TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Khoá 32 (2006 – 2010)
ĐỀ TÀI:
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO DANH DỰ,
NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM PHẠM
Sinh viên thực hiện:
Lê Chí Dũng
MSSV: 5062241
Lớp Tư pháp 1 – K32
Giáo viên hướng dẫn:
Th.S Tăng Thanh Phương
Bộ môn luật Tư pháp
CẦN THƠ – 4/2010
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Văn bản quy phạm pháp luật
1. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.
2. Bộ Quốc triều hình luật.
22. />23. />24. />25. />26. />27. />28. />29. />30. />31. />32. />
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ........................................................................................... Trang 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .................................................................................2
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài.............................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài............................................................................2
5. Kết cấu của đề tài ................................................................................................3
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO DANH
DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM PHẠM
1.1. Lịch sử hình thành chế định bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín
bị xâm phạm............................................................................................................4
1.1.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dưới thời Lê, Nguyễn ........................4
1.1.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dưới thời Pháp thuộc .........................6
1.1.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại từ sau cách mạng tháng Tám đến nay
........................................................................................................................6
1.2. Khái niệm về quyền nhân thân..........................................................................8
1.2.1. Khái niệm..............................................................................................8
1.2.2. Đặc điểm pháp lý ..................................................................................9
1.3. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín..............................................10
1.3.1. Khái niệm chung về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
......................................................................................................................10
1.3.2. Cơ chế bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín theo quy định của Bộ luật
Dân sự năm 2005...................................................................................................14
CHƯƠNG 2: CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM PHẠM
2.1. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ......................................18
2.1.1. Có thiệt hại xảy ra ...............................................................................19
2.1.1.1. Thiệt hại về vật chất .................................................................19
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày…… tháng……năm 2010
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
BLDS 2005: Bộ luật Dân sự năm 2005.
NQ-HĐTP: Nghị quyết - Hội đồng Thẩm phán.
NXB: Nhà xuất bản.
Cty TNHH: Công ty trách nhiệm hữu hạn.
TAND: Tòa án nhân Dân.
UBND: Ủy ban nhân Dân.
Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Những năm gần đây, báo chí nhắc nhiều đến vấn đề bồi thường thiệt hại do
danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. Điển hình như: Vụ của của ca sĩ Phương
Thanh kiện một bloger Cô Gái Đồ Long vào năm 2007; tháng 4/2008 MC Đan Lê
đã kiện báo Nông Nghiệp Việt Nam về việc đưa tin sai gây ảnh hưởng nghiêm trọng
đến danh dự, nhân phẩm, uy tín; hay vào năm 2009 tại thành phố Rạch Giá (Kiên
Giang) xảy ra hành vi vu khống của một thầy giáo làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến
nhân phẩm của người bị hại. Đó chỉ là một vài vụ gây sự quan tâm chú ý của dư
luận xã hội, thực tế còn rất nhiều vụ kiện liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại
do danh dự uy tín nhân phẩm bị xâm hại. Qua thực tiễn cho thấy hành vi gây thiệt
hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại ngày càng tăng và phức tạp.
Ngày nay, thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín của công dân; danh dự, uy
tín của tổ chức, có thể xảy ra do nhiều tác động khác nhau. Đó cũng có thể là
những tác động khách quan song cũng có thể do các hành vi trái pháp luật của cá
nhân mang lại. Vì vậy quyền yêu cầu người khác bồi thường thiệt hại do hành vi sai
trái của người gây thiệt hại cho bản thân mình là một quyền được áp dụng có tần
suất lớn trong các quyền về yêu cầu bồi thường thiệt hại quy định bởi luật dân sự tại
xã hội hiện đại. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm trách nhiệm bồi
thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần được
phát sinh do lỗi cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của các
những người thừa hành pháp luật trong quá trình tiếp cận và giải quyết khi có hành
vi xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn, nên người viết chọn đề tài:
“Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” để làm
khóa luận văn tốt nghiệp. Từ đây tìm ra những thực trạng và giải pháp cho đề tài
này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Hiện nay, trên các diễn đàn nghiên cứu lập pháp ở nước ta đã xuất hiện khá
nhiều các bài viết, các công trình nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng (BTTHNHĐ). Tuy nhiên, đối với vấn đề “ Bồi thường thiệt hại do
danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” theo quy định của pháp luật dân sự Việt
Nam thì còn khá khiêm tốn trong vấn đề nghiên cứu chuyên sâu và có tính khoa học
thực tiễn.
