BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Thùy Linh
ĐỘNG CƠ SỬ DỤNG RƯỢU BIA
CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN
TP. HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Thùy Linh
ĐỘNG CƠ SỬ DỤNG RƯỢU BIA
CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN
TP. HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành :
Mã số
:
Tâm lý học
60 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ......................................................................... 5
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 6
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu ...........................................................................6
2. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................................7
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu ..............................................................................8
4. Giả thuyết nghiên cứu ....................................................................................................8
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................................................8
6. Giới hạn của đề tài ..........................................................................................................8
7. Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................................9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐỘNG CƠ SỬ DỤNG RƯỢU BIA ............ 10
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................10
1.1.1. Quan điểm của một số học thuyết về động cơ. .....................................................10
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về động cơ ở Việt Nam. .............................................14
1.1.3. Các công trình nghiên cứu về vấn đề sử dụng rượu, bia trên thế giới .........................16
1.1.4. Các công trình nghiên cứu về vấn đề sử dụng rượu, bia ở Việt Nam............................18
1.1.5. Các chính sách về phòng chống tác hại của rượu, bia ở Việt Nam.......................20
1.2. Những vấn đề lí luận chung về động cơ sử dụng bia rượu ....................................21
1.2.1. Khái niệm động cơ ................................................................................................21
1.2.2. Cấu trúc động cơ của nhân cách. ...........................................................................25
1.2.3. Phân loại động cơ ..................................................................................................28
1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến động cơ sử dụng bia rượu ...........................................29
1.3. Ảnh hưởng của hành vi lạm dụng bia rượu đối với con người. ............................30
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT ĐỘNG CƠ SỬ DỤNG RƯỢU BIA CỦA SINH VIÊN
ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TP HCM ..................................................................... 35
dụng rượu bia. .................................................................................................................88
3.3.2. Tác động thay đổi hành vi .....................................................................................89
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................... 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 93
PHỤ LỤC ................................................................................................................... 95
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐH CN
: Đại học Công Nghiệp
ĐH LĐ-XH
: Đại học Lao Động - Xã Hội
ĐH TDTT
: Đại học Thể Dục Thể Thao
ĐLC
: Độ lệch chuẩn
SL
hậu bị của đất nước. Đây là độ tuổi mà mỗi cá nhân khởi đầu quá trình thực sự chủ
động và tích cực tham gia vào đời sống xã hội. Hoạt động chủ đạo của sinh viên là
học tập và rèn luyện chuẩn bị cho nghề nghiệp. Nếu họ không nhận thức được tác hại
của bia rượu nói riêng và các chất kích thích nói chung mà có hành vi lạm dụng thì sẽ
có ảnh hưởng tiêu cực đến bản thân và cộng đồng.
Vấn đề sử dụng rượu bia đã có từ lâu đời nhưng càng ngày càng trở nên thịnh
hành bởi vì Việt Nam cũng như một số nước châu Á khác (Nhật Bản, Hàn Quốc…)
6
thì uống rượu bia trở thành nhu cầu đòi hỏi trong làm ăn. Quán ăn, nhà hàng là nơi
nhiều giao kèo quan trọng được kí kết, chính nhu cầu này đã ảnh hưởng đến nhận
thức của giới trẻ hiện nay về hành vi uống bia rượu, đặc biệt là hình thành trong họ
quan niệm “bia rượu” là thứ không thể thiếu trong bước đường xây dựng sự nghiệp
của một người thành công. Quan niệm người Việt Nam coi biết uống bia rượu như là
một “tố chất”, “làm sếp thì phải biết uống bia rượu”, thậm chí uống bia rượu được coi
như một cách để chứng tỏ bản lĩnh của bản thân như là: nam giới tửu lượng kém thì
bị coi là “đàn bà”, “yếu”, người có tửu lượng cao thì được coi là “đấng nam nhi”…
những quan niệm này đã ảnh hưởng không nhỏ tới hành vi sử dụng rượu bia của giới
trẻ hiện nay.
Theo nghiên cứu của WHO thì rượu là nguyên nhân đứng thứ 5 trong danh
sách 10 nguyên nhân gây tử vong cao nhất trên toàn cầu. Theo đánh giá của bộ y tế
mỗi năm người Việt Nam tiêu thụ hàng tỉ lít bia và là nước tiêu thụ Heineken đứng
thứ 3 trên thế giới (sau Mĩ và Đức). Năm 2011 Việt Nam tiêu thụ 2,6 tỉ lít bia. Một
nghiên cứu mới đây của Viện Chiến lược và Chính sách y tế cho thấy, có 1/3 dân số
Việt Nam sử dụng bia rượu. Tỷ lệ lạm dụng rượu là gần 1/5 (đối với bia, tỷ lệ này
thấp hơn). Theo thống kê của Viện chiến lược & chính sách y tế thì 1/3 số người sử
dụng rượu bia bắt đầu uống trước 20 tuổi, đây là lứa tuổi học sinh và đầu sinh viên.
Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về động cơ, đặc biệt là các đề tài về động cơ
học tập và động cơ lựa chọn nhề nghiệp…. Tuy nhiên, tôi nhận thấy chưa có một đề
dụng bia rượu cho phù hợp với sức khỏe của cá nhân và yêu cầu của cộng đồng.
6. Giới hạn của đề tài
6.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu động cơ sử
dụng rượu bia của sinh viên đại học trên địa bàn TP HCM ở 3 mặt biểu hiện (nhận
thức của sinh viên về rượu bia và tác hại của hành vi lạm dụng rượu bia, thái độ - tình
cảm của sinh viên đối với vấn đề sử dụng rượu bia, mức độ và cường độ sử dụng
8
rượu bia của sinh viên), sự khác nhau về động cơ sử dụng rượu bia giữa sinh viên các
nhóm ngành.
6.2. Phạm vi khảo sát: Khảo sát động cơ sử dụng bia rượu của 371 sinh viên
thuộc một số trường đại học trên địa bàn TP HCM:
+ Trường ĐH Công Nghiệp TP HCM
+ Trường ĐH Lao Động – Xã Hội
+ Trường ĐH Thể Dục Thể Thao TP HCM ….
7. Phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đề tài nghiên cứu có tham khảo một số giáo
trình, tài liệu, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, các bài
viết trên các tạp chí, website có liên quan. Đó là những cơ sở để người nghiên cứu
phân tích, tổng hợp và khái quát những vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu
nhằm làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu và nội dung nghiên cứu.
2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Đề tài nghiên cứu được thực hiện theo cách
tiếp cận thực tiễn và hoạt động. Vì thế, người nghiên cứu sử dụng phương pháp điều
tra bằng bảng hỏi làm phương pháp chủ đạo nhằm thu thập thông tin thực tế từ học
sinh và giáo viên về vấn đề động cơ chọn nghề. Bảng hỏi được xây dựng theo thứ tự
các bước sau:
Bước 1: Xây dựng phiếu thăm dò mở
Bước 2: Xây dựng phiếu thăm dò ý kiến chính thức
nhiên, Aristote cũng đã chỉ ra được rằng, con người khác con vật ở chỗ con người có
khả năng dùng lý trí của mình để ức chế các thèm muốn. Tuy vậy, những kết luận
trong thời kỳ bấy giờ thiếu cơ sở khoa học để chứng minh động cơ một cách rõ ràng.
10
Phân tâm học, đứng đầu là S. Freud đã lý giải bản chất động cơ con người theo
hướng sinh vật hoá. Quan điểm này cho rằng, bản năng sẵn có từ khi con người mới
sinh là động lực thúc đẩy (động cơ) mọi hoạt động của con người. Do đó theo ông, về
bản chất động cơ của con người mang tính vô thức. Đời sống con người do bản năng
tình dục (libido) chi phối tất cả các hoạt động. Năng lượng ấy thoát ra ngoài ở những
dạng hoạt động khác nhau. Nếu nhu cầu về bản năng ấy không được thỏa mãn, con
người sẽ rơi vào trạng thái căng thẳng. Atler, nhà tâm lý học theo trường phái Phân
tâm học kiểu mới cho rằng, động lực cơ bản của hành vi quyết định mục đích cũng
như con đường của hoạt động. Mối quan hệ giữa khát vọng hung mạnh và cảm giác
yếu kém quy định tính chất những động cơ khi con người hành động. Nhìn chung, lý
thuyết Phân tâm nhìn nhận động cơ con người như những bản năng.
