hứng thú nghề nghiệp của học sinh ở một số trường trung học phổ thông tại huyện bến lức, tỉnh long an - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trần Phi Hùng

HỨNG THÚ NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TẠI HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trần Phi Hùng

HỨNG THÚ NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TẠI HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN

Chuyên ngành: Tâm lí học
Mã số: 60 31 40 41
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. TRẦN THỊ THU MAI

Thành phố Hồ Chí Minh - 2014


MỤC LỤC..................................................................................................................1
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỨNG THÚ NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG .............................................................................6
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ..................................................................................6
1.1.1. Những nghiên cứu ở ngoài nước về hứng thú ..........................................6
1.1.2. Những nghiên cứu ở trong nước về hứng thú ...........................................9
1.2. Một số khái niệm cơ bản ...................................................................................12
1.2.1. Nghề nghiệp ............................................................................................12
1.2.2. Xu hướng nghề................................................................................................19
1.2.3. Hứng thú, hứng thú nghề nghiệp, HTNN của học sinh THPT .....................20
1.3. Tầm quan trọng của HTNN đối với học sinh THPT ........................................30
1.4. Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến HTNN của học sinh THPT ....................31
1.4.1. Yếu tố chủ quan (bản thân học sinh) ......................................................31
1.4.2. Yếu tố bên ngoài .....................................................................................36
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ..........................................................................................40
Chương 2 : THỰC TRẠNG HỨNG THÚ NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH Ở
MỘT SỐ TRƯỜNG THPT TẠI HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN .......41
2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu và thể thức nghiên cứu .................................41
2.1.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu ..................................................................41
2.1.2. Thể thức nghiên cứu................................................................................42


2.2.1. Nhận thức của học sinh đối với HTNN ..................................................47
2.2.2. Thái độ của học sinh đối với HNTT .......................................................57
2.2.3. Hành vi biểu hiện HTNN của học sinh ...................................................68
2.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến HTNN của học sinh .....................................72
2.2.5. Mong muốn xác định, nâng cao hứng thú nghề của học sinh .................78
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ..........................................................................................82
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HTNN CHO HỌC SINH THPT
HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN ............................................................83


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. Điểm trung bình:

ĐTB

2. Độ lệch chuẩn:

ĐLC

3. Số lượng

SL

4. Hứng thú nghề nghiệp

HTNN

5. Trung học cơ sở

THCS

6. Trung học phổ thông:

THPT

7. Phần trăm:

%


3

Bảng 2.3.

Kết quả kiểm định của phiếu khảo sát học sinh

44

4

Bảng 2.4.

Kết quả kiểm định của phiếu khảo sát cán bộ quản lý, giáo

45

viên
5

Bảng 2.5.

Nhận định về HTNN của học sinh

47

6

Bảng 2.6.

Tình hình hứng thú nghề nghiệp của học

10

Bảng 2.10.

Nhận định của giáo viên về tình hình HTNN của học

54

sinh
11

Bảng 2.11. Mức độ yêu thích của học sinh với các nhóm ngành nghề 58

12

Bảng 2.12. Mức độ hứng thú nhóm nghề xét theo lớp và giới tính

13
14

15

Bảng 2.13. Mức độ hứng thú nhóm nghề xét theo học lực và nghề
của mẹ
Thời gian yêu thích ngành của nhóm khách thể xét theo
Bảng 2.14.
lớp
Bảng 2.15.

Thời gian yêu thích ngành của nhóm khách thể xét theo

72


20

21

Bảng 2.20.
Bảng 2.21
:

Các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú nghề nghiệp của học

73

sinh
So sánh sự khác biệt của các yếu tố bản thân và các yếu

74

tố khác
So sánh mức độ ảnh hưởng của các nhóm yếu tố đến các

22

Bảng 2.22
.

nhóm học sinh khác nhau (xét theo trường học và giới


Kết quả phiếu khảo sát

89

27

Bảng 3.2.

Kết quả phiếu khảo sát

90

28

Bảng 3.3.