3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Đề tài hướng tới làm rõ các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại
do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm như: khi nào phát sinh trách nhiệm bồi
thường, ai phải bồi thường, bồi thường cho ai và bồi thường bao nhiêu? Trên cơ sở
đó, đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này.
Trong bài luận văn này em chỉ đi sâu nghiên cứu quy định về trách nhiệm
BTTHNHĐ mà cụ thể là “Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị
xâm phạm”.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài.
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Kết hợp giữa quan điểm
của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp
nghiên cứu như so sánh, phân tích, tổng hợp, thu thập tài liệu và đối chiếu các quy
định của pháp luật..... Từ đó vận dụng giá trị thực tiễn để điều chỉnh các quy phạm
pháp luật trong Bộ luật dân sự nói chung và “ Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân
phẩm, uy tín bị xâm phạm” nói riêng.
GVHD:Th.S Tăng Thanh Phương
Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại là một phần
của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu
về các vấn đề lý luận chung về bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín
bị xâm hại là rất cần thiết, giúp chúng ta hiểu rỏ hơn về lịch sử hình thành chế định
bồi thường thiệt hại qua các thời kỳ, khái niệm về quyền nhân thân và quyền được
bảo về danh dự, nhân phẩm, uy tín.
1.1. Lịch sử hình thành chế định bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy
tín bị xâm phạm.
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định có lịch sử
sớm nhất của pháp luật dân sự. Trải qua các thời kì lịch sử khác nhau, ở những nước
khác nhau được quy định khác nhau về cách thức bồi thường, thiệt hại phải bồi
thường, cũng như mức độ phải bồi thường1. Việt Nam là quốc gia Phong Kiến trải
qua nhiều triều đại, chế độ nên cũng có những quy định khác nhau về việc bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
1.1.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dưới thời Lê, Nguyễn.
Pháp luật thời kỳ nhà Lê có vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử hình thành
và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam. Cùng với sự phát triển của bộ máy
Nhà nước hoạt động lập pháp dưới thời Lê rất được coi trọng (đặc biệt là thòi kỳ Lê
Sơ). Đây là thời kỳ mà pháp luật Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng và
giữ một vị trí đặc biệt trong lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam2. Trong thời
Lê, thành tựu to lớn nhất về pháp luật là bộ Quốc triều Hình luật (còn gọi là Bộ luật
Hồng Đức) được ban hành năm 14833. Đây là Bộ luật hoàn chỉnh đầu tiên của Nhà
nước quân chủ và cũng chính là bộ luật cổ xưa nhất mà chúng ta còn lưu giữ được
đầy đủ cho đến ngày nay. Bộ luật Hồng Đức là tổng hợp các chế định về hình sự,
dân sự, đất đai, hôn nhân gia đình, tố tụng….. Tuy nhiên, do ra đời sớm nên người
làm luật thời đó không phân biệt rạch ròi các ngành luật như bây giờ.
Đến thời nhà Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, tồn tại
từ 1802 đến 1945. Năm 1812 vua Gia Long ban hành bộ Hoàng Việt luật lệ (còn gọi
là Bộ luật Gia Long) và đến năm 1815 được in thành sách để phân phát cho các
1
Hình luật và Hoàng Triều luật lệ, thuật ngữ “ thiệt hại về tinh thần” không được đề
cập trực tiếp nhưng thông qua một số điều luật cụ thể chúng ta có thể suy đoán là
bồi thường thiệt hại về tinh thần. Ví dụ: Điều 473 Quốc triều Hình luật quy định về
các trường hợp lăng mạ quan chức……người gây thiệt hại cũng đều đưa ra một
khoản tiền tạ ngoài việc phải chịu một khoản tiền phạt. Khoản tiền tạ trong các điều
luật nêu trên có thể được hiểu là khoản tiền bồi thường thiệt hại về tinh thần cho các
quan lại phong kiến, tùy theo địa vị xã hội của họ do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị
xâm phạm. Còn đối với người dân thường thì khoản tiền tạ này không thấy được đề
cập trong pháp luật phong kiến4. Đây là sự bất bình đẳng về pháp luật trong xã hội
phong kiến, chỉ có danh dự, nhân phẩm của tầng lớp vua chúa, quan lại mới được
bảo vệ, còn thứ dân thì không được quan tâm. Ngoài ra, bồi thường thiệt hại về tinh
thần còn được dự liệu chung cho tất cả mọi người trong trường hợp từ hôn, nghĩa là
đã nhận đồ sính lễ gả con gái rồi lại thay đổi ý kiến, hoặc nhà trai đã mang đồ sính
lễ đến dạm hỏi rồi mà thay đổi ý kiến thì người thay đổi ý kiến không kết hôn nữa
phải bồi thường thiệt hại về danh dự cho người kia ( Điều 315 Quốc triều Hình luật
và Điều 94 Hoàng Việt luật lệ).
