SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG SÔNG RAY
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ TÀI LIỆU ĐIỆN TỬ
HỖ TRỢ DẠY HỌC VẬT LÍ 10
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Người thực hiện: Phan Só
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lí giáo dục:
Phương pháp dạy học bộ môn:
Phương pháp giáo dục:
Lĩnh vực khác:
Có đính kèm:
Mô hình.
Phần mềm.
-1-
Phim ảnh.
Hiện vật
Trng THPT Sụng Ray
II. TRèNH O TO
- Hc v (hoc trỡnh chuyờn mụn nghip v cao nht): C nhõn s phm
- Ni o to:
i hc S phm Thnh ph H Chớ Minh
- Nm tt nghip:
2005
- Chuyờn ngnh o to:
Vaọt Lớ
III. KINH NGHIM KHOA HC
- Lnh vc chuyờn mụn:
Vaọt Lớ
- S nm kinh nghim:
7 nm
- Khi lp ó dy:
10, 11, 12
-2-
2.1.2. Phân tích nội dung kiến thức và phương pháp hình thành các khái niệm
cơ bản trong sách giáo khoa vật lí 10 Ban cơ bản……………………………
2.1.3.1. Hệ quy chiếu……………………………………………………….
2.1.3.2. Vận tốc……………………………………………………………..
2.1.3.3. Gia tốc……………………………………………………………...
-3-
2.1.3.4. Gia tốc trong chuyển động tròn đều……………………………….
2.1.3.5. Tính tương đối của chuyển động. Công thức cộng vận tốc………..
2.2. Quy trình thiết kế tài liệu điện tử hỗ trợ dạy học …………………………..
2.2.1. Nghiên cứu sử dụng Dreamweaver ………………………………………
2.2.2. Lập kế hoạch, xây dựng cấu trúc của tài liệu điện tử……………………..
2.2.3. Thiết kế tài liệu điện tử một bài học cụ thể : (Bài 1. Chuyển động cơ)….
2.2.3.1. Thiết kế trang web trình bày phần Kiến thức trọng tâm…………
2.2.3.2. Thiết kế giáo án………………………………………………….
2.2.3.3. Xây dựng bài giảng điện tử trên Powerpoint…………………….
2.2.3.4. Thiết kế trang web trình bày phần thông tin bổ sung của bài học…
2.2.3.5. Thiết kế trang web câu hỏi…………………………………………
2.2.3.6. Thiết kế trang web bài tập………………………………………….
2.2.3.7. Xây dựng bài tự ôn tập và tự kiểm tra bằng trắc nghiệm…………..
2.2.3.8. Xây dựng chức năng tra cứu các thuật ngữ vật lí…………………..
2.2.4. Cách thiết kế tài liệu điện tử cho phần Động học chất điểm…………………
2.2.5. Chỉnh sửa và ghi đĩa để sử dụng……………………………………………..
2.3. Hướng dẫn sử dụng tài liệu điện tử trong dạy học vật lí……………………
2.3.1. Một số yêu cầu đối với hệ thống…………………………………………….
2.3.2. Hướng dẫn sử dụng tài liệu điện tử trong dạy học……………………………
2.3.2.1. Hướng dẫn chung cách vận hành TLĐT.….........................................
2.3.2.2. Tài liệu điện tử hỗ trợ hoạt động dạy cho giáo viên….......................
CNTT
ĐC
GV
HS
MVT
PPDH
Công nghệ thông tin
Đối chứng
Giáo viên
Học sinh
Máy vi tính
Phương pháp dạy học
7
8
9
10
11
12
PMDH
QTDH
SGK
THPT
TLĐT
TN
Phần mềm dạy học
CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TÍCH CỰC HỐ HOẠT ĐỘNG NHẬN
THỨC
CỦA HỌC SINH VÀ ỨNG DỤNG CỦA CƠNG NGHỆ THƠNG TIN
TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ
1.1. Cơ sở tâm lí học
Tâm lí học bao gồm nhiều trường phái khác nhau và một số trong đó đã
quan tâm đến hoạt động dạy học. Tuy nhiên có bốn trường phái tâm lí học chính đã
ảnh hưởng nhiều và trực tiếp đến PPDH, đó là tâm lí học liên tưởng, tâm lí học
hành vi, tâm lí học nhận thức và tâm lí học hoạt động. Và đặc biệt quan tâm đến
trường phái tâm lí học hoạt động, đã và đang tiếp tục nghiên cứu để vận dụng trong
dạy học.
Tâm lí học hoạt động cho rằng tâm lí và hoạt động thống nhất nhau, khơng
tách rời nhau, khơng có hoạt động thì khơng có tâm lí, tâm lí chính là hoạt động.
