Thực trạng quan hệ thơng mại Việt-
Nhật trong những năm qua
2.1 Các giai đoạn lịch sử phát triển quan hệ thơng mại-
kinh tế Việt-Nhật:
2.1.1 Sơ lợc về quan hệ thơng mại Việt-Nhật trớc năm 1973:
Quan hệ kinh tế thơng mại giữa Nhật Bản và Việt Nam đợc tiến hành từ nửa đầu
thế kỷ XVII dới hình thức trao đổi hàng hoá giữa thơng gia hai nớc tại các cảng
của Việt Nam và đợc vận chuyển trên các tàu buôn của Nhật. Những hàng hoá mà
hai bên trao đổi với nhau thờng là những sản phẩm quý hiếm của Việt Nam nh tơ
lụa, san hô, ngà voi, da hơu, Sang tới thời kỳ Việt Nam trở thành thuộc địa của
Pháp thì các thơng gia Nhật đã vào Việt Nam mua một khối lợng than rất lớn từ
mỏ Hòn Gai. Khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Nhật Bản đợc u đãi trong
quan hệ với Đông Dơng nên vào hai năm 1941 và 1942 kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam sang Nhật tăng mạnh từ 1.499,3 triệu Fr lên 2.338,8 triệu Fr chiếm tới
94,6% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt-Nhật. Các mặt hàng xuất khẩu
của Việt Nam lúc bấy giờ chủ yếu là tài nguyên thiên nhiên nh cao su, quặng sắt,
than, thể hiện sự khai thác kiệt quệ tài nguyên thiên nhiên Việt Nam của phát
xít Nhật. Từ năm 1945 đến năm 1954, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam và
Nhật chỉ diễn ra ở các vùng bị Pháp chiếm đóng với kim ngạch không đáng kể so
với thời kỳ trớc đó. Từ năm 1955, do Việt Nam bị chia cắt làm hai miền nên hoạt
động thơng mại giữa hai nớc cũng bị tách thành hai phần riêng biệt và độc lập với
nhau. Ngay sau khi ký hiệp nghị Giơnevơ 1954, một số công ty thơng mại Nhật đã
bắt đầu buôn bán với Bắc Việt Nam mặc dù lúc đầu còn phải mua bán qua các
trung gian Tiệp hay Pháp.
1 1
Tháng 8 năm 1955, các công ty Nhật Bản thành lập Kinyokai (Câu lạc bộ ngày thứ
sáu) sau trở thành Hội mậu dịch Việt-Nhật. Tháng 5 năm 1956, những đại diện của
hội Kinyokai đã thành công trong việc ký kết nghị định th thơng mại không chính
thức lần đầu tiên tại Hà Nội. Vì Chính phủ Nhật cha cho phép buôn bán trực tiếp
nên phải trao đổi hàng hoá qua Hồng Kông. Tháng 3 năm 1958, Hiệp nghị th thứ
hai đợc ký kết cho phép buôn bán trực tiếp với miền Bắc Việt Nam. Đó là một bớc
g số
Cán
cân
Miền
Nam
Cán
cân
Miền
Bắc
Tổn
g số
19
60
19
61
19
62
19
63
19
64
19
65
19
66
19
67
61.490
65.714
60.066
63.41
9
37.61
4
37.44
8
40.50
9
143.7
35
176.4
02
4.757
2.849
3.932
6.036
6.743
6.542
5.386
4.576
2.719
3.309
4.554
4.190
13.839
10.196
12.696
12.954
10.254
9.842
132.70
0
170.01
0
196.24
4
219.87
4
141.51
9
-
4.246
-
8.109
-
9.601
-
5.937
-
6.471
-
7.603
-
4.001
-
4.869
52.
487
54.
756
15
151.0
93
153.1
16
107.7
21
9.32
4
10.8
71
15.7
76
16.3
78
36.7
34
145.18
0
90.834
-
3.663
1.244
-
1.297
-
7.840
509
.14
1
Nam Dân chủ cộng hoà) và Miền Nam (Việt Nam cộng hoà). Vì thế, quan hệ th-
ơng mại với Việt Nam nói chung và Miền Bắc nói riêng chỉ phát triển ở mức nhất
định một phần do thể chế chính trị phức tạp, một phần do chịu áp lực của phía Mỹ.
