bảng nhân 6 có thể dựa vào các
bảng nhân 2, 3, 4, 5 hoặc dựa vào
tổng các số hạng bằng nhau.

Nhóm: …
1. Tính

PHIẾU HỌC TẬP

6x1=…

6x6=…

Nhóm: …


2. Em có nhận xét gì về thừa số

6 x 4 = 24

6 x 9 = 54

thứ nhất, thừa số thứ hai và tích

6 x 5 = 30

6 x 10 = 60

của mỗi phép nhân vừa lập?

2. Thừa số thứ nhất luôn bằng 6,

…………………………………..

thừa số thứ hai của phép tính liền sau

…………………………………..

hơn thừa số thứ hai của phép tính
liền trước là 1 đơn vị, tích sau hơn
tích trước 6 đơn vị (tích sau bằng
tích trước cộng thêm 6 đơn vị).
Ví dụ: 6 x 8 = 6 x 7 + 6 = 48
6 x 9 = 6 x 8 + 6 = 54


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status