1.1.1. Khái niệm hoạt động:
Theo tâm lí học hoạt động, cuộc sống con người là một dòng hoạt động, con
người là chủ thể của các hoạt động thay thế nhau; hoạt động là q trình con người
thực hiện các quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên và xã hội, quan hệ giữa
người khác và bản thân. Đó là q trình chuyển hố năng lực lao động và các phẩm
chất tâm lí khác của bản thân thành sự vật, thành thực tế và q trình ngược lại là
q trình tách những thuộc tính của sự vật, của thực tế quay về với chủ thể, biến
thành vốn liếng tinh thần của chủ thể .
1.1.2. Cấu trúc của hoạt động:
Hoạt động được cấu tạo bởi các hành động là q trình tn theo mục đích.
Hành động bao giờ cũng phải giải quyết một nhiệm vụ nhất định. Nhiệm vụ này
được hiểu là mục đích đặt ra trong những điều kiện cụ thể nơi diễn ra hành động.
Hành động do các thao tác hợp thành, các thao tác phụ thuộc vào các điều kiện cụ
thể để đạt mục đích. Như vậy là trong từng hoạt động riêng biệt ta có hàng tương
trọng đối với những người quan tâm đến lĩnh vực giáo dục – đào tạo nói chung, rất
cần thiết và càng không thể tách rời đối với những ai nghiên cứu PPDH nói riêng.
1.2. Cơ sở lý luận về phương pháp dạy học theo hướng tích cực
1.2.1. Hoạt động nhận thức vật lí của học sinh
Dạy học là một dạng hoạt động đặc trưng của loài người nhằm truyền lại cho
thế hệ sau những kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích luỹ được, biến chúng
thành những tri thức, phẩm chất, năng lực của cá nhân người học. Hoạt động dạy
học bao gồm hai hoạt động liên quan với nhau, tác động qua lại với nhau : hoạt
động dạy của GV và hoạt động học của HS. Hai hoạt động này đều có chung một
mục đích cuối cùng là làm cho HS lĩnh hội được nội dung học, đồng thời phát triển
nhân cách, năng lực của mình. QTDH xảy ra rất phức tạp và đa dạng, trong đó sự
phối hợp giữa hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS có ý nghĩa quyết
định.
Bản chất của hoạt động học vật lí
Hoạt động học là một hoạt động của con người nhằm tiếp thu tri thức, kĩ
năng, kinh nghiệm mà loài người đã tích luỹ được, đồng thời qua đó sẽ phát triển
những phẩm chất năng lực của người học. Hoạt động học làm biến đổi chính bản
thân của người học trong quá trình thực hiện hoạt động. Học trong hoạt động, học
bằng hoạt động. Cấu trúc của hoạt động học cũng gồm nhiều thành phần, có quan
hệ và tác động lẫn nhau như động cơ, mục đích, phương tiện,…
Động cơ học tập kích thích sự tự giác, tích cực, thúc đẩy sự hình thành và
duy trì, phát triển hoạt động học, đưa đến kết quả cuối cùng là thoả mãn được lòng
khát khao mong ước của người học. Muốn thoả mãn động cơ ấy, phải thực hiện lần
lượt những hành động để đạt được những mục đích cụ thể. Cuối cùng mỗi hành
động được thực hiện bằng nhiều thao tác, sắp xếp theo một trình tự xác định. Ứng
với mỗi thao tác trong những điều kiện cụ thể là những phương tiện, công cụ thích
hợp.
Mục đích của hoạt động học được thể hiện ở nhiệm vụ cụ thể của mỗi môn
học, mỗi phần của môn học và cụ thể nhất là ở mỗi bài học. Đó là mục tiêu cụ thể
mà HS phải đạt được sau mỗi bài học, mỗi phần của môn học và có thể đánh giá
và phát triển những phẩm chất năng lực của họ. Muốn thực hiện tốt mục đích của
hoạt động dạy, người GV cần phải nghiên cứu hoạt động học, căn cứ vào đặc điểm
hoạt động học của mỗi đối tượng HS cụ thể để định ra những hoạt động dạy thích
hợp, mà trước hết là những hành động để tạo ra những điều kiện thuận lợi giúp cho
HS có thể thực hiện tốt các hành động học tập [15], [18].
1.2.2. Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh
Tích cực hoá là một tập hợp các hoạt động nhằm chuyển biến vị trí của
người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể
tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập.
Tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS, là một vấn đề được đặt biệt quan
tâm trong xu thế đổi mới PPDH hiện nay. Nhiều nhà lí luận dạy học trên thế giới
đang hướng tới việc tìm kiếm con đường tối ưu nhằm tích cực hoá hoạt động nhận
thức của người học, nhiều công trình luận án tiến sĩ cũng đã và đang đề cập đến
lĩnh vực này. Tất cả đều hướng tới việc thay đổi vai trò của người dạy và người
học nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học nhằm đáp ứng được yêu cầu
trong giai đoạn phát triển mới. Trong đó, HS phải chuyển từ vai trò là người thu
nhận thông tin sang vai trò chủ động, tích cực tham gia tìm kiếm tri thức. Còn thầy
giáo phải chuyển từ vai trò người truyền thông tin, sang vai trò người tổ chức,
hướng dẫn, và giúp đở để HS tự mình khám phá kiến thức mới.
1.3. Cơ sở của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
1.3.1. Cơ sở lí luận của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Trước yêu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực của xã hội, nhà trường phải
không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục nhằm đào tạo ra những thế hệ HS-chủ
nhân tương lai của đất nước, có đủ năng lực trí tuệ và phẩm chất đạo đức phục vụ
tốt công cuộc xây dựng đất nước ta sánh vai với các cường quốc trên thế giới. Để
làm được điều này ngoài những vấn đề mang tính vĩ mô như thay đổi chương trình,
thay đổi SGK,...của Ngành giáo dục thì nhà trường cần phải đổi mới PPDH, tiếp
cận được những xu hướng dạy học mới của thế giới. Việc áp dụng một số thành
tựu nổi bật của khoa học công nghệ những năm gần đây đang được các cơ sở giáo
-9-
nối với mạng thông tin toàn cầu và được sử dụng như một trong các phương tiện
dạy học hiện đại. Trao đổi thông tin trên mạng Internet, trong dạy học trực tuyến
góp phần mở rộng không gian các lớp học, tiết kiệm được thời gian, chi phí để tổ
chức các lớp học, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho người học ở rất xa các trung
tâm đào tạo.
Sử dụng MVT để thực hiện chức năng kiểm tra đánh giá kiến thức của HS là
vấn đề đang được Ngành giáo dục quan tâm đặc biệt. Bộ Giáo dục-Đào tạo đã
thành lập Cục khảo thí đã chứng tỏ kiểm tra đánh giá là một khâu rất quan trọng
trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng dạy học. Dựa vào MVT để hình thành một
ngân hàng đề thi và kiểm tra lưu trữ trên bộ nhớ MVT sẽ cho phép tự động hoá
việc sản xuất các đề thi và kiểm tra, thực hiện kiểm tra đánh giá trên một phạm vi
khá rộng tri thức của môn học, đảm bảo tính chính xác, khách quan, nhanh chóng
trên nhiều đối tượng HS. Với chức năng xử lí thông tin mạnh mẽ của mình, MVT
kịp thời tổng hợp, thống kê, báo cáo các kết quả thi và kiểm tra theo mong muốn
của người sử dụng. Sẽ không thể có được một thiết bị hỗ trợ dạy học nào có thể
thay thế MVT để thực hiện tốt hơn các chức năng này.
Như vậy, thông qua việc cung cấp thông tin, lưu trữ, việc kiểm tra và xử lí
các kết quả kiểm tra… mà MVT được xem là một phương tiện truyền thông có
-10-
nhiều thế mạnh hơn các phương khác dùng trong dạy học, luôn đảm bảo mối liên
hệ ngược trong, ngược ngoài, điều khiển và điều chỉnh kịp thời các hoạt động học
tập của HS. Chức năng liên lạc của MVT được sử dụng nhiều trong trường hợp mà
mối liên lạc giữa người dạy và người học một cách trực tiếp gặp khó khăn về thời
gian và khoảng cách. Khi đó các bài học, bài tập, bài kiểm tra… được gửi và nhận
dưới dạng các thư điện tử. Với sự phát triển rộng rãi của mạng Internet và hệ thống
đa phương tiện thì chức năng này của MVT càng được phát huy mạnh mẽ hơn bao
giờ hết. Tính chính xác, tính khách quan, tính nguyên tắc, tính hiệu quả kinh tế và
phản hồi thông tin nhanh chóng nhưng không kém phần linh hoạt, mềm dẻo nhờ
Hỗ trợ các thí nghiệm vật lí
Hỗ trợ cho việc phân tích băng Video ghi các quá trình vật lí thực
1.3.2. Cơ sở thực tiễn của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy
học
Nghiên cứu ứng dụng CNTT nói chung và MVT nói riêng làm phương tiện
hỗ trợ cho QTDH đã được triển khai rất sớm ở nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt
trong những năm gần đây thì xu thế đó ngày càng được quan tâm hơn, vai trò của
-11-
CNTT trong dạy học đã được thực tiễn chứng minh và khẳng định. Việc sử dụng
máy vi tính trong dạy học ở nước ta đang trở thành phổ biến, đã xuất hiện ở những
tỉnh miền núi .
