TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KỸ THUẬT - CÔNG NGHỆ - MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN TIẾN SĨ
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI
MỎ KHAI THÁC THAN BÙN LUNG LỚN
THUỘC XÃ KIÊN BÌNH, HUYỆN KIÊN LƯƠNG,
TỈNH KIÊN GIANG – ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP
KHỐNG CHẾ Ô NHIỄM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
An Giang, tháng 05/2011
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KỸ THUẬT - CÔNG NGHỆ - MÔI TRƯỜNG
‐‐‐‐o o‐‐‐‐
NGUYỄN TIẾN SĨ
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI
MỎ KHAI THÁC THAN BÙN LUNG LỚN
THUỘC XÃ KIÊN BÌNH, HUYỆN KIÊN LƯƠNG,
TỈNH KIÊN GIANG - ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP
KHỐNG CHẾ Ô NHIỄM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
5.1. Kết luận ......................................................................................................32
5.2. Kiến nghị....................................................................................................33
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................34
PHỤ LỤC.........................................................................................................36
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Chất lượng nước bên trong khu mỏ (đợt lấy mẫu tháng 12/2010)
…….. .......................................................................................................19
Bảng 4.2: Chất lượng nước bên trong khu mỏ (đợt lấy mẫu tháng 3/2011)....20
Bảng 4.3: Chất lượng nước bên ngoài khu mỏ - phía thượng nguồn (đợt lấy
mẫu tháng 12/2010).................................................................................22
Bảng 4.4: Chất lượng nước bên ngoài khu mỏ - phía thượng nguồn (đợt lấy
mẫu tháng 3/2011) ........................ 2Error! Bookmark not defined.
Bảng 4.5: Chất lượng nước bên ngoài khu mỏ - phía hạ nguồn (đợt lấy mẫu
tháng 12/2010) ................................................................................24
Bảng 4.6. Chất lượng nước bên ngoài khu mỏ - phía hạ nguồn (đợt lấy mẫu
tháng 3/2011) ................................................................................................... 25
Bảng 4.7: Kết quả thử nghiệm trung hòa pH nước phèn bằng vôi..................29
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1: Sơ đồ công nghệ và các khâu phát sinh chất thải..............................6
Hình 2.2: Sơ đồ vị trí khu vực mỏ than bùn Lung Lớn...................................10
Hình 2.3: Sơ đồ qui trình công nghệ chế biến than bùn ..................................13
Hình 3.1: Sơ đồ vị trí lấy mẫu .........................................................................16
Hình 4.1: Biểu đồ chất lượng nước bên trong mỏ - tháng 12/2010. ...............20
Hình 4.2: Biểu đồ chất lượng nước bên trong mỏ - tháng 3/2011. .................21
những tác động xấu đến môi trường sống, cụ thể như tạo ra nạn ô nhiễm về
không khí, nước, đất… Do đó, cần có biện pháp kỹ thuật và quản lý, xử lý các
tác động xấu đến môi trường trong quá trình khai thác sử dụng tài nguyên.
Bên dưới than bùn, đặc biệt các mỏ ở vùng Tứ giác Long Xuyên,
thường là tầng phèn tiềm tàng. Trong quá trình khai thác mỏ than bùn, vấn đề
phức tạp nảy sinh là hàm lượng phèn trong đất than bùn và từ tầng phèn tiềm
tàng này sẽ phóng thích ra môi trường tự nhiên, gây nên tình trạng ô nhiễm
môi trường nước trong khu vực.
Để góp phần phát triển bền vững, chúng tôi đề xuất tiến hành nghiên
cứu Hiện trạng môi trường nước tại mỏ khai thác than bùn Lung Lớn
thuộc xã Kiên Bình, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang - Đề xuất biện
pháp khống chế ô nhiễm làm khóa luận tốt nghiệp. Trong báo cáo khóa luận
này, chúng tôi sẽ đánh giá hiện trạng môi trường nước tại khu mỏ khai thác
than bùn Lung Lớn, đề xuất giải pháp quản lý và xử lý nước, giảm thiểu các
nguồn thải, góp phần cho hoạt động phát triển kinh tế không gây thiệt hại cho
môi trường khu vực.