Mức độ cần thiết của các biện pháp nâng cao HTNN

91

theo ý kiến học sinh
29

Bảng 3.4

Mức độ khả thi của các biện pháp nâng cao HTNN theo
ý kiến học sinh

93



Định hướng phát triển nghề nghiệp của J.Holland

17

2

Sơ đồ 1.2

Những yếu tố ảnh hưởng đến HTNN của học sinh THPT

39


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
TT


hiệu

Tên biểu đồ

Trang

1

Biểu
đồ 2.1.

So sánh nhận định của học sinh và giáo viên về tình hình


sinh

5

Biểu
đồ 3.2.

So sánh đánh giá mức độ cần thiết và khả thi của giáo viên

99

6

Biểu
đồ 3.3.

So sánh mức độ cần thiết giữa học sinh và giáo viên

100

7

Biểu
đồ 3.4.

So sánh đánh giá mức độ khả thi của học sinh và giáo viên

101


cường giáo dục hướng nghiệp nhằm góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc
phân luồng học sinh, chuẩn bị cho học sinh đi vào cuộc sống lao động hoặc được


2

tiếp tục đào tạo phù hợp với năng lực bản thân và nhu cầu của xã hội”. Ngoài ra,
trong Luật giáo dục năm 2005, điều 27 đã xác định mục tiêu giáo dục trung học
phổ thông (THPT) “giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển
những kết quả của giáo dục trung học cơ sở (THCS), hoàn thiện học vấn phổ thông
và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát
huy tích cực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng,
trung cấp học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”. [17]
Học sinh THPT ngoài hoạt động học tập các em còn có những nhu cầu,
nguyện vọng, những đòi hỏi trực tiếp đối với một hoạt động mới. Đó là những hoạt
động liên quan đến việc chọn nghề nghiệp và càng cuối cấp thì việc chọn nghề
càng trở cấp thiết đối với các em. Vì các em hiểu rằng cuộc sống tương lai phụ
thuộc vào chỗ mình có biết lựa chọn nghề nghiệp một cách đúng đắn hay không.
Các em thường băn khoăn tự đặt cho mình những câu hỏi như mình sẽ làm gì,
mình chọn nghề gì, nghề nào là phù hợp với mình nhất. Nhưng thực tế tình trạng
học sinh chọn trường, chọn ngành nghề để thi và học của học sinh chỉ theo cảm
tính dẫn tới tình trạng 34% chọn lầm nghành nghề, 42% chỉ phù hợp tương đối, và
có tới 90% sinh viên tốt nghiệp bị thất nghiệp mà nguyên nhân chính là không phù
hợp với nghề [10]. Điều này có thể nói lên rằng, học sinh THPT mặc dù nhận thức
được tầm quan trọng của việc chọn nghề đúng ảnh hưởng đến tương lai của bản
thân nhưng phần lớn vẫn mắc sai lầm khi chọn trường, chọn ngành. Do đó, việc
hướng nghiệp cho học sinh THPT là vô cùng quan trọng để các em tránh được
những nhầm lẫn đáng tiếc khi chọn chọn nghề nghiệp cho tương lai.
Nhận thấy được tầm quan trọng của hướng nghiệp ảnh hưởng nhiều đến
quyết định chọn nghề phù hợp với bản thân học sinh và phân luồng lao động, nên

5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hứng thú, nghề nghiệp, hứng thú nghề
nghiệp, hứng thú nghề nghiệp của học sinh THPT.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng hứng thú nghề nghiệp của học sinh
ở một số trường THPT huyện Bến Lức, tỉnh Long An.