Phần lớn các công trình nghiên cứu ứng dụng CNTT trong nước ta tập trung
vào những khả năng mô phỏng, minh hoạ, mô hình hoá ... Các kết quả nghiên cứu
cũng đã được đưa vào sử dụng để hỗ trợ giảng dạy một số nội dung của môn vật lí
ở trường đại học, các trường THPT, trung học cơ sở.... Thường các chức năng hỗ
trợ của MVT được thể hiện thông qua các phần mềm dưới dạng các trình ứng dụng
đơn, hỗ trợ một mặt nào đó của hoạt động dạy học. Một số ít các công trình nghiên
cứu đã bước đầu khai thác các chức năng mới của MVT do những thành quả phát
triển của phần cứng và phần mềm mang lại. Nói chung, những kết quả nghiên cứu
vẫn chưa phát huy hết những khả năng kì diệu của các thế hệ MVT hiện nay.
Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của CNTT ngành Giáo dục và Đào
tạo đã và đang tiến hành thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm như:
– Xây dựng và phát triển các phần mềm ứng dụng trong dạy học, các trang
web của Bộ Giáo dục-Đào tạo, của các Sở Giáo dục-Đào tạo,...
– Các trường học đã trang bị phòng MVT, triển khai việc ứng dụng CNTT
vào dạy học một số môn ở những nơi có điều kiện, nối mạng Internet để phục vụ
cho các hoạt động học tập và giảng dạy.
– Đẩy mạnh ứng dụng Internet trong học tập trực tuyến, trong dạy học từ
với các loại hình thiết bị thông dụng, vai trò của PMDH góp phần:
– Đổi mới nội dung dạy học vì nó có khả năng trình bày một cách trực quan,
tinh giản, dễ hiểu, giúp HS dễ dàng nắm được nội dung các kiến thức của bài học.
Mặt khác nó có khả năng cung cấp thêm những tài liệu phong phú, đa dạng dùng
để tra cứu, tham khảo, đọc thêm, hệ thống hoá, luyện tập theo các mức độ khác
nhau.
– Đổi mới PPDH vì nó có thể biểu thị thông tin dưới dạng văn bản, kí hiệu,
đồ thị, bản đồ, hình vẽ,.. Các tài liệu liên quan trong phần mềm được lựa chọn,
thiết kế theo cách phối hợp tối ưu nhằm tận dụng được thế mạnh của từng loại
trong dạy học. Do được ghi vào đĩa gọn nhẹ, nên mỗi GV hay HS có thể dễ dàng
có trong tay phương tiện để tự mình chủ động thực hiện PPDH tích cực ở bất kì
nơi nào có máy tính.
– Đổi mới hình thức tổ chức dạy học: Trong thời đại xã hội phát triển với tốc
độ nhanh như hiện nay, việc dạy học không chỉ hạn chế trong giờ học tại trường
với sự hướng dẫn trực tiếp của GV mà HS có thể học trên mạng internet hay tự học
tại nhà dựa vào các PMDH [25].
Triển khai thực hiện để đưa CNTT vào giảng dạy là thật sự cần thiết nhằm
đổi mới phương pháp và nâng cao hiệu quả dạy học. Việc làm này muốn thành
công cần phải có sự quan tâm đồng bộ của các cấp lãnh đạo của các nhà quản lí
giáo dục, của GV, của phụ huynh và cả HS.
Với các nhà quản lí giáo dục cần quan tâm nhiều hơn đến việc trang bị cơ sở
vật chất, thiết bị kĩ thuật hiện đại và đồng bộ cho trường học, tạo điều kiện để GV
học tập, nâng cao trình độ tin học. Với GV, không ngừng tự hoàn thiện mình để có
thể vận dụng tốt nhất những tiện ích mà CNTT đem lại khi áp dụng vào giảng dạy.
Với HS cũng phải có thái độ tích cực trong việc tự trang bị thêm kiến thức tin học,
tự học , tự lực tìm kiếm tri thức trên trên mạng, trên các phần mềm dạy học,...
1.4. Tài liệu điện tử hỗ trợ dạy học vật lí 10 THPT
1.4.1. Khái niệm tài liệu điện tử hỗ trợ dạy học vật lí 10 THPT.
TLĐT hỗ trợ dạy học vật lí 10 THPT là một trong các ứng dụng của CNTT
dùng trong dạy học. TLĐT này trình bày kiến thức trọng tâm của SGK, giáo án,
chỉnh sửa để sử dụng theo ý riêng của mình. Có thể sử dụng các hình ảnh động, các
mô phỏng được thiết kế bằng FLASH.