GVHD: ThS Trương Đăng Quang
SVTH: Nguyễn Tiến Sĩ
1
Khoá luận tốt nghiệp
DH8MT
CHƯƠNG 2. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1. Khái niệm về than bùn
GVHD: ThS Trương Đăng Quang
SVTH: Nguyễn Tiến Sĩ
2
Khoá luận tốt nghiệp
DH8MT
Trong một số trường hợp đặc biệt, trong các lớp than bùn nói trên, có
những lớp sét hoặc cát mỏng. Những lớp sét hoặc cát này do lũ lụt đem lại.
Theo tài liệu phân tích được hiện nay, phần lớn, than bùn nhiệt đới đều
có tuổi nhỏ hơn 10.000 năm. Một số mẫu phân tích bằng phương pháp C14
cho thấy than bùn ven biển ở các nước Đông Nam Á đều có tuổi khoảng 6.000
năm trở lại. Ở Đồng bằng sông Cửu Long, than bùn U Minh có tuổi 900 năm,
than bùn Lung Lớn (Kiên Giang) có tuổi là 2.605 năm. Dựa vào tuổi tuyệt đối
và bề dày của mỏ than, có thể biết được tốc độ trầm tích trung bình của than
bùn. Than bùn của U Minh và Lung Lớn có tốc độ trầm tích chừng 1 - 2
mm/năm. Tốc độ này khác nhau tùy thuộc vào mỗi loại đầm lầy (Vũ Đình Ngộ
và nnk, 2002).
Than bùn chỉ tích tụ nơi nào mà thực vật đang phát triển, vì tại các mỏ
than còn tìm thấy di tích các thân cây lớn hoặc các gốc cây lớn đâm rễ trong
các lớp đất nằm bên dưới. Thực vật tạo than gồm những giống loài đang sống
hiện tại. Tuy nhiên, thảm thực vật trên mặt các mỏ than thường không phản
ảnh lại thảm thực vật đã tạo thành mỏ than bên dưới.
Than bùn ở Việt Nam thuộc loại than bùn nhiệt đới nên có sự ưu thế về
thành phần thân thảo, thân gỗ. Các giống loài phổ biến trong các loại than bùn
ở Nam Việt Nam là đước, mắm, bần, giá, dừa nước, tràm, ráng và các giống
loài thuộc họ thân thảo...
Quy Nhơn đến Ninh Thuận. Vật liệu cấu tạo nên các đầm lầy chủ yếu là cát
hoặc bùn, nhưng không phong phú như ở các đầm lầy Nam Bộ, mà ở trạng
thái cằn cỗi.
Đầm lầy ngập mặn ở Nam Bộ phân bố từ Vũng Tàu đến Năm Căn (Cà
Mau), tiêu biểu là rừng Sác Cần Giờ. Đôi nơi do sự tích lũy dồi dào chất hữu
cơ đã hình thành các vỉa than bùn rộng lớn, nhưng hầu hết có chất lượng thấp
do lẫn nhiều sét và cát.
Nhìn chung các mỏ than bùn đầm lầy ven biển cổ có chất lượng khá tốt
và không chênh lệch nhau nhiều lắm. Than bùn có độ tro tương đối thấp, chất
bốc và nhiệt lượng cao, hàm lượng các độc tố thấp và thành phần có ích (axit
humic, N, K và P) cao. Trong khi đó, loại than bùn đầm lầy ven biển mới có
chất lượng thấp hơn do lẫn nhiều sét và cát và còn nhiều xác thực vật chưa
phân huỷ, ít có giá trị công nghiệp.