Tâm lý học Hành vi: (đại diện tiêu biểu là J. Watson) đã lấy hành vi làm đối
tượng nghiên cứu của mình. Những người theo chủ nghĩa hành vi cho rằng cái quy
định (động cơ) của phản ứng là những kích thích từ bên ngoài vào nhu cầu của cơ thể
lúc tiếp nhận kích thích đó (S->R, S-O-S hay S-r-s-R). Cả chủ nghĩa hành vi cổ điển
lẫn chủ nghĩa hành vi mới đều mắc phải sai lầm là đã sinh vật hóa con người, đồng
nhất tâm lý con người và tâm lý động vật. Các tác giả theo trường phái này cũng chưa
giải thích được nguyên nhân nào thúc đẩy con người thực hiện các hành động. Họ
cho rằng, nhu cầu con người cũng tương đương với nhu cầu của động vật, bỏ qua tính
chất xã hội của con người.
Tâm lý học Ghestalt (đại diện tiêu biểu là M. Wertheimer, V. Kohler và K.
Koffka). Trường phái này chủ yếu nghiên cứu về tri giác và các quy luật của nó,
ngoài ra còn nghiên cứu một phần về tư duy. K. Lewin – một trong những đại diện
đường giải quyết nhiệm vụ. Đến năm 1966 xuất hiện lý thuyết “tâm thế” của D.N.
Uzanadze, cho rằng động cơ thúc đẩy hành vi con người tuân theo lý thuyết tâm thế.
Ông cho rằng “nhu cầu là nguồn gốc tính tích cực” của nhân cách. Khi chủ thể hướng
ra môi trường bên ngoài nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu trước mắt, thì mọi tình
trạng xuất hiện nhất định gây ra trong chủ thể một tâm thế nhất định, và thông qua
tâm thế này hướng dẫn toàn bộ hành vi tiếp theo của nó. Ông không tán thành việc
12
đưa khái niệm “đấu tranh động cơ” vào tâm lý học. Vì ông cho rằng, mọi hành vi chỉ
có một động cơ đem lại ý nghĩa cho hành vi đó. Quan điểm của ông bị các nhà tâm lý
học khác phê phán, bởi động cơ tồn tại như một hệ thống những động cơ. Khi thực
hiện một hoạt động bất kỳ, bao giờ cũng có sự đấu tranh giữa các động cơ đó. Tuy
nhiên, ông đã vạch ra được những hiểu biết mới về khái niệm nhu cầu, các dạng nhu
cầu, mối liên hệ của chúng với các hình thức hành vi con người, mối tương quan giữa
hành vi và tâm thế. P.M.Jakobson thì xác định con người thực hiện những hành động
do mục đích chung hoặc mục đích cụ thể. Ông phân biệt động cơ hành vi theo nghĩa
hẹp, đó là những động cơ của hành vi cụ thể, và theo nghĩa rộng thì động cơ hành vi
là tổng hòa những yếu tố tâm lý quyết định hành vi của con người nói chung.
V.S.Merlin đồng nhất khái niệm động cơ với nhu cầu, nó biểu thị mối quan hệ con
người với sự vật, hiện tượng. Mỗi động cơ đều có hai khía cạnh kích thích hành động
và thái độ cảm xúc. Trong lịch sử nghiên cứu về vấn đề động cơ, Leonchiev là tác giả
nghiên cứu sâu sắc và có sức thuyết phục lớn. Theo Leonchiev, đối tượng đáp ứng
nhu cầu này hay nhu cầu khác nằm trong hiện thực khách quan, khi chúng bộc lộ ra
và được chủ thể nhận biết. Đối tượng ấy có chức năng thúc đẩy, hướng dẫn hoạt
động, tức trở thành động cơ. Ông mô tả “đối tượng ấy xuất hiện với tính chất là một
hiện tượng tinh thần, một động cơ thúc đẩy từ bên trong”. A.N. Leonchiev cho rằng
động cơ là: a) Động cơ và nhu cầu là hai hiện tượng tâm lý gắn bó chặt chẽ với nhau;
b) Động cơ chính là đối tượng có khả năng đáp ứng nhu cầu đã được chủ thể tri giác,
biểu tượng, tư duy… Đó là sự phản ánh chủ quan về đối tượng thỏa mãn nhu cầu; c)
nhà tâm lý học Việt Nam về động cơ: Nguyễn Quang Uẩn cho rằng, động cơ là “cái
thúc đẩy con người hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu, là cái làm nảy sinh tính tích
cực và quy định xu hướng của hướng tích cực đó. Động cơ là động lực kích thích trực
tiếp, là nguyên nhân trực tiếp của hành vi”. Theo Vũ Dũng (Từ điển Tâm lý học,
2008) động cơ là: “cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu
của chủ thể, là toàn bộ điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính
tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó; Đối tượng (vật chất hay tinh
thần) thúc đẩy và xác định sự lựa chọn xu hướng của hành động mà vì nó hành động
được thực hiện; Nguyên nhân, cơ sở của sự lựa chọn các hành động và hành vi”. Các
14
nhà tâm lý học của Việt Nam chịu sự ảnh hưởng tư tưởng của các nhà tâm lý học
Liên Xô (cũ). Vì thế, quan điểm về động cơ của các nhà tâm lý học Việt Nam khá
giống với quan điểm của các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ).