Nhìn chung, các quy định trong Quốc triều Hình luật và Hoàng Việt luật lệ
đều thấy việc bồi thường mang tính chất hình phạt và đều nhằm mục đích bảo vệ lợi
ích của giai cấp quan lại, địa chủ phong kiến, còn quyền và lợi ích của người dân thì
không được chú trọng. Đây là sự bất công trong xã hội lúc bấy giờ.
4
Bộ Tư pháp – Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (1998), Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế
kỷ XV đến thời Pháp thuộc, NXB Chính trị Quốc gia, trang 150.
GVHD:Th.S Tăng Thanh Phương
Trang 5
đến nay.
Ngày 02 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình – Hà Nội, Bác Hồ đọc
bản tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngày 10 tháng
10 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 90/SL cho phép sử dụng một
số luật lệ hiện hành ở Bắc – Trung – Nam cho đến khi ban hành những bộ luật
thống nhất cho toàn quốc, nhưng những luật lệ ấy không trái với những độc lập của
nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa. Với tinh thần đó, lần lượt các Bộ
5
Bộ Tư pháp – Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (1998), Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế
kỷ XV đến thời Pháp thuộc, NXB Chính trị Quốc gia, trang 159.
6
Bộ Tư pháp – Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (1998), Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế
kỷ XV đến thời Pháp thuộc, NXB Chính trị Quốc gia, trang 160.
GVHD:Th.S Tăng Thanh Phương
Trang 6
SVTH: Lê Chí Dũng
Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
luật dân sự như: Bộ luật Dân sự Nam kỳ giản yếu 1883; Bộ Dân luật Bắc kỳ 1931
và Bộ Dân luật Trung kỳ 1936 được tiếp tục ban hành7. Tuy nhiên, Việt Nam lại
phải lao vào cuộc chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược. Do nhiệm vụ cấp thiết nên
hai bản Hiến Pháp 1946 và 1959 vẫn không có quy định nào đề cập đến bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm và bồi thường
thiệt hại về tinh thần .
Năm 1972, Tòa án nhân tối cao ban hành Thông tư hướng dẫn về bồi thường
25.
GVHD:Th.S Tăng Thanh Phương
Trang 7
SVTH: Lê Chí Dũng
Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
gian áp dụng BLDS 1995 đã không còn phù hợp với thực tế trong giai đoạn đất
nước phát triển nên yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung BLDS 1995. Và ngày 14 tháng 6
năm 2005 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ
7 đã thông qua Bộ luật dân sự 2005. Theo BLDS 2005 thì trách nhiệm bồi thường
thiệt hại được quy định ở Điều 604: “ Người nào do lỗi cố ý hoăc vô ý xâm phạm
đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp
pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc của
chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Để đưa những điều luật đi vào
thực tế Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành các Nghị quyết
hướng dẫn hai bộ luật trên: đó là Nghị quyết 01/2004/NQ – HĐTP hướng dẫn áp
dụng BLDS 1995 và Nghị quyết 03/2006/NQ – HĐTP hướng dẫn áp dụng BLDS
2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Pháp luật ngày nay mà điển hình là BLDS 2005 đã đề cập đến hai vấn đề lớn
của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là thiệt hại về vật chât và thiệt
hại về tinh thần, được quy định tại điều 608 đến điều 611 BLDS 2005, những điều
kiện được bồi thường, nguyên tắc bồi thường. Trên đây là quá trình phát triển của
chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, về danh dự, nhân phẩm,
uy tín trong pháp luật dân sự Việt Nam từ thời Lê, Nguyễn đến nay.
