chính quyền chúa nguyễn trong quan hệ thương mại với nhật bản từ thế kỉ xvi đến thế kỉ xviii - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Cao Thị Thanh Thanh

CHÍNH QUYỀN CHÚA NGUYỄN TRONG
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VỚI NHẬT BẢN
TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN THẾ KỈ XVIII

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 03 13

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN THỊ THANH THANH

Thành phố Hồ Chí Minh - 2014


1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi do TS.Trần Thị
Thanh Thanh hướng dẫn. Các tài liệu trích dẫn trong luận văn là trung thực. Cho đến
nay chưa có công trình nghiên cứu nào trùng với tên đề tài được công bố.
Tác giả luận văn

Cao Thị Thanh Thanh



LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................................... 1
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................ 2
MỤC LỤC ................................................................................................................... 3
DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................................. 5
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 6
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................................6
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................................7
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu .........................................................12
3.1. Mục đích nghiên cứu .......................................................................................12
3.2. Đối tượng nghiên cứu ......................................................................................13
3.3. Phạm vi nghiên cứu .........................................................................................13
4. Nguồn tài liệu .........................................................................................................13
5. Phương pháp nghiên cứu........................................................................................15
6. Đóng góp của đề tài................................................................................................15
7. Cấu trúc của luận văn .............................................................................................16
CHƯƠNG 1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ CỦA QUAN HỆ ĐÀNG TRONG VỚI
NHẬT BẢN TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN THẾ KỶ XVIII ....................... 17
1.1. Vai trò của Đàng Trong trong quá trình xác lập và củng cố quyền lực của các
chúa Nguyễn...............................................................................................................17
1.1.1. Vài nét về xứ Đàng Trong ............................................................................17
1.1.2. Vai trò của Đàng Trong trong quá trình xác lập và củng cố quyền lực của
các chúa Nguyễn .....................................................................................................19
1.2. Nhận thức của các chúa Nguyễn về nhu cầu quốc phòng và phát triển thương
mại ..............................................................................................................................28
1.2.1. Nhận thức của các chúa Nguyễn về nhu cầu quốc phòng ............................28
1.2.2. Nhận thức của các chúa Nguyễn về nhu cầu phát triển thương mại ............39


4



Bảng 2.1. Số thuyền Châu ấn của Nhật tới các nước Đông Nam Á (1604-1635) ........ 53
Bảng 2.2. Số giấy phép chính quyền Nhật cấp thương thuyền Nhật (1604-1634)… ... 55
Bảng 2.3. Đường nhập vào Nhật Bản (năm 1663) ........................................................ 61
Bảng 2.4. Số lượng Bạc và thuyền Nhật Bản đến Đại Việt (1600-1640) .................... 64
Bảng 2.5. Số ghe thuyền Trung Hoa từ các nước Đông Nam Á tới Nhật Bản (16471720) .............................................................................................................................. 66
Bảng 2.6. Bảng thống kê thuyền buôn của Hoa thương từ Đàng Trong đến Ngasaki
(1647-1683) ................................................................................................................... 67


6

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, lịch sử dân tộc Việt Nam chứng kiến sự phân
liệt sâu sắc giữa các tập đoàn phong kiến. Năm 1592, cuộc chiến tranh Nam triều - Bắc
triều kết thúc cũng là lúc nội bộ Nam triều nảy sinh mâu thuẫn giữa hai dòng họ có
công trung hưng triều Lê: họ Trịnh và họ Nguyễn. Điều này dẫn tới nước Đại Việt một
lần nữa rơi vào tình trạng chia cắt bởi sự phân chia Đàng Trong - Đàng Ngoài, với
cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài hơn 200 năm. Tuy nhiên, trong các thế kỷ
này, lịch sử Việt Nam cũng đã bước sang một trang mới, cùng với những thành tựu to
lớn trong công cuộc mở rộng lãnh thổ về phương Nam, các chúa Nguyễn ở Đàng
Trong đã thiết lập được một nền ngoại thương khá hưng thịnh, tạo nên một nền kinh tế
phát triển ổn định trong một thời gian tương đối dài.
Sau khi trở về từ Trung đô (1600), Nguyễn Hoàng quyết chí xây dựng một giang
sơn riêng cho họ Nguyễn ở phương nam. Bằng sự tinh tường về chính trị, trong ứng xử
với họ Trịnh và trong tầm nhìn chiến lược về quyền lực, Nguyễn Hoàng và các chúa
Nguyễn đời sau nhanh chóng xác định cách thức xây dựng thế và lực trên vùng đất
mới. Trên cơ sở các thương cảng của vương quốc Champa trước đó, cùng những chính
sách thương mại của các chúa Nguyễn, Đàng Trong đã nhanh chóng hòa nhập vào