Có thể nói những đề tài được tập trung nghiên cứu sớm và nhiều nhất liên quan
đến động cơ trong hoạt động giáo dục như động cơ học tập, động cơ chọn nghề hay
ngành học: Hoàng Thị Thu Hà (2003), Các yếu tố kích thích hoạt động học tập của
sinh viên ĐH Sư phạm, tạp chí Tâm lý học số 3/2003. Vũ Bích Hạnh (2007), Tìm
hiểu thực trạng hình thành và phát triển động cơ học tập của sinh viên khoa Báo chí,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Khoá luận tốt nghiệp 2003-2007.
Đào Lan Hương (2006), Nghiên cứu động cơ học tập của sinh viên trường Cao đẳng
Sư Phạm Bắc Ninh. Dương Thị Kim Oanh (2004), Nghiên cứu động cơ học tập của
sinh viên khoa Sư phạm kỹ thuật trường ĐH Bách khoa Hà Nội, tạp chí Tâm lý học,
số 4/2004. Trần Thị Thơm (2006), Động cơ học tập chuyên ngành Tâm lý học của
sinh viên khoa Tâm lý, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Khoá luận tốt
nghiệp 2002-2004. Trần Thị Thìn, Động cơ học tập của sinh viên sư phạm - thực
trạng và phương hướng giáo dục, Luận văn Tiến sĩ Tâm lý học 2004. Lê Xuân Tiến
(1997), Tìm hiểu động cơ học tập của học sinh lớp 5, Luận án Thạc sĩ khoa học sư
phạm - tâm lý. Trương Thành Trung (2006), Hình thành động cơ đúng đắn trong hoạt
sở lý luận và phương pháp luận của tâm lý học hoạt động. Các công trình nghiên cứu
về động cơ đã được các nhà nghiên cứu đề cập ở nhiều góc độ, lĩnh vực khác nhau,
ngày càng khẳng định được tầm quan trọng của nó đối với đời sống tâm lý mỗi con
người.
1.1.3. Các công trình nghiên cứu về vấn đề sử dụng rượu, bia trên thế giới
Các nghiên cứu gần đây của nhiều nước trên thế giới như Thụy Điển, Anh,…
cho thấy xu hướng trẻ hóa tuổi bắt đầu uống rượu, gia tăng trong tần suất và lượng
rượu tiêu thụ ở nhóm tuổi thanh niên (WHO, 2004). Trong năm 2004 - 2005, cứ
100.000 học sinh trung học ở Anh thì có 146 học sinh bị nhà trường tạm thời cho
nghỉ học vì có liên quan đến đồ uống có cồn và 06 trên 100.000 học sinh bị đuổi khỏi
trường học. Và, đồ uống có cồn còn được xác định là có mối liên quan đến tình trạng
16
trốn học. Ở London, trong độ tuổi 14-16 có hơn 2/3 lạm dụng rượu, bia và đó là
những đối tượng thường xuyên trốn học (Best, D; Manning, V; Gossop, M et al.
(2006). Excessive drinking and other problem behaviours among 14-16 year old
children. Addictive Behaviours. 31(8): 1424-1435). Độ tuổi và địa điểm sử dụng
rượu, bia có mối liên hệ với việc sử dụng rượu, bia của giới trẻ, theo một cuộc khảo
sát ở North West của Anh cho thấy: Khoảng 90% số học sinh (tuổi 15 và 16) được
khảo sát cho biết họ thỉnh thoảng uống rượu. 38.0% thường rơi vào trạng thái “hũ
chìm”, 24.4% là thường xuyên uống (uống hai hay nhiều lần một tuần) và 49.8%
uống tại các nơi công cộng (chẳng hạn như tại các câu lạc bộ, đường phố và công
viên). Trẻ em thường uống rượu ở các nơi công cộng nhiều hơn là uống tại gia đình
(Trích lại từ Alcohol and adolescents, 2010). Nghiên cứu của Victoria White và Jane
Hayman, 2006 về “Sử dụng đồ uống có cồn của học sinh trung học Úc vào năm
2005”. Kết quả, tỷ lệ học sinh hiện đang uống rượu, bia trước thời điểm khảo sát tăng
lên theo lứa tuổi với 10% ở tuổi 12 và tăng lên tới 49% ở độ tuổi 17. Cha mẹ là yếu tố
có sự tác động phổ biến nhất đến việc sử dụng rượu, bia của học sinh, với 37% nam
lứa tuổi lần đầu tiếp cận rượu, bia đang được trẻ hóa. Sử dụng rượu, bia khác nhau
theo lứa tuổi và không có sự khác biệt về giới trong việc sử dụng rượu, bia. Địa điểm
mà giới trẻ sử dụng rượu, bia là tại gia đình, tại nhà của bạn bè hoặc tại các bữa tiệc.