+ Các dạng bài tập từ cơ bản đến nâng cao trong tài liệu này đã được chúng
tôi đầu tư nhiều thời gian để nghiên cứu khá cẩn thận, nghiêm túc. GV có thể sử
dụng chúng trong các giờ bài tập hoặc trong các bài kiểm tra để đánh giá khả năng
học tập của HS.
+ Câu hỏi trắc nghiệm được soạn thảo và chọn lựa từ nhiều nguồn tài liệu.
GV có thể sử dụng trực tiếp hoặc có thể chỉnh sửa tuỳ thuộc vào thực tế của lớp
học và năng lực của HS của mình. Việc soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm tuân thủ các
yêu cầu và quy định mà chúng tôi đã được trang bị trong khoá học này.
+ Các thông tin bổ sung liên quan đến bài giảng có thể cần thiết cho một số
GV chưa có điều kiện để tiếp cận.
+ Phần tự kiểm tra trắc nghiệm có yêu cầu HS đăng nhập khi sử dụng và tự
động lưu lại điểm kiểm tra của học sinh trên MVT đang sử dụng (trong thư mục
C:\Windows\A6W_DATA), GV có thể sử dụng bài kiểm tra này trong mạng nội
bộ của nhà trường (nếu trường có phòng máy) để đánh giá hoặc để biết khả năng
tiếp thu của HS từ đó có kế hoạch bồi dưỡng hoặc phụ đạo thêm cho các em.
Hỗ trợ cho HS tự học ở nhà :
+ Xem lại một số nội dung kiến thức của bài giảng mà GV đã trình bày trên
lớp để hiểu rõ thêm.
+ Ôn lại các kiến thức trọng tâm của từng bài học.
+ Tự trả lời các câu hỏi trắc nghiệm. Sử dụng các câu hỏi trắc nghiệm để có
thể làm quen dần hình thức thi tốt nghiệp THPT bằng trắc nghiệm sau này. Đáp án
của những câu trắc nghiệm này có trong phần ôn tập.
+ Tự giải các bài tập có liên quan đến bài học đã được chọn lựa và chỉnh
sửa.
+ Xem hướng dẫn giải các bài tập nếu gặp khó khăn .
+ Xem thêm một số thông tin bổ sung có liên quan đến bài học nhưng không
được trình bày trong sách giáo khoa để mở rộng thêm hiểu biết.
+ Tự ôn tập bằng trắc nghiệm khách quan. Các câu hỏi trong phần ôn tập
Tích cực hóa vừa là biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học đồng thời nó
góp phần rèn luyện cho HS trở thành những chủ nhân tương lai tự chủ, năng động
và sáng tạo, đủ sức gánh vác những trọng trách mà xã hội giao phó.
Trên cơ sở nghiên cứu những thành tựu mà CNTT đã đạt được trong thời
gian qua, chúng tôi nhận thấy:
Việc nghiên cứu ứng dụng CNTT vào QTDH là hoàn toàn có cơ sở khoa học
và phù hợp với xu thế phát triển của xã hội ngày nay, điều này đã được Đảng, Nhà
nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo rất quan tâm.
Sự phát triển mạnh mẽ của CNTT nói chung, MVT và các thiết bị ngoại vi
hiện đại khác nói riêng đã tạo ra một môi trường dạy học tốt hơn trước đây rất
nhiều. Trong môi trường mới này HS có điều kiện phát huy tối đa tính tích cực,
chủ động, sáng tạo và nhờ đó việc vận dụng các PPDH hiện đại theo hướng tích
cực hóa hoạt động nhận thức của HS chắc chắn sẽ đem lại nhiều thành công, góp
phần hình thành cho các em năng lực tự học, tự chiếm lĩnh tri thức và do đó chất
lượng dạy học được nâng cao.
Tuy nhiên, dù có nhiều ưu thế vượt trội so với các phương tiên dạy học
truyền thống, MVT và các thiết bị ngoại vi hiện đại không phải là phương tiên dạy
học vạn năng nên khi sử dụng cũng cần phải có sự phối hợp với các phương triện
dạy học khác.
Trên cơ sở tham khảo kết quả của các công trình nghiên cứu về ứng dụng
CNTT dùng trong dạy học vật lí đã được công bố, nghiên cứu các PMDH, các
website dạy học đã có trên mạng Internet,... đề tài đã nêu được khái niệm TLĐT hỗ
trợ dạy học vật lí và các chức năng hỗ trợ của TLĐT trong dạy học vật lí.