chọn vấn đề “CHÍNH QUYỀN CHÚA NGUYỄN TRONG QUAN HỆ THƯƠNG
MẠI VỚI NHẬT BẢN TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN THẾ KỶ XVIII” làm đề tài nghiên
cứu.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Mối quan hệ bang giao giữa chính quyền chúa Nguyễn và Nhật Bản từ thế kỷ
XVI đến thế kỷ XVIII, nhất là trên lĩnh vực thương mại vẫn đang là đề tài thu hút
được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu. Từ đầu thế kỷ XX đến nay, nhiều bài viết,
công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước ít nhiều đã đề cập đến các
mảng khác nhau về mối quan hệ bang giao giữa Đàng Trong và Nhật Bản với mức độ
chuyên sâu khác nhau được đăng tải trên các tạp chí khoa học. Cụ thể:
Đầu thế kỷ XX, Sở Cuồng Lê Dư với “Cổ đại Nam Nhật giao thông khảo” và
“Cổ đại ngã quốc dữ Nhật Bản chi giao thông” đăng trên tạp chí Nam Phong, phần
Hán văn, số 54 và 56 của quyển IX và quyển X, đã lần lượt giới thiệu 35 bức thư trao
đổi giữa chúa Trịnh, chúa Nguyễn và Mạc phủ Tokugawa in trong tập Ngoại phiên
thông thư - An Nam quốc thư. Như vậy, có thể nói Sở Cuồng Lê Dư là người Việt


8

Nam đầu tiên nghiên cứu về quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Nhật Bản, đồng thời
cũng là người đầu tiên giới thiệu những văn thư trao đổi giữa hai nước trong thế kỷ
XVII qua nguồn tư liệu Nhật Bản. Điều này đã khơi nguồn cho những nhà nghiên cứu
lịch sử tìm hiểu hệ thống văn thư quan trọng này.
Đến nửa sau thế kỷ XX, những tác phẩm, bài viết nghiên cứu về mối quan hệ
Việt - Nhật nói chung, Đàng Trong - Nhật Bản nói riêng bắt đầu xuất hiện trên các tạp
chí nghiên cứu khoa học. Trước hết kể đến Bửu Cầm đã giới thiệu một số di tích của
người Nhật tại Hội An với bài viết “Bang giao lịch sử giữa Việt Nam và Nhật Bản”;
Chen Ching Ho (Trần Kinh Hòa) đã phác thảo về mối quan hệ buôn bán của Đàng
Trong với Nhật Bản qua bài “Mấy điều nhận xét về Minh Hương xã và các cổ tích tại
Hội An” đăng trên Việt Nam khảo cổ tập san. Trong bài viết, tác giả cho rằng năm