1.2. Khái niệm về quyền nhân thân.
1.2.1. Khái niệm.
của các chủ thể khác (không phải là cá nhân)….. Việc phân loại giúp chúng ta định
hình rõ căn cứ và thời điểm xác lập các quyền nhân thân; nhận diện chính xác nội
dung năng lực pháp luật của từng chủ thể khi tham gia vào các giao dịch dân sự.
Một xã hội càng tiến bộ bao nhiêu, nền tự do dân chủ càng được mở rộng
bao nhiêu, thì con người càng được tôn trọng bấy nhiêu, và do đó các quyền nhân
thân càng được pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng hơn, cùng với những biện pháp
bảo vệ ngày càng có hiệu quả. Ví dụ: Ở nước ta, trước đây các quyền nhân thân
được pháp luật quy định chưa nhiều, trong cuộc sống hằng ngày, tên họ, hình ảnh,
đời tư của cá nhân công dân dễ bị bêu rếu trên các mặt báo với nhiều động cơ khác
nhau; người bị xúc phạm dù chịu rất nhiều khó khăn, khổ sở, nhục nhã mà không
biết làm cách nào để tự vệ, buộc người vi phạm chấm dứt hành vi xúc phạm đến bản
thân mình, gia đình mình. Thường khi người bị xâm phạm chỉ được đền bù tượng
trưng bằng cách xin lỗi, chứ không có biện pháp nào bồi thường thỏa đáng về thiệt
hại vật chất, thiệt hại tinh thần cho người đó. Gần 10 năm nay, cùng với những
thành quả của công cuộc đổi mới, sự ra đời của Bộ luật dân sự (có hiệu lực từ ngày
01/7/1996), nhiều quyền nhân thân của công dân đã được Nhà nước công nhận và
thực hiện nhiều biện pháp bảo vệ. Cụ thể như vấn đề họ tên, hình ảnh, bí mật đời tư,
danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân đã được pháp luật quy định ở nhiều văn
bản, qua nhiều ngành pháp luật khác nhau.
1.2.2. Đặc điểm pháp lý.
Trong đời sống xã hội, mỗi người đều có một số quyền mà trong đó các
quyền nhân thân là bộ phận quyền ngày càng trở nên quan trọng. BLDS 2005 đã
dành cả mục (từ Điều 24 đến Điều 51) để quy định một cách cụ thể và đầy đủ về
quyền nhân thân. Theo sự đánh giá của giáo sư Ravanas Trường đại học AixMarseille thì quyền nhân thân trong Bộ luật Dân sự Việt Nam có thể coi là chuẩn
mực trên Thế Giới. Qua nghiên cứu quyền nhân thân ta thấy có một số đặc điểm
như sau.
Quyền nhân thân được thừa nhận cho tất cả mọi người một cách bình đẳng
không phân biệt giới tính, giai cấp, hoàn cảnh kinh tế, địa vị xã hội và được bảo
yêu cầu chấm dứt hành vi xâm hại và bồi thường thiệt hại.
Quyền nhân thân của mỗi người được pháp luật tôn trọng và bảo vệ nhưng
không vì thế mà tuyệt đối hóa các quyền nhân thân thành các đặc quyền cho mình.
Trong xã hội thì quyền của người này thì cũng liên quan đến quyền lợi của người
kia, do đó chúng ta phải dung hòa quyền lợi với nhau. Chính vì vậy, pháp luật quy
định mọi người phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền nhân thân của người khác.
1.3. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín.
1.3.1 Khái niệm chung về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy
tín.
Khi xã hội càng tiến bộ thì quyền con người nói chung và quyền nhân thân
nói riêng càng được tôn trọng và bảo vệ tốt hơn. Từ nhiều năm trước đây, các quốc
gia đã nhận thức được tầm quan trọng của việc công nhận và bảo vệ quyền đối với
danh dự, nhân phẩm, uy tín. Điều này được thể hiện rất rõ trong các văn bản pháp
luật quốc tế về quyền con người. Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 đã
khẳng định: “Không một ai bị xâm phạm một cách độc đoán về đời sống riêng tư,
gia đình, nhà ở, hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình.