Cùng với gia đình thì yếu tố nhóm bạn, các chương trình quảng cáo về rượu, bia cũng
có sự tác động nhất định đến hành vi sử dụng rượu, bia của giới trẻ.
1.1.4. Các công trình nghiên cứu về vấn đề sử dụng rượu, bia ở Việt Nam
Ở Việt Nam các vấn đề về rượu, bia đã được nghiên cứu từ những năm 90 của
thập kỷ trước. Các nghiên cứu chỉ ra rằng: tuổi lần đầu sử dụng rượu, bia có sự chênh
lệch với các nước trong khu vực, nam giới sử dụng, lạm dụng và nghiện rượu, bia
nhiều hơn so với nữ giới, tỉ lệ đã từng uống hết một cốc rượu, bia tăng theo độ tuổi.
Nghiên cứu tại phường Trung Trực, Hà Nội năm 1994 với số mẫu là 7.986 người từ
15 tuổi trở lên cho thấy nghiện rượu chỉ có ở nam giới, với 1.9% nghiện rượu, bia và
50 – 60% tổng số người nghiện rượu ở lứa tuổi 30 đến 50. Cuộc Điều tra Y tế quốc
gia (2001 – 2002), đã phát hiện 22.2% dân số trên 15 tuổi có uống rượu bia từ một
18
lần trở lên trong tuần, trong đó nam chiếm 46% và nữ chiếm 2%; 77.9% dân số trên
10 tuổi đang dùng rượu, bia đã bắt đầu uống trong độ tuổi 15 – 25. Nghiên cứu về các
bệnh lý liên quan đến rượu tại huyện Ba Vì khám lâm sàng trên 585 đối tượng từ 18
đến 60 tuổi năm 2003 cho thấy ở nam giới tỷ lệ nghiện rượu là 8% trong khi đó tỷ lệ
này ở nữ là 0% (Trích lại từ điều tra Y tế Việt Nam, 2006:101).
Năm 2006, được sự uỷ quyền của Dự án thành phần Chính sách Y tế; Viện
Chiến lược và Chính sách Y tế, Bộ Y tế đã tiến hành nghiên cứu đánh giá về “Tình
hình lạm dụng rượu bia tại Việt Nam”, cuộc điều tra đã chỉ ra rằng: Tỷ lệ sử dụng
rượu (ít nhất là 1 lần/tuần) tại các địa bàn nghiên cứu là 33.5%. Tỷ lệ sử dụng rượu
trong nhóm nam là 64%, cao hơn so với số liệu điều tra về tình hình sử dụng rượu,
bia tại 12 quốc gia đang phát triển (50%) và thấp hơn so với tỷ lệ sử dụng rượu của
nam giới trong khu vực Tây Thái Bình Dương là 84%.
cấm việc bán và uống rượu, bia trong các trường phổ thông… Năm 1998, Chính phủ
đã đưa ra luật áp thuế tiêu thụ đặc biệt với mặt hàng rượu, bia. Thủ tướng Chính phủ
cũng đã ban hành quyết định số 35/2001/QĐ – TTg ngày 19/3/2001 phê duyệt.
Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001-2010, trong
đó có mục tiêu phòng, chống nghiện rượu (Trích theo Tạp chí Dân tộc học số
6/2006:3). Ngày 07 tháng 04 năm 2008 Chính phủ có Nghị định số 40/2008/NĐ-CP
về sản xuất, kinh doanh rượu... Quy định về việc cấm sử dụng rượu, bia khi tham gia
giao thông từ 2007 và luật Giao thông đường bộ có hiệu lực từ 01/07/2009 cấm người
điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu và hơi
thở có nồng độ cồn; cấm người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có
nồng độ cồn vượt quá 50mg/100ml máu hoặc 0,25mg/l khí thở. Đặc biệt, chưa có quy
định phù hợp trong quảng cáo, khuyến mãi và đưa hình ảnh sử dụng rượu, bia trên
các phương tiện truyền thông và cũng chưa có chính sách truyền thông giáo dục về
tác hại của rượu, bia. Các chính sách chưa đồng bộ, chưa đầy đủ. Nguyên nhân của
tình trạng này là do chưa có cơ chế triển khai thực hiện, chưa được các cấp quan tâm,
thiếu sự tham gia của người dân và thiếu sự đầu tư nguồn lực.