-15-
Nghiên cứu các ứng dụng trong lĩnh vực CNTT dùng trong dạy học nói
chung và nghiên cứu thiết kế TLĐT hỗ trợ dạy học nói riêng là việc làm thật sự
cần thiết trong việc đổi mới PPDH nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
Để làm tốt công việc này cần có sự quan tâm giúp đở và ủng hộ của các cấp lãnh
dv d 2 s
a=
= 2
dt dt
Đối với HS, để mô tả chuyển động một cách chính xác cần phải có những
kiến thức toán học cơ bản về giới hạn, đạo hàm, vi phân, tích phân. Điều này gặp
khó khăn vì những kiến thức này các em chỉ được học ở lớp cuối cấp. Đây là vấn
đề bất cập trong chương trình vật lí nước ta, trong sắp xếp chương trình ở nhiều
nước, các lớp đầu cấp chỉ trình bày chuyển động thẳng đều, còn chuyển động biến
đổi đều và chuyển động cong trình bày ở lớp cuối cấp.
Mặc dù trong phần Động học nặng về sử dụn 뎠 các phương pháp suy diễn
toán học nhưng SGK cũng chú trọng đưa vào các thí nghiệm nhằm minh hoạ, kiểm
nghiệm những kết luận suy từ lí thuyết qua đó giúp HS nhận biết được những dạng
chuyển động trong thực tế, làm cơ sở để nghiên cứu phần Động lực học sau này
2.1.2. Phân tích nội dung kiến thức và phương pháp hình thành các khái
niệm cơ bản phần Động học sách giáo khoa vật lí 10 Ban cơ bản.
2.1.3.1. Hệ quy chiếu: Hình thành khái niệm chuyển động cơ không thể
thiếu khái niệm hệ quy chiếu. Hệ quy chiếu gồm :
- Một vật làm mốc, một hệ toạ độ gắn với vật làm mốc ;
- Một mốc thời gian và một đồng hồ.
Trong nhiều bài toán cơ học, nhiều khi nói về hệ quy chiếu, người ta chỉ đề
cập đến hệ toạ độ, vật làm mốc và mốc thời gian mà không cần nói đến đồng hồ.
Có thể biễu diễn khái niệm hệ quy chiếu ngắn gọn qua công thức :
Hệ quy chiếu = Hệ toạ độ gắn với vật mốc + Gốc thời gian.
2.1.3.2. Vận tốc
– Nội dung của khái niệm vận tốc
Khi khảo sát chuyển động của một vật nhất thiết phải đưa ra một đại lượng
biểu thị tính chất nhanh hay chậm của chuyển động. Vì vậy khi định nghĩa vận tốc
là một đại lượng vật lí đặc trưng cho tính chất nhanh hay chậm của chuyển động và
v=
dt
Định nghĩa cuối cùng này thực ra là định nghĩa vận tốc tức thời, phù hợp cho
mọi loại chuyển động và chặt chẽ về mặt logic .
– Phương pháp hình thành khái niệm vận tốc ở sách lớp 10 Ban cơ bản :
Trước tiên, để đặc trưng cho mức độ nhanh hay chậm của chuyển động
thẳng đều SGK xuất phát từ khái niệm tốc độ trung bình mà HS đã biết ở chương
trình vật lí lớp 8 từ đó đưa ra định nghĩa chuyển động thẳng đều. Trong chuyển
động thẳng đều, khi nói vận tốc của vật trên một quãng đường hoặc trong một
khoảng thời gian nào đó thì phải hiểu là tốc độ trung bình.
Giai đoạn tiếp theo là xây dựng khái niệm vận tốc tức thời bằng cách đưa ra
đại lượng v =
∆s
, coi vận tốc tức thời là thương số của quãng đường đi ∆s rất ngắn
∆t
qua điểm đang xét và khoảng thời gian ∆t rất ngắn để đi hết quãng đường đó. Thực
ra, vận tốc tức thời của một chuyển động tại một điểm trên quỹ đạo phải là giới hạn
của tỉ số
∆s
khi ∆t tiến đến không, tức là bằng đạo hàm của s theo t tại thời điểm
∆t
đang xét. Tuy nhiên vì ở lớp 10, trong chương trình toán, HS chưa được học giới
hạn và đạo hàm nên SGK phải xây dựng khái niệm này một cách đơn giản và thiếu
chặt chẽ. Khái niệm vận tốc tức thời định nghĩa như trên thực ra vẫn còn rất trừu
tượng, để dạy cho HS hiểu được khái niệm này chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn .
Nếu chuyển động là thẳng biến đổi đều thì gia tốc không đổi nên gia tốc
trung bình và gia tốc tức thời trùng nhau.