Mọi người đều có quyền được luật pháp bảo vệ trước những xâm phạm và xúc
GVHD:Th.S Tăng Thanh Phương
Trang 10
SVTH: Lê Chí Dũng
Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
phạm như vậy” (Điều 12). Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm
1966 cũng nhấn mạnh: “(1) Không ai có thể bị xâm phạm trái phép hay độc đoán
vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xúc phạm trái phép đến danh dự và
thanh danh. (2)Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm
ấy” (Điều 17). Việt Nam sau khi gia nhập Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm 1977
/>Nguyễn Thùy Dương – Những vấn đề cơ bản và thuật ngữ của Bộ luật Dân sự, NXB Thành Phố Hồ Chí
Minh , năm 1997.
9
GVHD:Th.S Tăng Thanh Phương
Trang 11
SVTH: Lê Chí Dũng
Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
Uy tín: Chính là giá trị về mặt đạo đức và tài năng được công nhận ở một cá
nhân thông qua hoạt động thực tiễn của mình tới mức mà mọi người trong một tổ
chức, một dân tộc cảm phục, tôn kính và tự nguyện nghe theo. Quyền được tôn
trọng uy tín có vẻ gần giống quyền tác giả vì nó có cơ cấu kép bao gồm: Một mặt là
quyền nhân thân, có nghĩa là quyền gợi nhớ ; mặt khác là quyền tài sản, có nghĩa tác
giả có quyền khai thác giá trị thương mại của tác phẩm chứa đựng nhân cách, uy tín
của họ.
Tuy nhiên, nội dung của ba khái niệm “ danh dự, nhân phẩm, uy tín” có sự
đan xen với nhau. Trong đó, khái niệm danh dự là khái niệm rộng nhất, danh dự
chứa đựng cả nhân phẩm và uy tín. Vì vậy, xâm phạm nhân phẩm, uy tín chắc chắn
sẽ xâm phạm danh dự của cá nhân, tổ chức .
Đặc điểm của danh dự, nhân phẩm, uy tín.
Danh dự, nhân phẩm, uy tín là một bộ phận của quyền nhân thân, được quy định tại
Điều 37 mục 2 chương III BLDS 2005. Do đó, danh dự, nhân phẩm, uy tín cũng có
đầy đủ các đặc điểm của quyền nhân thân như: Không thể chuyển giao, được thừa
nhận cho tất cả mọi người…. ( đã trình bày ở trên). Danh dự, nhân phẩm, uy tín
cũng có một số đặc điểm riêng so với đặc điểm của quyền nhân thân.
Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín thì được thừa nhận
thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt,
giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh”;
còn theo Điều 73: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được
tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được
pháp luật cho phép. Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn
và bí mật. Việc khám xét chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của
công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật”.
Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín được thừa nhận trong Hiến pháp thể
hiện sự tôn trọng của chúng ta đối với quyền này; đồng thời có ý nghĩa quan trọng
trong việc ban hành các quy định cụ thể để bảo vệ quyền này.
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
được quy định cụ thể hơn trong các văn bản pháp luật của nhiều ngành luật khác
nhau tạo thành một hệ thống các quy định pháp luật về quyền được bảo vệ danh dự,
nhân phẩm, uy tín.
Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, chủ thể có hành vi xâm phạm danh
dự, nhân phẩm, uy tín có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với các tội danh như:
Tội làm nhục người khác (Điều 121), Tội vu khống (Điều 122), Tội sử dụng trái
phép thông tin trên mạng và trong máy tính (Điều 226), Tội truyền bá văn hoá phẩm
đồi trụy (Điều 253). Còn trong quá trình tiến hành tố tụng, “Công dân có quyền
được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản. Mọi
hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản đều bị xử lý
theo pháp luật. Người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng
như người thân thích của của họ mà bị đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ, bị xâm
phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải
áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật” (Điều 7
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003).