2.2. Các điều kiện kỹ thuật khai thác, chế biến than bùn và những
biện pháp khai thác hiệu quả than bùn
Một mỏ than bùn trước khi khai thác cần phải được đánh giá dựa vào
nhiều yếu tố khác nhau như diện tích phân bố, bề dày, vấn đề giao thông dễ
hay khó, khai thác có ảnh hưởng đến đất nông nghiệp hay không, nguyên liệu
được sử dụng vào mục đích gì. Để khai thác có hiệu quả, cần quan tâm tới một
số vấn đề sau đây:
2.2.1. Điều kiện kỹ thuật
- Hệ thống giao thông: Than bùn thường nhẹ, nên chỉ với một khối
lượng tương đối nhỏ, đã chiếm một thể tích rất lớn. Do đó vấn đề chuyên chở
rất quan trọng.
- Tiêu thoát nước: Thông thường, nơi các mỏ than, để tiêu nước, phải
đào kênh hạ thấp mực nước trong mỏ. Nếu còn nước, có thể đắp đê bao và
GVHD: ThS Trương Đăng Quang
SVTH: Nguyễn Tiến Sĩ
4
- Công nghệ chế tạo chất kích thích tăng trưởng: thực chất là sản xuất
các muối humat hòa tan từ nguyên liệu than bùn. Công nghệ sản xuất các muối
humat được tiến hành dưới dạng dung dịch và dạng bột hòa tan. Các dung dịch
chất kích thích tăng trưởng humat có thể dùng để phun lên lá hoặc phun vào
gốc cây.
- Công nghệ chế biến than hoạt tính từ than bùn: là quá trình xử lý qua
các công đoạn than hóa và hoạt hóa nhằm loại bỏ các chất có nhựa và tạo ra
các lỗ xốp trong than. Than bùn U Minh chứa hàm lượng tro và sulfua thấp đã
được sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất than hoạt tính và đã thu được sản
GVHD: ThS Trương Đăng Quang
SVTH: Nguyễn Tiến Sĩ
5
Khoá luận tốt nghiệp
DH8MT
phẩm đạt chất lượng cao (diện tích bề mặt riêng từ 486 m2/g đến 620 m2/g,
hấp thụ C6H6 từ 3,16 – 4,04 m2/g). Kết quả đánh giá chất lượng sản phẩm bằng
các thiết bị hiện đại cho thấy: than hoạt tính từ than bùn và các sản phẩm biến
tính từ nó có thể dùng để xử lý nước mặt và nước ngầm bị ô nhiễm, có khả
năng lọc mùi, lọc màu, lọc các chất hữu cơ hòa tan, lọc các ion kim loại nặng,
khử trùng... trong công nghệ xỷ lý nước sinh hoạt. Sản phẩm than hoạt tính từ
than bùn phối trộn với một số phụ gia khác có giá thành tương đối thấp, thị
trường nông thôn và miền núi có thể chấp nhận được.
2.2.4. Những biện pháp khai thác hiệu quả than bùn
Tái tạo vùng sinh
nhiều. Qua tham khảo ý kiến của nhiều nhà khoa học, một số biện pháp nhằm
khai thác hiệu quả than bùn ven biển nhưng vẫn giữ được sự ổn định về cảnh
quan môi trường sinh thái như sau:
GVHD: ThS Trương Đăng Quang
SVTH: Nguyễn Tiến Sĩ
6
Khoá luận tốt nghiệp
DH8MT
- Lập báo cáo tiền khả thi với việc xác định chi tiết về trữ lượng, chất
lượng và điều kiện kỹ thuật khai thác đối với từng khu mỏ trên bản đồ, cũng
như ngoài thực tế.
- Đối với các mỏ than bùn có chiều dày nhỏ (< 1 m) nên tiến hành khai
thác thủ công kết hợp với bơm tháo khô.
- Đối với những mỏ than bùn có lớp phủ dày, cần có biện pháp xử lý
bốc xúc đất phủ trước khi khai thác. Nên áp dụng phương pháp khai thác cuốn
chiếu, dùng lớp phủ của ô này để lấp xuống ô đã khai thác bên cạnh và cứ thế
tiến dần.