4

- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hứng thú nghề nghiệp cho học sinh ở
một số trường THPT huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tác giả chỉ tập trung nghiên cứu HTNN ở góc độ
hứng thú chọn nghề của học sinh THPT.
- Khách thể: Người nghiên cứu khảo sát 380 học sinh của 2 khối lớp là khối
10 và khối 12; cùng với 54 giáo viên, cán bộ quản lý của 2 trường THPT Nguyễn
Hữu Thọ và trường THPT iSchool Long An trong năm học 2014.
- Thời gian nghiên cứu: 10/01/2014 đến 30/ 9/2014
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận: Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, người
viết dựa trên các phương pháp luận là quan điểm thực tiễn, quan điểm hệ thống cấu
trúc, quan điểm lịch sử - logic:
Quan điểm thực tiễn yêu cầu: Thông qua khảo sát, phân tích kết quả nghiên
cứu về hứng thú nghề nghiệp của học THPT tại Bến Lức. Từ đó, đề xuất một số
biện pháp nhằm nâng cao HTNN của học sinh.
Quan điểm hệ thống - cấu trúc đòi hỏi phải xem xét hứng thú với nghề của
học sinh một cách toàn diện, trên nhiều khía cạnh khác nhau và đặc trong nhiều
mối quan hệ, trong trạng thái vận động phát triển và trong những hoàn cảnh, điều
kiện cụ thể.
Theo quan điển lịch sử – logic, việc tìm hiểu lịch sử hứng thú nghề nghiệp

số biện pháp nâng cao HTNN cho học sinh ở một số trường THPT tại Huyện Bến
Lức, tỉnh Long An.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Người nghiên cứu dùng phần mềm SPSS phiên bản 13.0 để thống kê, xử lý
dữ liệu trong nghiên cứu của mình.


6

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỨNG THÚ NGHỀ NGHIỆP
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những nghiên cứu ở ngoài nước về hứng thú
Ở nước ngoài, các công trình nghiên cứu về hứng thú đã xuất hiện từ rất sớm và
cho đến nay vẫn được nghiên cứu. Trong đó, phải kể đến các nghiên cứu sau:
Herbart (1776 – 1841) là nhà tâm lý học, nhà triết học, nhà giáo dục học, người
Đức. Ông là người sáng lập ra trường phái giáo dục hiện đại ở Đức thế kỷ XIX. Ông
đã đưa ra 4 mức độ của dạy học: tính sáng rõ, tính liên tưởng, tính hệ thống, tính
phong phú, đặc biệt hứng thú là yếu tố quyết định kết quả học tập của người học.
Năm 1927, hội nghị liên bang về tâm sinh lý lao động về tuyển chọn nghề được
tổ chức tại Matxcơva với sự tham gia của nhiều nhà tâm lý học như: E.A. Clomốp,
Segurôva ... Hội thảo đề cập đến nhiều nội dung liên quan đến nghề nghiệp, trong đó
có nói đến HTNN quyết định hiệu quả của hoạt động nghề
Năm 1931, một nhà tâm lý học người Mỹ khác là E. K. Strong đã tìm hiểu về
“Sự biến đổi tâm lý theo lứa tuổi” và ông cho rằng sự phát triển của hứng thú thường
gắn liền với sự phát triển lứa tuổi. Điều này dễ hiểu vì muốn hình thành một hứng thú
nào đó, cần phải có mức độ phát triển tâm lý cũng như một mức độ tri thức và kinh
nghiệm sống nhất định.
John Dewey (1859 – 1952), nhà Tâm lý – Giáo dục học người Mỹ cho rằng
Hứng thú thực sự xuất hiện khi cái tôi đồng nhất hóa ý tưởng với một ý tưởng hoặc

ra một hướng tiếp cận mới trong việc tìm ra những cơ sở khoa học nâng cao hứng thú
học tập của người học trong quá trình dạy học.
Năm 1976, L. X. Xôlôvâytrích - nhà tâm lý học người Nga đã tìm hiểu về mối
quan hệ giữa hứng thú với các thuộc tính tâm lý của nhân cách, đặc biệt là với các
trình độ phát triển của năng lực. Ông viết: “ Hứng thú – đó là chiếc dù nhỏ mở ra trước
tiên, tạo điều kiện bật tung vòm dù chính bao bọc các năng khiếu. Không phải bất kỳ
hoạt động nào cũng tạo ra năng khiếu, năng khiếu nảy sinh ra trước hết là từ hoạt động
này gây ra hứng thú cao độ và bao trùm toàn bộ cá tính” [56, tr.92]. Đối với tài năng
và thiên tài, ông cho rằng: “Hứng thú tới mức mãnh liệt, đắm say thường là dấu hiệu