Vectơ gia tốc có thể phân tích ra thành hai thành phần : thành phần tiếp
tuyến và thành phần pháp tuyến theo phương chuyển động. Thành phần tiếp tuyến
với quỹ đạo biểu diễn sự thay đổi độ lớn của vận tốc còn thành phần pháp tuyến
biểu diễn sự thay đổi phương của vectơ vận tốc. Trong trường hợp đặc biệt của
chuyển động thẳng thì không có thành phần tiếp tuyến và lúc đó gia tốc chỉ đặc
trưng cho sự biến thiên nhanh hay chậm của vận tốc. Đối với chuyển động thẳng
đều thì gia tốc là một hằng số. Đối với chuyển động tròn đều, chỉ có thành phần
pháp tuyến làm thay đổi liên tục phương của chuyển động .
– Phương pháp hình thành khái niệm gia tốc ở sách lớp 10 Ban cơ bản :
Với tư duy HS lớp 10 do chưa đủ khái quát để dạy chuyển động thẳng biến
đối đều một cách tổng quát rồi sau đó suy ra các trường hợp riêng là chuyển động
nhanh dần đều và chậm dần đều ; vì vậy để xây dựng khái niệm gia tốc SGK khoa
lần lượt khảo sát riêng từng trường hợp chuyển động thẳng nhanh dần đều sau đó
là chuyển động chậm dần đều.
Tinh thần cơ bản của cách tiếp cận sách giáo khoa là : Dựa vào tính chất của
vận tốc là có độ lớn tăng đều theo thời gian đối với chuyển động nhanh dần đều, đi
đến công thức ∆v = a∆t ;
v − v 0 ∆v
∆v
Từ đó xây dựng khái niệm gia tốc : a =
và vectơ gia tốc a = t − t = ∆t .
∆t
0
Lưu ý về chiều của vectơ gia tốc và vectơ vận tốc từ đó suy ra dấu của các
– Khoảng cách, khoảng không gian, gia tốc là những đại lượng tuyệt đối.
Ngoài ra, nguyên lí tương đối còn chứa đựng một nội dung lớn lao hơn,
khẳng định tính tuyệt đối của các định luật động lực học : cả ba định luật Newton
đều đúng đắn như nhau [.
Vấn đề cộng vận tốc có ý nghĩa quan trọng trong các bài toán về thay đổi hệ
quy chiếu. Khi đề cập đến công thức cộng vận tốc v13 = v12 + v23 , thường xuất hiện
một quan niệm sai lầm phổ biến là : Công thức cộng vận tốc cho phép cộng vận
tốc của vật này với vận tốc của vật khác !
Phải hiểu là : Công thức cộng vận tốc cho phép ta tìm được vận tốc của vật
trong hệ quy chiếu này khi biết vận tốc của nó trong hệ quy chiếu khác. Nó cũng
cho phép chúng ta chuyển từ hệ quy chiếu này sang hệ quy chiếu khác.
Công thức cộng vận tốc đề cập trong phần Động học này chỉ áp dụng được
nếu vận tốc của vật chuyển động cũng như vận tốc của hệ quy chiếu chuyển động
rất nhỏ so với vận tốc ánh sáng. Trong trường hợp một trong các vận tốc đó lớn so
sánh được với vận tốc ánh sáng thì phải áp dụng công thức cộng vận tốc của thuyết
tương đối[20].
2.2. Quy trình thiết kế tài liệu điện tử hỗ trợ dạy học
2.2.1. Tổng quan về Dreamweaver MX
TLĐT được thiết kế tương tự như việc thiết kế một website dạy học, công cụ
được chúng tôi sử dụng để thiết kế là phần mềm Dreamweaver MX.
Dreamweaver là một chương trình dùng để tạo ra và quản lí các trang web.
Nằm ở phần cốt lõi của nó là HTML (Hyper Text Markup Language – Ngôn ngữ
đánh dấu siêu văn bản) – một ngôn ngữ chứa đựng một loạt các thẻ dùng để định
nghĩa cấu trúc của một trang web.
Dreamweaver là một công cụ dễ dùng, là một công cụ mạnh và đã trở thành
một trong số những công cụ thiết kế web được nhiều người ưa thích.Với
Dreamweaver, chúng ta có thể dễ dàng phát triển một trang web hoặc một website
nếu như chúng ta biết được những gì cơ bản nhất. Vì khi đó chúng ta có thể giải
quyết được các vấn đề phát sinh trong các trang web của mình và xác định được lỗi
tại đâu khi có một số điểm nào đó trên trang web không hoạt động hoặc hoạt động
không đúng ý định của mình khi tiến hành thiết kế .
Cần lưu ý, có một số kí tự được dành riêng cho mã HTML và không được
dùng trong tên của tập tin như : kí tự : (hai chấm); ! (dấu than); / hay \ (dấu chéo
thuận, dấu chéo ngược); “” (dấu ngoặc kép) ; . (dấu chấm).