- Nơi các mỏ than bùn đã khai thác, cần tiến hành san lấp, hoàn thổ, kết
hợp với các công trình khác như giao thông, thủy lợi, hồ nuôi trồng thủy sản,
hồ chứa nước, khu du lịch sinh thái…
- Bên dưới than bùn, đặc biệt các mỏ ở vùng Tứ giác Long Xuyên,
thường là tầng phèn tiềm tàng. Để ngăn cản sự tiếp xúc của không khí với tầng
phèn này cần có biện pháp như: chừa lại vài tấc than bùn ở lớp đấy và cho
ngập nước vào ô khai thác.
- Tại một số mỏ than bùn hiện nay có tán rừng phát triển cao, nên rất dễ
chua, giặt quần áo bị ố vàng, ngửi thấy mùi tanh.
Nước phèn là nước chứa nhiều gốc sunphat (SO42-) và có độ pH rất
thấp, lượng độc chất Al3+, Fe2+, SO42 rất cao. Do đó môi trường bị ô nhiễm
nặng, động thực vật và vi sinh vật bị tiêu diệt hàng loạt. Phèn được sinh ra có
thể do nguyên nhân oxy hóa phèn tiềm tàng (FeS) tại chỗ để tạo thành axit
H2SO4 chứa nhiều độc chất Al3+, Fe2+, SO42-, hay cũng có thể do nước phèn đi
từ nơi khác gây nhiễm phèn cho môi trường sinh thái. Quá trình thứ nhất là
quá trình phèn hóa, quá trình thứ hai là quá trình nhiễm phèn.
Ô nhiễm phèn nhôm thì độc tính càng mạnh hơn phèn sắt.
Phèn sắt là một muối kép của sắt (III) sunfat với muối sunfat của kim
loại kiềm hay amoni, ví dụ kali sắt sunfat [K2SO4.Fe2(SO4)3.24H2O hay
KFe(SO4)2.12H2O]. Ở dạng tinh khiết, phèn sắt là tinh thể không màu, nhưng
thường có màu tím vì có vết mangan; tan trong nước.
Phèn nhôm gồm hai loại: phèn nhôm đơn [Al2.(SO4)3.18H2O] và phèn
nhôm kép (muối kép của sunfat nhôm với sunfat kim loại kiềm hoặc amoni).
- Kali nhôm sunfat hay phèn nhôm kali (thường gọi: phèn chua)
[KAl(SO4)2.12H2O hay K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O]: Tinh thể lớn hình bát diện,
trong suốt, không màu,vị chát, cảm giác se lưỡi; khối lượng riêng 1,75 g/cm3;
tnc= 92oC; đun nóng đến 200oC thì mất nước kết tinh, thành phèn khan ở dạng
bột trắng (thường gọi là phèn phi hoặc khô phèn) ít tan trong nước.
- Amoni nhôm sunfat hay phèn nhôm amoni [(NH4)2SO4.Al2(SO4)3.
24H2O)]: tinh thể màu trắng, khối lượng riêng 1,65 g/cm3, tnc = 94,5oC. Dễ tan
trong nước.
2.3.2. Nguồn gốc và quá trình hình thành nước phèn
a. Nguồn gốc hìmh thành nước phèn
Sự hình thành nước phèn là kết quả của sự tích tụ pyrit (FeS2) trong
điều kiện đất ngập nước, ở đất chứa nhiều chất hữu cơ, sunphat sắt, nhôm. Đất
phèn được hình thành ở vùng nước lợ hoặc ở vùng biển cũ và có sự tham gia
của vi sinh vật trải qua các giai đoạn như sau:
GVHD: ThS Trương Đăng Quang
Giai đoạn 1: Có điều kiện để khử SO42- mà SO42- này có nguồn gốc
nước biển và trầm tích để tạo thành sunphure sắt và các sunphure khác
Giai đoạn 2: Sau đó cần có môi trường oxy hóa sunphure sắt để tạo
thành H2SO4, Al2(SO4)3, FeSO4. Đất trở nên chua, hóa phèn.
Giai đoạn 3: Nếu trong đất có CaCO3 thì phản ứng tiếp tục theo một
chiều hướng sau:
2CaCO3 + 2H2SO4 Æ CaSO4.2H2O + 2CO2
Khi đó Na+, Mg2+ đã hấp thụ sẵn trong đất ở môi trường nước lợ sẽ bị
Ca2+ thay thế làm cho đất tốt hơn và không trở nên phèn nữa. Nhưng lúc này
nếu không có CaCO3 thì phản ứng hoàn thiện ở giai đoạn 2.