8

của những năng lực to lớn. Và ngược lại, tài năng thường kèm theo hứng thú mạnh mẽ
đối với hoạt động” [56, tr.114-115]. Như vậy, để hình thành và phát triển năng lực
hoạt động cho cá nhân trong chuyên môn nghề nghiệp, chúng ta không chỉ trang bị
kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo mà còn quan tâm giáo dục hình thành và phát
triển cho cá nhân có hứng thú với nghề nghiệp chuyên môn đó.
J. Pieget (1896 – 1989) nhà tâm lý học người Thụy Sỹ có nhấn mạnh đến vai trò
của hứng thú trong việc lĩnh hội tri thức. Ông nói rằng: “Nhà trường mới yêu cầu hoạt
động nhận thức phải dựa trên cơ sở nhu cầu và hứng thú cá nhân” [38, tr.180]. Ngoài
ra, ông cũng nhấn mạnh “Cũng giống như người lớn, đứa trẻ là một thực thể hoạt
động, mà hoạt động bị chi phối bởi qui luật của hứng thú hoặc của nhu cầu, sẽ không
đem lại hiệu suất đầy đủ nếu người ta không động viên tới những động cơ tự do của
hoạt động ấy” [38, tr.182]
John L. Holland (1959 - 1985), nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ, ông được
mọi người biết đên qua nghiên cứu lý thuyết lựa chọn nghề nghiệp. Ông cho rằng, bất
kì ai cũng thuộc vào 6 nhóm sở thích nghề nghiệp đặc trưng nhứ: thực tế, nghiên cứu,
nghệ thuật, xã hội, quản lý, nghiệp vụ. Ngày nay, những nhà làm công tác giáo dục sử
dụng lý thuyết nghề nghiệp của ông để giúp học sinh tìm hiểu xem mình thích nghề

học tập và các hoạt động khác.
Một tác giả không thể không kể đến đó là Nguyễn Khắc Viện, theo ông hứng
thú là “biểu hiện của nhu cầu, làm cho chủ thể tìm cách thỏa mãn, tạo ra khoái cảm,
thích thú. Nói đến hứng thú tức là nói đến mục tiêu, huy động sinh lực (thể chất và tâm
lý) để cố gắng thực hiện. Có những hứng thú đòi hỏi thỏa mãn trước mắt, như muốn
ăn một món gì; có những hứng thú phải gián tiếp thông quan hoạt động khác, thường
không thú vị mới thỏa mãn, như học toán để cuối năm thi đỗ. Hứng thú gây chú ý và
làm cho chủ thể cố gắng hành động” [53, tr.122]. Như vậy, với quan điểm này ông
xem hứng thú gắn với nhu cầu.
- Nghiên cứu hứng thú học các môn học
Năm 1969, Lê Ngọc Lan tìm hiểu “Tìm hiểu hứng thú học tập môn toán của học
sinh cấp II”. Trong đề tài, tác giả nghiên cứu hứng thú học tập môn toán của học sinh,


10

trên cở sở đó tác động một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú cho các em thông
qua các hoạt động ngoại khóa.
Năm 1970, Phan Huy Thụ tìm hiểu “Hiện trạng hứng thú học tập các môn học
của học sinh cấp II”. Trong đề tài này, ông tìm hiểu hứng thú học tập đối với học sinh
cấp II và phân tích những nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học tập của các em.
Từ đó, đề xuất các phương pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập cho học sinh.
Năm 1977, Phan Ngọc Huỳnh tìm hiểu “Hứng thú với môn văn của học sinh
cấp II”. Trong đề tài, tác giả tìm hiểu về thực trạng hứng thú học môn văn của học
sinh, cụ thể hơn tác giả tìm hiểu nguyên nhân nào tạo cho học sinh hứng thú và không
hứng thú đối với môn văn. Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp nâng cao hứng thú học
tập môn văn cho học sinh.
Năm 1980, Nguyễn Thanh Bình nghiên cứu đề tài “Bước đầu tìm hiểu nguyên
nhân gây hứng thú học tập môn Tâm lý học của sinh viên khoa Tự nhiên, trường Đại
học Sư Phạm Hà Nội I”. Tác giả, đi sâu vào phân tích nguyên nhân chủ quan và khách