Các đặc điểm mới của Dreamweaver MX
Có nhiều đặc điểm mới trong Dreamweaver MX. Một số đặc điểm được
dùng cho các nhà thiết kế trực quan và một số dành cho các nhà viết mã.
Đối với những ai thích làm việc trực quan, Dreamweaver MX đã đưa vào
các tính năng phù hợp như :
– Bố cục vùng làm việc (hình 1) được cải tiến rất thuận lợi, thể hiện qua một
giao diện người dùng dưới dạng cửa sổ tích hợp với các bảng điều khiển có thể
được gắn vào các cạnh của cửa sổ làm việc, cũng như các cửa sổ hồ sơ với các thẻ
truy cập. Cũng có các tuỳ chọn để bạn có thể làm việc với các bảng điều khiển trôi
nổi nếu thấy tiện. Trên hình 1, các bảng điều khiển đang được gắn với cửa sổ làm
việc gồm có Design, Code, Application, Tag Inspector, File, Properties. Trong đó,
bảng điều khiển File và Properies trên hình 1 trong trường hợp này đang được mở
để bạn sử dụng khi đang làm việc trên cửa sổ hồ sơ.
– Các bố cục trang mẫu được trình bày sẵn (hình 2) hoặc các thành phần
web có kèm theo các bố cục trình bày chuyên nghiệp giúp cho các nhà phát triển
có thể bắt đầu các thiết kế của mình.
(Hình
2 : làm
Mộtviệc
số trang
mẫu được thiếtMX)
kế sẵn)
thức ; tham khảo các giáo án và bài giảng điện tử ; sử dụng các câu hỏi trắc
nghiệm, các bài tập tham khảo, hình ảnh,…
-22-
Hỗ trợ cho hoạt động học tập của HS : như kích thích hứng thú, tăng cường
khả năng tự học, tự tiếp cận tri thức và công nghệ, tự ôn tập hệ thống hoá kiến
thức, tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập,…
Khi thiết kế TLĐT thì việc xây dựng cơ sở
dữ liệu là hết sức quan trọng. Cơ sở dữ liệu này
phải dễ dàng cập nhật, chia sẽ, dùng chung hoặc
trao đổi giữa những người dùng. Phải hướng tới
việc phát triển cơ sở dữ liệu này để dùng trong
tương lai, ví dụ : thư viện hình ảnh, phim minh
hoạ, phần mềm mô phỏng, câu hỏi trắc nghiệm,
bài tập,…Chính vì vậy việc tổ chức, quản lý cơ sở
dữ liệu phải thật khoa học, phải được định hướng
xây dựng trước khi bắt tay vào thiết kế TLĐT.
Thư mục của cơ sở dữ liệu của TLĐT mà chúng
tôi sử dụng trong luận văn này được tổ chức theo
cấu trúc như hình 3.
Tên file đặt cho các dữ liệu này một mặt
phải tuân thủ quy tắc đặt tên tập tin theo quy
định, mặt khác phải thể hiện được phần nào nội
dung hàm chứa trong nó để có thể dễ dàng truy
xuất, tìm kiếm khi cần.
Ví dụ trong hình ảnh cây thư mục của TLĐT
hỗ trợ dạy học phần Động học trên đây,
muốn chỉnh sửa nội dung kiến thức trọng tâm
bài1 trong phần Động Học ta cần truy xuất
điện tử, Ôn tập, Kiểm tra. Hình thức trình bày trang chủ của bài 1 như hình 4.
-24-
( Hình 4: Trang chủ bài1)
Mỗi phần nội dung của website bai1 có thể được trình bày trên một trang
web (ví dụ: KT Trọng tâm, Câu hỏi, Bài tập,…), hoặc được liên kết đến một ứng
dụng khác (ví dụ: Ôn tập, Kiểm tra) đã được tạo ra và lưu trữ trong kho dữ liệu của
TLĐT.
2.2.3.1. Thiết kế trang web trình bày phần Kiến thức trọng tâm bài1.
Nội dung của trang web này sẽ trình bày những kiến thức cơ bản nhất của
bài học mà HS cần phải nắm vững khi học xong bài1. Những nội dung kiến thức
trọng tâm của bài học này được soạn thảo trực tiếp trong cửa sổ hồ sơ của
Dreamweaver và được đặt tên file là KT_trongtam1.htm. Từ trang web này, phải
thiết lập liên kết đến tất cả các trang web trình bày những nội dung khác của
website bai1 (câu hỏi, bài tập,…), đến trang chủ của các website bài học (bai1.htm,
bai2.htm, bai3.htm,…) và đến trang chủ website phần Động học (home.htm). Hình
thức trình bày của trang này như sau :
-25-