GVHD: ThS Trương Đăng Quang
SVTH: Nguyễn Tiến Sĩ
9
Khoá luận tốt nghiệp
DH8MT
2.4. Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực mỏ than bùn
Lung Lớn
2.4.1. Vị trí địa lý
Khu vực mỏ than bùn Lung Lớn thuộc địa bàn xã Kiên Bình, huyện
Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, nằm giữa vùng trũng Tứ giác Long Xuyên. Khu
vực nằm giữa các cánh đồng còn hoang hóa, rừng tràm hoặc đất chưa khai
thác xung quanh của nhiều chủ doanh nghiệp khác. Diện tích khu mỏ là 100
ha, có vị trí trên tờ bản đồ khu vực như sau:
Hình 2.2. Sơ đồ vị trí khu vực mỏ than bùn Lung Lớn
tuần tháng 10. Càng xa sông Hậu về phía Nam, lũ về càng muộn và rút muộn.
Phần nửa phía Đông mức nước ngập trung bình từ 1,1–2,2 m, dãy ngập sâu
phía Tây kéo dài từ Châu Đốc xuống tới Kiên Giang có mức nước ngập từ
1,7–2,9 m. Thời gian ngập lũ (tính từ khi bắt đầu tràn đồng cho đến khi lũ rút
cạn đồng) bình quân là 3,5 tháng (15/8, kết thúc 20/12). Những năm lũ lớn
thời gian lũ gần 6 tháng (bắt đầu 21/7, kết thúc 15/1).
- Về mùa kiệt, lưu lượng và mực nước sông Hậu giảm nhanh, vùng Tứ
giác Long Xuyên chịu ảnh hưởng triều biển Tây và triều biển Đông, mạnh
nhất vào cuối tháng 4 sang đầu tháng 5. Sự khác biệt về tính chất, pha, độ lớn
của triều biển Tây và sông Hậu đã hình thành chế độ chảy hai chiều suốt mùa
kiệt ở vùng Tứ giác Long Xuyên, hình thành vùng giáp nước ở biên giới An
Giang, Kiên Giang đã hạn chế việc dẫn nước từ sông hậu vào vùng Tứ giác
Long Xuyên trong mùa kiệt.
2.4.4. Khí hậu
Nằm trong vùng khí hậu chung của khu vực Hòn Đất - Kiên Lương,
tỉnh Kiên Giang:
- Nhiệt độ trung bình năm từ 27 - 27,50C, biên độ nhiệt là 3,10 tương
đối lớn về các tháng mùa khô (7-100C), tương đối nhỏ vào mùa mưa (4-70C).
- Nằm trong vùng có lượng mưa lớn nhất Nam Bộ, lượng mưa năm là
2068,2 mm. Số ngày mưa 126 - 170 ngày/năm. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và
kết thúc tháng 11. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
GVHD: ThS Trương Đăng Quang
SVTH: Nguyễn Tiến Sĩ
11
Khoá luận tốt nghiệp
đầu tiên là 10.000 tấn.
- Moong khai thác năm đầu tiên dự kiến có hình chữ nhật, chiều ngang
trung bình 250 m, chiều dọc 100 m, diện tích 2,5 ha.
GVHD: ThS Trương Đăng Quang
SVTH: Nguyễn Tiến Sĩ
12
Khoá luận tốt nghiệp
DH8MT
- Sau khi khai thác hết năm thứ nhất, ưu tiên phát triển mỏ về hướng
Tây Bắc cho đến hết ranh giới của mỏ than, sau đó phát triển về hướng Bắc.
- Kết thúc khai thác mỏ, moong khai thác sẽ trở thành hồ nước có diện
tích 60,43 ha, dung tích hồ khoảng 950.000 m3 nước.