nước ngoài trao đổi những kết quả nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành. Trong 38
bài báo cáo khoa học của các tiểu ban khảo cổ học và văn hóa, lịch sử, kiến trúc và bảo
tồn đã có một số báo cáo liên quan đến vấn đề quan hệ Đàng Trong - Nhật Bản từ thế
kỷ XVI đến thế kỷ XVIII như Phan Huy Lê với “Hội An: Lịch sử và hiện trạng”; GS.
Yoshiaki Ishizawa với “Hội An và cư dân Nhật trước đây”; GS. Kawamoto Kuniye,
“Nhận thức quốc tế của chúa Nguyễn ở Quảng Nam căn cứ theo Ngoại Phiên Thông
Thư”; Ogura Sadao với “Về bức tranh Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ và Thác
kiến Quan thế âm”; Vũ Minh Giang với “Người Nhật, phố Nhật và di tích Nhật Bản ở
Hội An”; Shigeru Ikuta với “Vai trò của các cảng thị vùng ven biển Đông Nam Á từ
thế kỉ II trước công nguyên đến đầu thế kỉ XIX”; Phan Đại Doãn với “Hội An và Đàng
Trong”…Những bài tham luận trên cung cấp nhiều nguồn tài liệu về mặt lịch sử, khảo
cổ học và văn hóa để làm sáng tỏ mối quan hệ của Việt Nam - Nhật Bản nói chung,
Đàng Trong - Nhật Bản nói riêng trong các thế kỉ XVI - XVIII.
Tháng 12.1999, Hội thảo quốc tế “Quan hệ Việt - Nhật qua giao lưu gốm sứ”
được tổ chức tại Hà Nội đã làm sáng tỏ thêm về quan hệ thương mại giữa Việt Nam và
Nhật Bản qua con đường gốm sứ với các bài tham luận của Tsuzuki Shinichiro trong
“Gốm Việt Nam khai quật từ di chỉ hào thành Sakai”, “Gốm sứ Việt Nam qua cuộc
điều tra khảo cổ ở Nagasaki” của Mori Tsuyoshi. Các nhà nghiên cứu của Việt Nam
như Nguyễn Thừa Hỷ và Phan Hải Linh cũng có bài tham luận “Quan hệ thương mại
giữa Nhật Bản và Việt Nam thế kỷ XVI, XVII” tại Hội thảo… Những bài nghiên cứu
của các nhà khoa học hai nước Việt Nam và Nhật Bản đã góp phần cung cấp thêm tư
liệu để làm rõ một số vấn đề: kỹ thuật chế tác, đặc điểm gốm sứ và giao lưu hai nước


10

trong bối cảnh quốc tế, khu vực đang có những chuyển biến lớn về lịch sử, kinh tế xã
hội trong các thế kỉ XV - XVII, bổ sung nhận thức toàn diện hơn nữa về giao lưu Đàng
Trong - Nhật Bản qua nguồn tư liệu thành văn và khảo cổ học.
Gần đây nhất, tháng 11.2013, nhân kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao

lịch sử thế giới của Thầy Trịnh Tiến Thuận, Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh. Luận
án đề cập đến toàn bộ mối quan hệ của hai quốc gia Nhật Bản và Việt Nam, trong đó
có đề cập đến mối quan hệ Nhật - Việt tại Đàng Trong mà nổi bật là hoạt động thương
mại của người Nhật tại cảng thị Hội An trong các thế kỉ XVI - XVII. Đây là một
nguồn tài liệu tham khảo quý để tác giả tiếp thu và phát triển thêm đề tài của mình.
Tuy nhiên, luận án của Thầy chỉ nghiên cứu trong khoảng thời gian thế kỉ XVI - XVII
và trải rộng vấn đề ở Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài của Việt Nam.
Về mối quan hệ giữa Việt Nam với Nhật Bản, GS.Nguyễn Văn Kim có nhiều
công trình nghiên cứu về đề tài này như “Nhật Bản và Châu Á - những mối liên hệ lịch
sử và chuyển biến kinh tế - xã hội”; hoặc tác phẩm “Quan hệ của Nhật Bản với Đông
Nam Á thế kỷ XV - XVII”, tác giả tập trung thể hiện tổng thể các hoạt động buôn bán
của người Nhật trong các thế kỉ XV- XVI tại khu vực Đông Nam Á. Tác phẩm gồm có
4 chương, trong đó chương ba “Quan hệ thương mại Nhật Bản với Đông Nam Á thế kỉ
XVI - XVII” trình bày chi tiết về sự xâm nhập của người Nhật vào khu vực Đông Nam
Á (trong đó có Đại Việt), hoạt động buôn bán của các thương nhân Nhật thông qua hệ
thống Shuinsen (Châu ấn trạng) - giấy phép thương mại do Mạc Phủ cấp, cũng như
việc hình thành các “phố Nhật” ở khu vực này (trong đó có Hội An). Tuy tác phẩm
không nghiên cứu riêng về quan hệ Đàng Trong - Nhật Bản nhưng qua mối quan hệ
tổng thể vẫn có được những nét nổi bật của ngoại thương Việt Nam thời kì này, đặc
biệt là vai trò nổi lên của cảng thị Hội An, một cảng trung chuyển mang tầm quốc tế.
Bên cạnh đó, còn rất nhiều bài nghiên cứu đề cập đến mối quan hệ thương mại
giữa Đàng Trong với Nhật Bản của các tác giả trong và ngoài nước được đăng trên các
tạp chí như Tân Á học báo, Việt Nam khảo cổ tập san, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Tạp
chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á...Có thể điểm qua một số bài như: Kikuchi
Seiichi (2003), “Phố Nhật Bản ở Hội An qua nghiên cứu khảo cổ học”, Nghiên cứu
lịch sử, số 2, tr. 36-47; Miki Sakuraba (Nguyễn Tiến Dũng dịch) (2008), “Đồ sứ Nhật
Bản xuất khẩu đến Việt Nam và Đông Nam Á thế kỉ XVII”, Nghiên cứu lịch sử, số
9+10, tr. 87-96; Nguyễn Văn Kim (2002), “Thương mại Việt Nam - Nhật Bản thế kỉ
XVI - XVII”, Nghiên cứu kinh tế, số 3 (286), tr. 56-76; Vũ Duy Mền (2002), “Ngoại