Cùng với pháp luật hình sự, pháp luật dân sự đóng vai trò quan trọng trong
bảo vệ quyền đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín. Có thể nói, pháp luật dân sự quy
định chi tiết, cụ thể và đầy đủ nhất về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy
tín. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín được quy định trong Bộ luật
phẩm, uy tín của cá nhân; quyền được bảo vệ danh dự, uy tín của tổ chức là quyền
dân sự cơ bản của cá nhân, tổ chức mà tất cả các cá nhân, tổ chức khác (trong đó có
Nhà nước) phải tôn trọng. Cho nên, mọi hành vi xâm phạm quyền đối với danh dự,
nhân phẩm, uy tín của cá nhân; quyền đối với danh dự, uy tín của tổ chức đều bị coi
là hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi xâm phạm quyền được bảo vệ danh dự, nhân
phẩm, uy tín thường thể hiện bằng cách: Dùng những lời lẽ hoặc hành động có tính
chất thóa mạ, khinh bỉ để làm nhục cá nhân, coi thường tổ chức hoặc gán một sự
kiện xấu xa cho cá nhân, tổ chức làm cho xã hội đánh giá sai hoặc hình dung sai về
cá nhân, tổ chức đó. Sự đánh giá sai sự thật không phụ thuộc vào việc người đưa ra
những tin tức đó vô tình hay cố ý.
b) Bảo vệ quyền đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín.
Theo nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự (Điều 9 BLDS 2005), khi
quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, có hai loại biện pháp
được áp dụng để bảo vệ quyền: Bên bị xâm phạm có quyền tự bảo vệ; hoặc yêu cầu
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ (Điều 25 Bộ luật Dân sự 2005).
GVHD:Th.S Tăng Thanh Phương
Trang 14
SVTH: Lê Chí Dũng
Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
Biện pháp tự bảo vệ cho phép chủ thể bị xâm phạm quyền đối với
danh dự, nhân phẩm, uy tín được áp dụng những biện pháp nhất định để bảo vệ
quyền của mình. Các biện pháp cụ thể mà chủ thể bị xâm phạm quyền đối với danh
dự, nhân phẩm, uy tín có thể lựa chọn để áp dụng là: yêu cầu tổ chức, cá nhân có
hành vi xâm phạm phải công nhận quyền của cá nhân, tổ chức bị xâm phạm; yêu
cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi xâm phạm; buộc
GVHD:Th.S Tăng Thanh Phương
Trang 15
SVTH: Lê Chí Dũng
Đề tài: Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
trước hết là cơ quan báo chí quản lý A. Nếu hành vi xâm phạm danh dự, nhân
phẩm, uy tín này gây thiệt hại cho B, B có quyền yêu cầu Toà dân sự xem xét, buộc
A phải bồi thường thiệt cho B. Nếu hành vi của A cấu thành tội phạm, sự việc được
giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự trước Toà án hình sự.
Khi quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, bên
gây thiệt hại phải bồi thường cho cá nhân, tổ chức bị xâm phạm: (a) Chi phí hợp lý
để hạn chế, khắc phục thiệt hại; (b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; (c)
Tổn thất tinh thần. Đối với thiệt hại (a) và (b), cá nhân bị xâm phạm danh dự, nhân
phẩm, uy tín được bồi thường theo nguyên tắc “bồi thường toàn bộ” (khoản 1 Điều
605 Bộ luật dân sự) tức là thiệt hại bao nhiêu bồi thường bấy nhiêu. Cụ thể, theo
Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005
về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt
hại bao gồm: chi phí cần thiết cho việc thu hồi ấn phẩm có nội dung xúc phạm danh
dự, nhân phẩm, uy tín của người bị thiệt hại; chi phí cho việc thu thập tài liệu,
chứng cứ chứng minh danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm; tiền tàu, xe đi lại,
thuê nhà trọ (nếu có) theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí để
yêu cầu cơ quan chức năng xác minh sự việc, cải chính trên các phương tiện thông
tin đại chúng; chi phí cho tổ chức xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi
làm việc của người bị thiệt hại và các chi phí thực tế, cần thiết khác để hạn chế,
khắc phục thiệt hại (nếu có). Cá nhân, tổ chức bị xâm phạm quyền được bảo vệ
danh dự, nhân phẩm, uy tín được bồi thường thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm
GVHD:Th.S Tăng Thanh Phương
Trang 17
SVTH: Lê Chí Dũng