- Để chế biến than bùn thành các dạng phân bón khác nhau thì phải
phối trộn với phân hoá học NPK, phân vi lượng, chất kích thích sinh trưởng,
tạo thành loại phân hỗn hợp giàu chất dinh dưỡng. Quy trình chế biến được
trình bày như sau:
Khai thác than bùn
Băng chuyền tải
Kho bãi tập kết chờ ráo
Vôi bột
Ủ
Máy nghiền
Giai đoạn 2: Nghiền sấy
Nguyên liệu sau khi tơi xốp được chuyển lên băng chuyền vào hệ thống
máy nghiền trộn ly tâm. Nghiền xong nguyên liệu thành dạng mịn, từ máy
nghiền nguyên liệu được lên men và chuyển vào băng truyền tải tự động,
nguyên liệu được đưa vào lồng sấy ly tâm với vòng tua và nhiệt độ thích hợp.
Giai đoạn 3: Sàng tuyển lấy loại mịn
Sau khi sấy đạt yêu cầu, nguyên liệu được chuyển qua hệ thống sàng
bằng băng chuyền tải, tại hệ thống sàng tuyển có trang bị lưới sàng theo kích
cỡ quy định. Sau quá trình sàng tuyển, những sản phẩm chưa đạt yêu cầu sẽ
được chuyển ngược lại nguyên liệu đầu vào. Còn những sản phẩm đạt yêu cầu
thì được chuyển sang công đoạn phối trộn với phụ liệu để tạo sản phẩm.
Giai đoạn 4: Trộn tạo loại phân tuỳ theo yêu cầu
Tùy loại bón thúc hay bón lót theo yêu cầu của khách hàng mà trộn hỗn
hợp với N, K2O, P2O5, các thành phần vi lượng, trung lượng theo tỷ lệ quy
định và chuyển qua dây chuyền đóng bao.
Giai đoạn 5: Đóng gói thành phẩm
Sản phẩm được trộn xong chuyển qua dây chuyền đóng bao. Tại công
đoạn này có cân và máy đóng bao tự động. Khi đóng bao mỗi bao có trọng
- Đầu tháng 3/2011: Lấy mẫu nước đợt 2. Phân tích mẫu.
- Từ giữa tháng 3/2011 đến 4/2011: Viết báo cáo khóa luận.
- Đầu tháng 5/2011: Chỉnh sửa, hoàn chỉnh khóa luận và nộp báo cáo.
3.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá chất lượng môi trường nước tại khu khai thác mỏ than bùn.
- Đề xuất biện pháp xử lý chất lượng môi trường nước sau khi khai thác
than bùn.
- Đề xuất giải pháp quản lý môi trường nước trong quá trình khai thác
than bùn tại khu mỏ.
3.4. Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu quy trình công nghệ của dự án đầu tư khai thác mỏ than bùn.
- Đánh giá chất lượng môi trường nước tại khu vực khai thác mỏ.
3.5. Phương tiện và vật liệu nghiên cứu
- Thiết bị phân tích mẫu, hóa chất phân tích: Phòng thí nghiệm Môi
trường, Khoa Kỹ thuật Công nghệ Môi trường, Đại học An Giang. Tổng số
lượng mẫu: 18 mẫu.
- Mẫu nước mặt tại khu vực khai thác mỏ.
GVHD: ThS Trương Đăng Quang
SVTH: Nguyễn Tiến Sĩ
15
Khoá luận tốt nghiệp
DH8MT
- Các dụng cụ làm thí nghiệm: buret, pipet, ống đong, cốc thủy tinh, cân
điện tử, giấy quỳ.
3.6. Phương pháp nghiên cứu
sạch và nước cất. Trước khi chứa mẫu tráng lại 3 lần với chính mẫu.
Mẫu được lấy cách mặt nước 30 ÷ 40 cm.
Phân tích mẫu: Các chỉ tiêu chất lượng môi trường nước gồm pH,
BOD5, COD, TSS, SO42-, Fet, Al3+.