sách “mở cửa” của chính quyền Phú Xuân mà là sự tính toán kỹ lưỡng trên cả hai
phương diện kinh tế và chính trị.


13

3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Nhận thức của các chúa Nguyễn về nhu cầu phát triển thương mại và quốc
phòng trong quá trình xây dựng, củng cố lực lượng ở Đàng Trong. Từ đó giải thích
nguyên nhân các chúa Nguyễn lựa chọn mở rộng giao thương với các nước trên thế
giới và khu vực, trong đó có Nhật Bản.
- Khôi phục, phát họa bức tranh về mối quan hệ giao thương của thương nhân
Nhật với Đàng Trong. Thông qua hoạt động thương mại đó để phản ánh chính sách đối
ngoại về kinh tế của chúa Nguyễn cũng như chính quyền Mạc Phủ liên quan đến vấn
đề thương mại. Ngược lại, chính sách đó cũng được thực thế hóa qua hoạt động trao
đổi buôn bán.
- Đề cập vài nét về “Ngoại phiên thông thư”, một tài liệu quan trọng để nghiên
cứu mối bang giao giữa chính quyền chúa Nguyễn với Nhật Bản trong thế kỷ XVII.
- Quan hệ thương mại với Nhật Bản có vai trò, ảnh hưởng lớn đến sự khởi sắc
của nền kinh tế Đàng Trong và quá trình xác lập, củng cố chính quyền của họ Nguyễn
ở Đàng Trong cũng như tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Xứ Đàng Trong
- Về thời gian: Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII
4. Nguồn tài liệu
Để hoàn thành bài luận văn của mình, tác giả đã đọc, tham khảo và sử dụng một
số nguồn tài liệu sau:
Nguồn tài liệu Địa chí có liên quan đến các vùng Thuận Quảng như: Ô châu cận
lục của Dương Văn An, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn…Thế mạnh của nguồn tài
liệu này mang đến những thông tin đáng tin cậy về địa danh, nhân vật lịch sử, các phố,

Bên cạnh đó, tác giả còn chú ý tới nguồn tư liệu đã được giới thiệu và công bố
trong các công trình khoa học ở trong nước, các cuộc hội thảo quốc tế kể trên. Đặc biệt
là các công trình khoa học như các luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ có liên quan.
Ngoài ra, còn có các tài liệu dân tộc học, khảo cổ học liên quan phản ánh một số hoạt
động của người Nhật ở Đàng Trong thế kỷ XVI - XVII của các nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước.
Những nguồn tài liệu trên, được thu thập ở những mức độ khác nhau, đã cung
cấp những thông tin hết sức quý giá giúp cho luận văn được hoàn chỉnh. Tuy nhiên,
một số vấn đề do tư liệu hiện có còn hạn chế nên chưa được giải quyết thấu đáo. Mong