Nhng so với hậu quả của sự kiện Mỹ phong toả, bao vây đờng không và đờng biển
vùng Vịnh Bắc Bộ năm 1972 thì thơng mại giữa hai nớc cũng có bớc phát triển
đáng kể, năm 1974 kim ngạch buôn bán hai chiều là 50 triệu USD và đến năm
1975 tăng gần 20 triệu USD trong khi năm 1972, kim ngạch hai chiều cha tới 6
triệu USD.
Bảng 10, Thơng mại Việt-Nhật (1972-1975):
(đơn vị nghìn USD)
Nă
m
KNXK KNNK KNXNK Cán cân
thơng
mại
Nghìn
USD
Tốc độ
tăng
(%)
Nghìn
USD
Tốc độ
tăng
(%)
Nghìn
USD
Tốc
độ
tăng
khoán
g
Hàng hoá đã
chế biến
Tổng
số
Sản
phẩm
cá
Tổng
số
Gỗ
xẻ
Tổng
số
V
ải
19
73
19
74
19
75
7.627
30.19
4
26.69
7
782
482
Giai đoạn này đợc đánh dấu bởi một sự kiện chính trị quan trọng của Việt Nam, đó
là Việt Nam đã trở thành một quốc gia thống nhất, không còn tình trạng đất nớc bị
chia cắt làm hai miền dới hai chế độ chính trị khác nhau. Đây là thời kỳ Việt Nam
khắc phục những hậu quả do chiến tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Do đó,
quan hệ giữa hai nớc đợc cải thiện tạo đà cho hoạt động ngoại thơng phát triển
mạnh. Sau khi đất nớc hoàn toàn giải phóng, Việt Nam một mặt tiếp tục duy trì
hoạt động thơng mại với các nớc bạn hàng truyền thống nh Liên Xô, Đông Đức,..
một mặt xây dựng quan hệ buôn bán với các nớc t bản phát triển nh Nhật Bản,
Pháp, Thuỵ Điển,.. Kim ngạch thơng mại hai chiều của Việt Nam từ năm 1976 đã
tăng lên một cách đáng kể, đến năm 1986 Nhật Bản trở thành bạn hàng lớn thứ hai
của Việt Nam (sau Liên Xô cũ).
Cũng cần lu ý rằng trong thời kỳ này, Việt Nam chịu sự phong toả gay gắt của
chính sách cấm vận Mỹ, nhiều nớc t bản chịu tác động bởi áp lực chính trị từ phía
Mỹ rất rụt rè trong quan hệ với Việt Nam, trong khi đó, Nhật Bản lại là nớc có
nhiều thiện chí trong quan hệ với Việt Nam và còn là nớc cung cấp ODA vào loại
lớn nhất trong số các quốc gia t bán chủ nghĩa.
6 6
Bảng 12, Buôn bán của Nhật với Việt Nam 1976-1986:
(đơn vị: nghìn USD)
Năm 1976 1977 1978 1979 1980 1981 198
2
1983 1984 1985 1986
Xuất
khẩu
Nhập
khẩu
Cán cân
118.7
95
39.90
44
72.1
05
92.3
39
36.0
18
56.3
21
119.2
21
37.62
5
81.56
9
119.0
18
51.20
6
67.81
2
148.
836
65.0
27
83.8
09
189.1
87
82.92
ă
m
L-
ơng
thự
c
Nh
iên
liệ
u
Vải Khoáng
sản không
phải kim
loại
Sản phẩm
công
nghiệp nhẹ
khác
Sản
phẩm
hoá
học
Hàng
kim
loại
Máy
móc
19
76
158
19
84
19
85
19
86
484
1.4
59
2.3
50
3.5
00
6.3
95
1.4
07
3.4
56
654
547
3.2
31
4.3
49
2.5
93
6.6
50
5.6
989
4.342
5.018
1.047
1.526
1.662
2.258
2.556
2.064
2.246
8.790
4.633
10.228
7.769
3.685
8.685
7.511
10.165
15.382
32.65
6
38.66
9
18.48
5
20.71
3
17.42
3
24.83
2
47.63
5
41.30
9
45.90
9
25.28
2
39.32
7
46.30
2
72.03
0
108.7
66
(Nguồn: Thống kê của Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản).