Mẫu nước được thu vào buổi sáng 7g00 - 9g00 vào ngày trời không
mưa. Tráng chai, lọ thu mẫu bằng nước tại hiện trường, sau đó đậy nắp lại và
ấn chai xuống dưới mặt nước từ 30-40 cm, mở nắp chai cho nước chảy vào từ
từ, khi thấy không còn bọt khí nổi lên là nước đã đầy chai, đậy nắp lại, nhấc
chai lên và trữ lạnh ở 40C sau đó đem về Phòng Thí nghiệm Môi trường, Khoa
Kỹ thuật Công nghệ Môi trường để phân tích.
3.6.4. Phương pháp phân tích mẫu
+ pH: Đo trực tiếp bằng giấy quỳ.
+ BOD: Đo BOD bằng phương pháp chai đo BOD Oxitop: Đặt chai
trong tủ 200C trong 5 ngày, BOD được đo tự động khi nhiệt độ đạt đến 200C.
Giá trị BOD được ghi tự động sau mỗi 24 giờ.
+ SS: Dùng phương pháp khối lượng để xác định cặn hòa tan (cặn qua
lọc). Lọc qua giấy lọc cỡ lỗ 0,45 μm.
+ Một số các chỉ tiêu khác được gửi phân tích tại Trung tâm Ứng dụng
tiến bộ Khoa học và Công nghệ tỉnh vì không có đủ thiết bị, dụng cụ, hóa chất
tại phòng Thí nghiệm Môi trường của Khoa.
- Xử lý kết quả: Số liệu sau khi phân tích được xử lý bằng phần mềm
Excel.
3.6.5. Phương pháp xử lý nước phèn (dùng vôi)
- Lấy mẫu nước để thử nghiệm trung hòa pH của nước. Lấy 2 mẫu
nước trong moong khai thác, mỗi mẫu 20 lít, đợt lấy mẫu vào tháng 3/2011, có
độ pH nước bằng 2,6 (mẫu N3’).
- Thử nghiệm các nghiệm thức nồng độ vôi để trung hòa pH của nước:
Thực hiện 3 nghiệm thức có nồng độ vôi khác nhau để tính toán hàm lượng
vôi cần thiết cho việc xử lý nước, điều chỉnh pH về 6,6 – 7,6. Trung hòa bằng
GVHD: ThS Trương Đăng Quang
DH8MT
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ THẢO LUẬN
4.1. Hiện trạng môi trường nước khu vực khai thác mỏ:
4.1.1. Hiện trạng môi trường nước bên trong khu vực mỏ:
Trong phạm vi khu mỏ, hệ thống sông rạch tự nhiên chủ yếu là các
kênh rạch nối liền với kênh Rạch Giá – Hà Tiên. Vào mùa mưa, khu mỏ
thường bị ngập lụt với mức lũ cao nhất có thể đạt đến 2,5 m. Nước mặt trong
khu mỏ thường bị nhiễm bẩn, có tính axit; thành phần hóa học thuộc loại
sunfat nhôm, có tính ăn mòn sunfat và axit (Công ty TNHH Thiên Sơn, 2010).
Vì vậy, nước mặt thường không sử dụng được trong sinh hoạt.
Mẫu nước mặt thu được trong khu vực mỏ qua 2 đợt lấy mẫu cho kết
quả như sau:
Bảng 4.1. Chất lượng nước bên trong khu mỏ (đợt lấy mẫu tháng 12/2010)
Stt
Chỉ tiêu
Đơn vị
Mẫu N1
Mẫu N2
Mẫu N3
QCVN
08:2008
BOD5
mg/l
12
9
18
6
4
SO42-
mg/l
90
88
180
-
5
Fet
19
Khoá luận tốt nghiệp
DH8MT
Chất lượng nước bên trong mỏ - tháng 12/2010
200
180
160
pH
TSS
BOD
Giá trị
140
120
100
SO4
Fe
Al
80
60
40
20
(A2)
3,8
3,8
2,6
6 – 8,5
1
pH
2
TSS
mg/l
25
28
107
30
3
mg/l
17
21
31
1
6
Al3+
mg/l
36
37
45
-
GVHD: ThS Trương Đăng Quang
SVTH: Nguyễn Tiến Sĩ
20