20
Hiện nay, Chính phủ đã giao cho Bộ Y tế làm đầu mối xây dựng dự án Luật
Phòng, chống tác hại của lạm dụng rượu, bia. Theo lộ trình, trong năm 2010, Bộ Y tế
sẽ chủ trì xây dựng hoàn thiện và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chính sách
quốc gia phòng chống tác hại của lạm dụng rượu, bia. Trong dự thảo đề cương Chính
sách quốc gia phòng chống tác hại lạm dụng rượu, bia giai đoạn 2010 - 2020, một
trong những nội dung cơ bản là cấm quảng cáo, khuyến mãi rượu, bia dưới mọi hình
thức. Nhà nước sẽ tăng thuế tiêu thụ đặc biệt, quy định về thời gian và mật độ các
điểm bán lẻ rượu, bia, cấm trẻ em dưới 18 tuổi và phụ nữ mang thai sử dụng rượu,
bia… với sự ra đời của Luật Phòng, chống tác hại của lạm dụng rượu, bia cũng như
chính sách quốc gia về phòng chống tác hại lạm dụng rượu, bia.
lịch sử - xã hội của động cơ còn thể hiện ở chỗ, đối tượng thỏa mãn nhu cầu của con
người là những sản phẩm của quá trình sản xuất xã hội. Kể cả đối với những động cơ
có nguồn gốc sinh học, đáp ứng nhu cầu tồn tại của cơ thể, vì việc đáp ứng cũng
mang tính xã hội, phụ thuộc điều kiện sống cụ thể, đặc biệt là văn hóa, lối sống.
Trong tâm lí học, vấn đề bản chất động cơ còn nhiều quan điểm khác nhau,
nhưng theo Tâm lí học Macxit, động cơ là sự phản ánh tâm lí về đối tượng có khả
năng thỏa mãn nhu cầu của chủ thể. Nhu cầu bao giờ cũng nhằm vào một đối tượng
nhất định. Nó hối thúc con người hành động nhằm đáp ứng thoả mãn và chỉ khi gặp
được đối tượng có khả năng thoả mãn thì nó mới có thể trở thành động cơ thúc đẩy,
định hướng hoạt động của chủ thể, thôi thúc con người hoạt động nhằm thoả mãn nhu
cầu. Như vậy, ở đây có mối quan hệ giữa động cơ và nhu cầu. Trong tâm lí học, hai
hiện tượng này luôn được nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nhiều khi
đan xen nhau, khó tách rời. Có thể nói rằng, nếu nhìn nhận nhu cầu như là một tất yếu
khách quan, thể hiện sự đòi hỏi của chủ thể về những điều kiện cần thiết cho sự tồn
tại và phát triển, thì động cơ là biểu hiện chủ quan của tất yếu khách quan đó.
Tuy nhiên, động cơ và nhu cầu không đồng nhất với nhau, những nhu cầu
giống nhau có thể được thoả mãn bằng những động cơ khác nhau. Và ngược lại, ở
đằng sau những động cơ khác nhau lại có những nhu cầu khác nhau. Mối quan hệ
không đồng nhất giữa động cơ và nhu cầu nhờ tính chất đa dạng, đa phương thức
22
trong động cơ, và cách thức thoả mãn nhu cầu trong hành động của con người. Có thể
nói: động cơ của hoạt động có thể thấy đó chính là đối tượng của hoạt động ấy.
Xét về phương diện phát sinh, thì đối với hoạt động của con người, sự không
trùng khớp giữa các động cơ và mục tiêu là hiện tượng khởi điểm. Trái lại, sự trùng
khớp động cơ và mục tiêu lại là hiện tượng có sau: hoặc đó là kết quả của việc mục
tiêu có một động lực thúc đẩy độc lập, hoặc đó là kết qủa của sự ý thức về các động
cơ làm cho chúng trở thành những động cơ - mục tiêu. Khác với mục tiêu, các động