Bảng thống kê trên cho thấy Việt Nam nhập khẩu từ Nhật Bản những mặt hàng
có hàm lợng chất xám cao nên giá trị cũng cao hơn nhiều so với những mặt
hàng mà Việt Nam xuất khẩu sang Nhật. Nếu nh những sản phẩm công nghiệp,
máy móc khoáng sản không phải kim loại từ trớc năm 1876 Việt Nam nhập
khẩu rất ít, nhng kể từ 1976 trở đi tăng nhanh chóng, đặc biệt là máy móc. Năm
1973, tổng trị giá máy móc nhập khẩu là 698 nghìn USD thì đến năm 1986 đạt
108,766 triệu USD, tăng 155,8 lần so với năm 1973 và 2,45 lần so với năm
1976.
Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ này thờng là nhiên liệu khoáng,
lơng thực thực phẩm,..
Bảng 14, Xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật thời kỳ 1976-1986:
(đơn vị: nghìn USD)
o
su
Tổn
g số
V
ải
19
76
19
77
19
78
19
79
19
80
19
81
19
82
19
83
19
84
19
85
19
86
26.69
7
12.5
21
20.6
79
21.9
78
28.1
23
36.2
41
53.8
21
7.286
17.19
1
13.90
0
13.22
7
10.36
9
11.40
6
19.46
0
21.34
3
27.20
2
35.25
1
75
2
61
2
0
0
27
3
65
16
49
6
63
6
76
8
76
1
86
6
95
10
9
49
5
31
8
0
4
64
4
1.
32
0
1.
64
4
1.
04
2
49
2
15
2
67
28
56
6
82
1
2.
28
2
0
5
11
4
13
sự tăng trởng vững chắc và ổn định. Khối lợng buôn bán tăng ổn định và Nhật
dần dần trở thành bạn hàng số một của Việt Nam thay thế vị trí của Liên Xô cũ
và Singapore. Tổng kim ngạch ngoại thơng của cả hai nớc tăng lên nhanh
chóng từ 366,6 triệu USD (1989) lên 509,3 triệu USD (1990) và năm 1991 tăng
tới 877,0 triệu USD. Đặc biệt năm 1992 là năm lần đầu tiên giá trị buôn bán
Việt-Nhật đạt trên 1 tỷ USD.
Biểu đồ 2:
(Đơn vị: triệu JPY)
(Nguồn: Thống kê của Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản)
Kim ngạch hai chiều của hai nớc tăng từ năm 1991 đến 1997, năm 1991 thặng
d thơng mại của Việt Nam trong quan hệ với Nhật đạt gần 60 tỷ JPY, và đến
năm 1997 đạt trên 100 tỷ JPY. Tuy nhiên, xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật
năm 1998, 1999 có phần giảm sút do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ khu vực. Nhng đến năm 2000, thơng mại Việt Nhật có xu hớng đợc
11 11
phục hồi, đạt 497,5 tỷ JPY, trong đó xuất khẩu tăng 27,6%, nhập khẩu tăng
15% so với năm 1999. Trong năm 2001, xuất khẩu tăng 11,3%, nhập khẩu tăng
ít hơn 1,7%. Nh vậy, thặng d thơng mại của Việt Nam với Nhật tăng cao năm
2001 và trong 8 tháng đầu năm 2002 thặng d thơng mại của Việt Nam đạt
29.059,322 triệu JPY trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật đạt
194.839,084 triệu JPY, nhập khẩu đạt 165.779,762 triệu JPY.
