BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Hà Thị Thuần
PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH NGHỆ AN
GIAI ĐOẠN 2000 – 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Hà Thị Thuần
PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH NGHỆ AN
GIAI ĐOẠN 2000 – 2010
Chuyên ngành : Địa lí học (Trừ ĐLTN)
Mã số
: 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. LÊ THÔNG
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục bảng số liệu
Danh mục biểu đồ
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
.................................................................................................................................. 10
1.1. Cơ sở lý luận .................................................................................................. 10
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về du lịch ........................................................ 10
1.1.2. Chức năng của du lịch ............................................................................. 17
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng sự phát triển du lịch........................................... 19
1.1.4. Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển du lịch .................................................... 26
1.2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................... 31
1.2.1. Thực tiễn hoạt động du lịch Việt Nam .................................................... 31
1.2.2. Hoạt động du lịch vùng Bắc Trung Bộ ................................................... 36
Chương 2: TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH NGHỆ AN............ 42
2.1. Vị trí tỉnh Nghệ An trong chiến lược phát triển du lịch ................................ 42
2.2. Tài nguyên du lịch ......................................................................................... 44
2.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên .................................................................... 44
2.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn ................................................................... 55
2.3. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch........................................................................ 70
2.3.1. Hệ thống giao thông vận tải .................................................................... 70
2.3.2. Hệ thống cung cấp điện ........................................................................... 72
2.3.3. Hệ thống bưu chính, viễn thông .............................................................. 72
2.3.4. Hệ thống cấp, thoát nước ........................................................................ 73
2.4. Các điều kiện kinh tế - xã hội khác ................................................................ 73
2.5. Đánh giá chung .............................................................................................. 74
2.5.1. Thời cơ và thuận lợi ................................................................................ 74
2.5.2. Thách thức và hạn chế............................................................................. 76
4.2.4. Thị trường và xúc tiến quảng bá du lịch ............................................... 125
4.2.5. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ................................................... 126
4.2.6. Cơ chế, chính sách và kiện toàn hệ thống quản lý Nhà nước ............... 127
4.2.7. Hợp tác khu vực và quốc tế ................................................................... 128
4.2.8. Phát triển du lịch bền vững ................................................................... 130
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 132
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................... 134
PHỤ LỤC .................................................................................................................. 1
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1.1.
Số lao động du lịch trong ngành du lịch Việt Nam ................................. 35
Bảng 1.2:
Khách du lịch đến Bắc Trung Bộ giai đoạn 2000 - 2010 ....................... 39
Bảng 1.3.
Số lao động trong ngành du lịch của vùng Bắc Trung Bộ giai đoạn
2000 – 2010 .................................................................................................. 40
Bảng 2.1:
Xếp hạng ưu tiên theo tiêu chí trong hệ thống bảo tồn ........................... 54
Bảng 2.2.
Biểu đồ 1.1: Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010 ................ 33
Biểu đồ 1.2: Khách du lịch nội địa giai đoạn 2000 – 2010.......................................... 33
Biểu đồ 1.3: Doanh thu du lịch vùng Bắc Trung Bộ giai đoạn 2000 – 2010 ............ 39
Biểu đồ 3.1. Khách du lịch đến Nghệ An giai đoạn 2000 – 2010 ............................ 82
Biểu đồ 3.2: Doanh thu ngành du lịch tỉnh Nghệ An giai đoạn 2000 – 2010 .......... 88
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.3: Sơ đồ phân loại tài nguyên du lịch ........................................................... 20
Hình 2.1. Lèn Hai Vai (thuộc huyện Diễn Châu) ..................................................... 46
Hình 2.2: Sao La – động vật quý hiếm ở Nghệ An .................................................. 51
Hình 2.3. Đua thuyền trong lễ hội du lịch Cửa Lò ................................................... 62
Hình 2.4: Biểu diễn nghệ thuật tại Lễ hội Làng Sen ................................................ 63
Hình 2.5: Sản phẩm từ dệt thêu thổ cẩm truyền thống ở Quỳ Châu ........................ 66
Hình 2.6: Cá Mát sông Giăng – Cam Xã Đoài ......................................................... 69
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay trên thế giới, du lịch đang phát triển nhanh chóng và trở thành hiện
tượng kinh tế - xã hội mang tính toàn cầu. Du lịch không chỉ là hoạt động kinh tế,
mà còn là hoạt động văn hóa, xã hội. Với chức năng kinh tế, du lịch đã và đang trở
thành một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi
quốc gia, đóng góp một phần đáng kể trong GDP của các nước. Với chức năng văn
hóa – xã hội, du lịch góp phần thiết lập mối quan hệ giao lưu, thắt chặt tình hữu
nghị thân ái; gìn giữ và tôn tạo bản sắc văn hóa dân tộc. Đặc biệt, do đặc tính hoạt
động của mình, du lịch còn góp phần không nhỏ trong việc đẩy mạnh kinh tế vùng
chậm phát triển, giúp xóa đói giảm nghèo ở những vùng sâu, vùng xa. Vì những lẽ
đó, du lịch đang trở thành mục tiêu phát triển chung hướng tới ở các quốc gia.
2000 - 2010” để nghiên cứu, những mong đánh thức được tiềm năng, và tìm ra
hướng đi mới cho ngành du lịch ở Nghệ An trong xu thế hội nhập giữa các vùng,
các khu vực và quốc tế.