15

rằng trong thời gian tới, với những nghiên cứu và phát hiện của các nhà sử học, những
vấn đề này sẽ được sáng tỏ.
5. Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mac - Leenin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, trong đó đặc biệt chú trọng đến các quan điểm về khoa học lịch
sử. Trong quá trình hoàn thành đề tài, tác giả vận dụng một số phương pháp nghiên
cứu sau:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Đặt mối quan hệ thương mại giữa Đàng Trong
với Nhật Bản trong hệ thống mối quan hệ ngoại giao giữa Đàng Trong với các nước
trên thế giới và khu vực để nghiên cứu.
- Phương pháp lịch sử kết hợp phương pháp logic: Ngoài việc trình bày, phân
tích và so sánh mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử liên quan mối quan hệ thương mại
của Đàng Trong với Nhật Bản từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, đề tài cố gắng đưa ra
những luận điểm nhận định về mối quan hệ này trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ.
- Phương pháp liên ngành: Là một đề tài thuộc lĩnh vực lịch sử quan hệ quốc tế
và lịch sử văn hóa, việc kết hợp hai loại tài liệu khảo cổ học và sử học, trong đó tài
liệu khảo cổ học đã cung cấp nhiều thông tin để có một cách nhìn khách quan và giải

thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII
2.1. Hoạt động thương mại giữa Đàng Trong với Nhật Bản trong chính sách đối
ngoại về kinh tế của các chúa Nguyễn
2.2. Chính sách đối ngoại về kinh tế của chính quyền chúa Nguyễn từ thế kỷ XVI
đến thế kỷ XVIII
2.3. Chính quyền Tokugawa Ieyasu và chính sách đối ngoại về kinh tế của Nhật
thời kỳ Edo
2.4. Vài nét về “Ngoại phiên thông thư” – một tài liệu quan trọng trong mối quan
hệ bang giao giữa chính quyền chúa Nguyễn và Nhật Bản
Chương 3: Vị trí lịch sử và vai trò của quan hệ thương mại với Nhật Bản trong
chính sách và hoạt động đối ngoại của chính quyền Đàng Trong
3.1. Đối với nền kinh tế Đàng Trong
3.2. Đối với việc củng cố và phát triển quyền lực của các chúa Nguyễn
3.3. Đối với tiến trình lịch sử Việt Nam


17

CHƯƠNG 1
ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ CỦA QUAN HỆ ĐÀNG TRONG VỚI NHẬT
BẢN TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN THẾ KỶ XVIII
1.1. Vai trò của Đàng Trong trong quá trình xác lập và củng cố quyền lực
của các chúa Nguyễn
1.1.1. Vài nét về xứ Đàng Trong
Xứ Đàng Trong hay Nam Hà là tên gọi của vùng đất từ miền Nam sông Gianh
trở vào nam thuộc sự cai quản của chính quyền chúa Nguyễn. Thời Trịnh - Nguyễn
phân tranh, trải qua bảy lần đánh nhau bất phân thắng bại trong gần nửa thế kỷ (16271672), họ Trịnh và họ Nguyễn phải ngừng chiến, quyết định lấy sông Gianh (tỉnh
Quảng Bình) làm giới tuyến tạm thời chia cắt lãnh thổ thành hai miền Đàng Trong Đàng Ngoài. Từ đó, danh xưng Đàng Trong xuất hiện trong lịch sử Việt Nam để phân
biệt xứ Đàng Ngoài hay Bắc Hà của vua Lê - chúa Trịnh.
Lãnh thổ Đàng Trong ban đầu chỉ gồm hai trấn Thuận Hóa và Quảng Nam nhỏ