- Nghiên cứu hứng thú nghề nghiệp, hứng thú học nghề phổ thông
Năm 1973, Phạm Tất Dong nghiên cứu “Một số đặc điểm HTNN của học sinh
lớn và nhiệm vụ hướng nghiệp ”. Kết quả nghiên cứu khẳng định sự khác biệt về
HTNN giữa nam và nữ, HTNN không thống nhất với xu hướng phát triển nghề nghiệp
của xã hội và công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông không được thực hiện
nên các em học sinh chịu nhiều thiệt thòi.
Năm 1981, Phùng Minh Nguyệt nguyên cứu “Bước đầu tìm hiểu thực trạng
húng thú đối với nghề sư phạm của giáo sinh Trường Cao đẳng Sư phạm Nghĩa Bình”.
Theo tác giả, hứng thú chỉ có thể được phát triển trên cơ sở con người bắt tay vào hoạt
động. Vì vậy, muốn nâng cao HTNN cho giáo sinh phải tổ chức các đợt thực tập nhằm
thâm nhập vào thực tiển, thực hành công việc của mình. [32]
Năm 1986, Hoàng Kim Thu nghiên cứu “Hình thành HTNN cho học sinh qua
giảng dạy môn vật lý”. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm nói lên rằng hình thức học
ngoại khóa có tác động lớn đến sự hình thành HTNN lấy kiến thức vật lý làm cơ sở
cho học sinh.[52]


12

Năm 2008, Nguyễn Hoàng Sơn nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp phát triển
hứng thú học nghề phổ thông cho học sinh tại trung tâm KTTH - HN”. Kết quả nghiên
cứu thực trạng cho thấy rằng đa số học sinh không hứng thú học nghề phổ thông. Do
đó, việc tổ chức các biện pháp nâng cao hứng thú cho các em là việc hết sức cần thiết.
Tác giả, đề xuất 2 biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học nghề phổ thông điện dân
dụng cho học sinh là: tổ chức hoạt động ngoại khóa và thiết kế các bài dạy theo quan
điểm tích hợp. [42]
Năm 2013, Vương Huy Thọ nghiên cứu “Dạy học nghề phổ thông tại trung tâm
kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp theo hướng phát triển hứng thú học tập cho học
sinh”. Kết quả nghiên cứu cho thấy học sinh không có hứng thú học nghề phổ thông,
do một số nguyên nhân như: nội dung học tập không có ý nghĩa với cuộc sống của các

sức mạnh thể chất và sức mạnh tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất và
những giá trị tinh thần như là phương tiện cần cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Như vậy, ta có thể nói rằng khái niệm chuyên môn hẹp hơn so với khái niệm
nghề nghiệp, nhưng nó có đủ các qui định về mặc hình thức là một dạng lao động, nó
phân biệt sự khác về nhau từng chuyên môn trong nghề.
- Việc làm: theo đại từ điển Tiếng Việt là “công việc, nghề nghiệp thường
ngày để sinh sống”. Còn từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên - Nxb Khoa
học xã hội - 1994) lại định nghĩa “Việc làm: công việc được giao cho làm và trả
công”.
Như vậy hai khái niệm nghề nghiệp và việc làm là rất gần nhau, có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau nhưng không đồng nhất. Nghề nghiệp được coi là việc làm
nhưng không phải việc làm nào cũng là nghề nghiệp. Những việc làm nhất thời,
không ổn định do con người bỏ sức lao động giản đơn và được trả công để sinh
sống thì không phải là nghề nghiệp. [6], [15]
Như vậy, nghề nghiệp là một phạm trù xã hội lịch sử, được xuất hiện dưới ảnh
hưởng của sự phân công lao động và sự phát triển khoa học kỹ thuật. Hiện nay, nghề
nghiệp trên thới giới phát triển rất nhanh chóng. Người ta đã thống kê ở Mỹ và các
nước công nghiệp phát triển có tới 4 vạn nghề. Nước ta cũng đã xác định có tới gần 4



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status