Bảng 15, Những mặt hàng chủ yếu Việt Nam nhập khẩu từ Nhật 1998-2001:
(Đơn vị: triệu JPY)
Mặt hàng Năm
1998 1999 2000 2001
Tổng kim ngạch nhập
khẩu
100,0%
173,802
100,0%
Nhựa
9,3%
16,169
3,764
6,098
9,4%
17,446
4,165
6,783
8,2%
17,543
3,436
7,112
5,5%
17,461
3,337
6,830
Các sản phẩm kim loại
Sắt và thép
Kim loại không phải là sắt
Các sản phẩm kim loại
11,0%
19,082
14,190
1,325
3,567
11,7%
21,602
13,965
2,360
23,7%
43,776
14,513
316
207
1,440
2,370
1,106
2,870
2,233
17,1%
36,402
8,458
273
152
2,496
3,967
930
1,702
1,498
13,6%
43,029
3,640
544
321
3,514
8,595
1,424
1,985
3,030
51,953
3,004
49
23
1,836
25,187
24,367
Thiết bị vận tải
Ô tô
Phụ tùng ô tô
Xe máy
Tàu thuỷ
7,3%
12,636
3,138
257
3,541
486
5,0%
9,260
2,773
468
2,143
557
11,9%
25,230
4,932
1,485
2,241
846
31,410
1,557
606
61
14,1%
26,078
1,390
479
80
18,8%
40,075
1,591
622
90
38,4%
121,737
2,126
465
139
(Nguồn: Japan exports and imports (Japan Tariff Association)).
Việt Nam nhập khẩu từ Nhật Bản những hàng hoá có giá trị và hàm lợng chất
xám cao. Trong đó, mặt hàng có trị giá cao nhất là máy móc điện tử, chiếm tới
16,4% tổng trị giá nhập khẩu năm 2001. Tiếp theo là máy móc cơ khí, các sản
phẩm từ sắt thép, thiết bị vận tải chiếm 13,6% và 9,9%, 5,7% kim ngạch nhập
khẩu năm 2001.
Mặc dù, kim ngạch nhập khẩu tăng qua các năm và kim ngạch nhập khẩu của
những mặt hàng này có tăng nhng tỷ trọng của nó thì lại giảm qua những năm
gần đây. Chẳng hạn nh máy móc điện tử từ năm 1998 đến 2001 chiếm 18,1%
năm 1998 tăng 20,7% năm 1999, rồi giảm xuống 18,1% (2000) và 16,4%
(2001).
24,6%
54.737
56
46.780
1.417
272
20,9%
59.555
21
52.561
1.567
338
20,7%
65.592
13
57.690
2.212
400
14 14
Nguyên liệu
Gỗ
Kim loại ngoài sắt
1,9%
1.467
232
123
1,8%
4.099
509
1.008
1,1%
2.360
1,3%
3.673
1,8%
5.555
Sản phẩm dệt may
Quần áo các loại
29,8%
22.600
19.798
27,1%
60.391
51.491
26,0%
74.021
63.939
24,2%
76.607
65.439
Phi kim
0,2%
167
0,5%
1..287
0,5%
1.535
0,6%
1.774
Kim loại và các sản phẩm của nó
132
3.375
Những mặt hàng khác
Sản phẩm gỗ
Nội thất
8,7%
6.589
1.020
1.897
14,0%
31.307
3.703
10.674
12,5%
35.471
4.383
11.592
14,9%
47.334
6.210
16.593
Nguồn: The Summary Report, Trade of Japan (Japan Tariff association).
Xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật tăng trởng với tốc độ cao qua các năm, từ
năm 1995 đến năm 1999 tăng 294,06%, từ năm 1999 đến 2001 tăng 142,02%
và luôn đạt thặng d thơng mại trong quan hệ với Nhật Bản. Chúng ta nhập khẩu
từ Nhật những mặt hàng có hàm lợng công nghệ cao và ngợc lại, xuất khẩu
sang Nhật những sản phẩm sơ chế, nguyên nhiên liệu là chủ yếu. Mặt hàng
thực phẩm hiện đang chiếm vị trí cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu sang
Nhật, trị giá tăng dần qua các năm 1995, 1999, 2000, 2001 là 17.847 triệu JPY,
54.773 triệu JPY, 59.555 triệu JPY và 65.592 triệu JPY. Ngoài ra, khoáng sản