không còn khả năng khôi phục sự phát triển hùng mạnh như trước.
Trong thời các chúa Nguyễn các thế kỷ XVI - XVIII, các phần đất còn lại của
Champa dần dần được sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong. Năm 1611, sau khi đánh bại
lực lượng quân đội Champa xâm lấn biên giới, Nguyễn Hoàng mở rộng ảnh hưởng
trên lãnh thổ vùng đất từ Cù Mông đến Thạch Bi, lập phủ mới là phủ Phú Yên, gồm
hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa thuộc dinh Quảng Nam. Năm 1653, chúa Nguyễn
Phúc Tần tiến thêm một bước nữa trên đường tiến vào đất Chiêm Thành khi xác lập
chủ quyền vùng đất từ địa đầu Phú Yên đến bờ tả ngạn sông Phan Rang, đặt hai phủ
Thái Khang và Diên Khánh. Đến năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu sau khi đánh bại
vua nước Champa là Bà Tranh làm phản đã sáp nhập lãnh thổ còn lại của vương quốc
Champa vào lãnh thổ Đàng Trong, chỉ để lại cho họ phần đất Thuận Thành và một
tước Phiên vương tồn tại thêm một thời gian để đến năm 1697 lập thành phủ Bình
Thuận. Phan Rang, Phan Rí được đổi thành huyện Yên Phúc và huyện Hòa Đa. Triều
đình Champa diệt vong. Phần lớn cư dân Champa vẫn sống trên quê hương mình,
trong sự hòa nhập văn hóa và hòa đồng dân tộc với người Việt. Người Chăm trở thành
một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc của nước Đại Việt.
Cũng vào đầu thế kỷ XVII, lưu dân người Việt trên đường chạy trốn cuộc nội
chiến, bắt đầu di cư đến vùng đất Thủy Chân Lạp, tiến hành khai khẩn tạo nên hai
vùng định cư, một tại Đồng Nai (Biên Hòa), một tại Mô Xoài (Bà Rịa). Vùng đất này
ở phía đông nam của nước Chân Lạp (Campuchia ngày nay), tương đương với vùng
đồng bằng Nam bộ nước ta ngày nay, trước đó là lãnh thổ của vương quốc cổ Phù
Nam. Vương quốc cổ Phù Nam tồn tại đến thế kỷ VII thì bị người Khmer của nước
Chân Lạp thôn tính. Sau khi chiếm được lãnh thổ vương quốc Phù Nam, người Khmer
đã không tiếp tục xuống phía Nam mà chỉ dừng lại sinh sống trên vùng đất thuộc lãnh


19

thổ Campuchia ngày nay. Chính quyền Chân Lạp cũng không thể kiểm soát được vùng
đất này. Vì vậy, vùng đất này bấy giờ gần như vô chủ và chỉ là những vùng đầm lầy,

20

đứng đầu là Nguyễn Kim đã chiêu mộ nghĩa binh âm mưu khôi phục nhà Lê. Năm
1533, để danh chính ngôn thuận, Nguyễn Kim tôn Lê Ninh lên làm vua, gây dựng sự
nghiệp. Công cuộc trung hưng nhà Lê mới bắt đầu có thanh thế thì Nguyễn Kim đột
ngột qua đời. Sau khi Nguyễn Kim mất, toàn bộ quyền bính rơi vào tay Trịnh Kiểm con rể của Nguyễn Kim. Từ đây, dòng họ Trịnh bước lên vũ đài chính trị, từ một dòng
họ nghèo khó trở thành “phi vương phi bá quyền khuynh thiên hạ”. Trịnh Kiểm lo sợ
trước công trạng ngày càng lớn của anh em Nguyên Uông và Nguyễn Hoàng đã sinh
lòng nghi kỵ, sát hại Nguyễn Uông. Trước tình hình đó, Nguyễn Hoàng hết sức lo lắng
và tìm cách thoát thân, ông bàn với thái phó Nguyễn Ư Kỷ, được Ư Kỷ khuyên: “Kiểm
có lòng nham hiểm, ta nên tránh xa. Thuận Hóa là đất hiểm trở kiên cố có thể giữ
mình được. Vậy nên nhờ chị là Ngọc Bảo (Ngọc Bảo là con gái Triệu Tổ, và là Chánh
phi của Trịnh Kiểm) nói với Kiểm, xin vào trấn thủ Thuận Hóa, rồi sau sẽ mưu làm
việc lớn” [101,tr.63]. Điều này càng thôi thúc Nguyễn Hoàng khi ông tìm đến Nguyễn
Bỉnh Khiêm thì được khuyên rằng: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (nghĩa là
Một dải núi ngang có thể dung thân muôn đời được). Hiểu được gợi ý đó, Nguyễn
Hoàng nhờ chị mình là Ngọc Bảo xin cho mình trấn thủ đất Thuận Hóa.
Trịnh Kiểm đã tâu lên vua Anh Tông xin cho Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, Lê
Quý Đôn ghi lại sự kiện này trong Phủ biên tạp lục như sau: “Anh Tông, năm Chính trị
thứ 1 (1558), Mậu Ngọ, Thế tổ Thái vương (Trịnh Kiểm) sai Đoan quận công Nguyễn
Hoàng đem quân bản dinh đi trấn thủ Thuận Hóa để phòng giữ giặc phía đông, cùng
với trấn thủ Quảng Nam Trấn quốc công (Bùi Tá Hán) cứu giúp lẫn nhau, việc địa
phương không cứ lớn nhỏ, quân dân thuế khóa đều giao cả. Họ Nguyễn có đất Thuận
Hóa từ đấy” [29,tr.53]. Tháng 10 năm 1558 (Mậu Ngọ), Nguyễn Hoàng vào nam
nhậm chức Trấn thủ Thuận Hóa với quyền hạn rộng lớn “phàm mọi việc ở địa phương
không kể to nhỏ đều cho tùy tiện xử trí” [29,tr.53]. Theo chân Nguyễn Hoàng vào
Thuận Hóa là những người thân thuộc của dòng họ và những trung thần của nhà Lê. Li
Tana ghi lại như sau: “Họ là những trung thần của nhà Lê. Một gia phả ở Quảng Nam
ghi nhận ông tổ của họ là một viên chức cao cấp của Lê Duy Tri, anh em với vua Lê
Kính Tông (1600 -1619). Khi vua Lê Kính Tông bị chúa Trịnh ép thắt cổ chết vào năm

quan ngại, Nguyễn Hoàng đã “lập tức tâu với chị” để mình có thể được ra đi tránh xa
“móng vuốt” của Trịnh Kiểm, đảm bảo được tính mạng.
Vùng đất Thuận Hóa thời Nguyễn Hoàng mới đến trấn nhậm gồm hai phủ Tiên
Bình (xưa là Tân Bình) và Triệu Phong, trải dài từ châu Nam Bố Chính ở phía Nam
sông Gianh cho đến Điện Bàn, phía bắc Quảng Nam ngày nay. Bấy giờ đây là nơi ác


22

địa và là một vùng rất khó trị an vì lòng dân nơi dây phản trắc khó lường. Đây còn là
vùng đất mới còn lam sơn chướng khí, lại thêm quân nhà Mạc thường xuyên lui tới
quấy rối, lòng dân chưa thực sự hướng về phía vua Lê, một số còn ngả theo họ Mạc,
rất nguy hiểm. Đã thế thành phần nhân dân vùng này thực phức tạp. Phần đông là hạng
lưu dân, quan quân bất mãn họ Trịnh, thổ hào, thổ tù quen tánh hung bạo, ương ngạnh,
phóng túng, buông lung, lại từng được dung dưỡng cái không khí hỗn loạn qua bao
nhiêu biến cố dồn dập, kế tiếp nên họ bất chấp cả kỷ cương, pháp lệnh. Quốc sử quán
triều Nguyễn có ghi lại trong Đại Nam thực lục: “Nay lòng dân hãy còn tráo trở, nhiều
kẻ vượt biển đi theo họ Mạc, sợ có kẻ dẫn giặc về cướp, ví không được tướng tài trấn
thủ võ yên thì không thể xong” [100,tr.28]. Hay Linh mục Cristoforo Borri có quãng
thời gian sống ở Đàng Trong (1618-1622), đã ghi nhận về sự phức tạp đó: “Xứ Đàng
Trong trải dài hơn một trăm dặm theo bờ biển, ở vĩ tuyến 11, cho tới khoảng vĩ tuyến
17, chỗ bắt đầu quốc gia của chúa Đàng Ngoài. Bề rộng không lớn lắm, chỉ chừng hai
mươi dặm Ý, đất bằng, một bên là biển và một bên là dãy núi chạy dài có Kẻ Mọi ở,
tên gọi này có nghĩa là man di. Mặc dù họ là người Đàng Trong nhưng họ không nhìn
nhận chúa cũng không thuần phục ngài. Họ đóng đô và chiếm giữ miền núi rất hiểm
trở” [20,tr.13].
Tuy nhiên, vùng đất Thuận Hóa lại có một vai trò và vị trí hết sức quan trọng,
chính Trịnh Kiểm đã nói: “Xứ Thuận Hóa là một kho tinh binh trong thiên hạ, thời
xưa quốc triều ta bắt đầu gây dựng cơ nghiệp, cũng đã dùng dân xứ ấy để dẹp giặc
Ngô. Xứ ấy địa hình hiểm trở, dân khí cương cường, lại có rất nhiều nguồn lợi trên

Không chỉ Thuận Hóa, mà Quảng Nam cũng là một vùng đất được Nguyễn
Hoàng cho là nơi “đất tốt, dân đông, sản vật giàu có” [100,tr.35]. Sau khi từ Đông Đô
trở về, để chuẩn bị cho công việc hưng khởi nghiệp lớn, Nguyễn Hoàng đã bắt đầu chú
trọng đến vùng đất Quảng Nam. Năm 1601, Nguyễn Hoàng có một cuộc kinh lý đến
vùng đất phía Bắc đèo Hải Vân. Khi đặt chân lên Ải Vân quan, ngắm xem địa hình địa
vật, cảnh trí núi sông, với cặp mắt của một người khá sành về phong thủy, với cái nhìn
của một Tổng trấn tướng quân nặng mang hoài bão kiến tạo nghiệp vương, nghiệp bá,
Tiên chúa Nguyễn Hoàng hẳn phải nhận rõ được tầm quan trọng và những ưu thế của
trấn này, nhất là của vùng thuộc phần đất Quảng Nam, Quảng Tín hiện nay, về mặt
quân sự, hành chính cũng như kinh tế. Đó là những ưu thế về tài nguyên, vật lực để có
thể chặn đứng được các cuộc tấn công của họ Trịnh ở phía Bắc xuống và là nơi có thể
tạo bàn đạp cho cuộc Nam tiến mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam. Tác giả Phan Du


24

nhận xét trong sách “Quảng Nam qua các thời đại”: “Muốn gây nghiệp lớn, trong cái
thế của Tiên chúa Nguyễn Hoàng thời đó, cần phải tạo một cơ sở vừa đem lại cái thể ỷ
dốc cho Thượng Đô và cho cả Chính Dinh, nhằm có đủ khả năng, lực lượng chặn
đứng mọi cuộc tiến chiếm của quân Trịnh từ phía Bắc tràn xuống, và mặt khác, vừa
tạo được một bàn đạp để bành trướng thế lực, mở rộng bờ cõi về Nam” [21,tr.58].
Vì vậy, vị trí của Dinh trấn Quảng Nam đã được khéo chọn bởi nó hội tụ đầy đủ
các yếu tố đáp ứng mục tiêu trên. Nguyễn Hoàng đã cho lập Dinh Trấn mới tại xã Cần
Húc huyện Duy Xuyên hay xã Thanh Chiêm, huyện Diên Phước 2 và giao cho Nguyễn
F
1

Phúc Nguyên làm trấn thủ dinh Quảng Nam. Đại Nam thực lục đã cho biết rằng:
“Tháng 7 năm Nhâm Dần (1602), năm 45 đời Gia Dũ hoàng đế, lập Dinh Trấn Quảng
Nam tại xã Cần Húc (hay Hốc), huyện Duy Xuyên xây đền Long Hưng ở phía đông”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status