2. Mục đích và nhiệm vụ
2.1. Mục đích của đề tài
Trên cơ sở vận dụng lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch, đề tài tập trung
đánh giá tiềm năng và phân tích thực trạng du lịch tỉnh Nghệ An giai đoạn 2000 2010. Từ đó, đề xuất các giải pháp phát triển tới năm 2020 nhằm khai thác hiệu quả
tiềm năng du lịch tỉnh Nghệ An, phát triển du lịch có hiệu quả và bền vững.
2.2. Nhiệm vụ của đề tài
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn tập trung giải quyết các
nhiệm vụ sau:
- Tổng quan cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về phát triển du lịch ở Việt Nam và
các tỉnh Bắc Bộ giai đoạn 2000 – 2010 để vận dụng vào việc nghiên cứu tại địa bàn
tỉnh Nghệ An.
- Kiểm kê, đánh giá tiềm năng du lịch ở địa phương và phân tích thực trạng phát
triển du lịch tỉnh Nghệ An giai đoạn 2000 - 2010. Từ đó, làm sáng tỏ những lợi thế
so sánh và hạn chế đối với việc tổ chức và phát triển du lịch của tỉnh.
3
- Đề xuất giải pháp phát triển du lịch tới năm 2020 nhằm khai thác hiệu quả
tiềm năng du lịch tỉnh Nghệ An.
3. Giới hạn nghiên cứu
- Về nội dung
Đề tài tập trung đánh giá tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, các điều kiện để
phát triển du lịch và thực trạng hoạt động du lịch theo hai khía cạnh ngành và lãnh
thổ (các tuyến, điểm, cụm, khu du lịch, trung tâm du lịch với các sản phẩm đặc
trưng).
- Về phạm vi lãnh thổ
nhiên phục vụ mục đích du lịch. Bên cạnh đó, một khía cạnh quan trọng trong
nghiên cứu du lịch đã được quan tâm là vấn đề tổ chức lãnh thổ du lịch, các nhà địa
lí du lịch trên thế giới đã có nhiều công trình nổi tiếng về vấn đề này được xem là
kim chỉ nam – là cơ sở lý luận có tính kế thừa cho các nghiên cứu về sau. I.I.
Pirojnik (1985) – nhà địa lí du lịch người Bêlarút đã phân tích hệ thống lãnh thổ du
lịch các vùng du lịch là đối tượng qui hoạch và quản lí. M. Buchovarop (Bungari),
N.X. Mironhenke (Anh)… đã xác định đối tượng nghiên cứu của địa lí du lịch là hệ
thống lãnh thổ du lịch các cấp hoặc tổng hợp thể lãnh thổ du lịch và phân tích cơ
cấu tổng hợp các yếu tố trên địa bàn để phát triển du lịch.
Trong những năm gần đây, khi những lợi ích của du lịch trở nên rõ ràng hơn
cũng như tác động của nó với hàng loạt vấn đề nảy sinh mang tính toàn cầu thì việc
nghiên cứu du lịch gắn với sự phát triển vùng lại càng trở nên cần thiết. Ở Pháp,
Jean – Lozoto (1990) đã nghiên cứu và phân tích các tụ điểm du lịch. Các nhà địa lí
Anh, Mĩ gắn công việc nghiên cứu lãnh thổ du lịch với những dự án du lịch trên
một miền hay một vùng cụ thể. Nhìn chung, nhiều nhà địa lí đã xác định đối tượng
nghiên cứu của địa lí du lịch là các hệ thống lãnh thổ hoặc tổng hợp lãnh thổ du
lịch, tức là xác định các hệ thống địa bàn phát triển du lịch trên lãnh thổ và phân
tích cơ cấu tổng hợp các yếu tố trên địa bàn để phát triển du lịch.
4.2. Ở Việt Nam
Lịch sử ngành du lịch Việt Nam được đánh dấu bắt đầu từ năm 1960, từ đó đến
nay các công trình nghiên cứu địa lí du lịch nhìn chung vẫn chưa nhiều. Phần lớn
tập trung các vấn đề về tổ chức lãnh thổ không gian du lịch, cơ sở lý luận và
5
phương pháp nghiên cứu du lịch với một số tác giả tiêu biểu như: Vũ Tuấn Cảnh,
Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Đặng Duy Lợi, Phạm Trung Lương…
Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị trong lĩnh vực này đã được thực hiện như:
Đề tài “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” do Vũ Tuấn Cảnh chủ trì nghiên cứu
5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1. Quan điểm nghiên cứu
5.1.1. Quan điểm hệ thống
Đây là quan điểm được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu du lịch. Theo quan
điểm này, mỗi một đối tượng nghiên cứu được coi là một hệ thống có nhiều yếu tố
cấu thành, và có mối quan hệ mật thiết với nhau. Khi nghiên cứu một đối tượng
phải đặt nó trong mối tương quan với các đối tượng khác, với các yếu tố trong hệ
thống cao hơn cũng như với cấp phân vị thấp hơn. Với ý nghĩa đó, du lịch tỉnh
Nghệ An xét về mặt lãnh thổ được xem là một phân hệ trong hệ thống lãnh thổ du
lịch của vùng du lịch Bắc Bộ; xét về khía cạnh ngành, là bộ phận trong hệ thống
kinh tế - xã hội của toàn tỉnh. Đồng thời, nó bao gồm các cấp phân vị thấp hơn là
các điểm, tuyến, cụm, vùng du lịch. Chỉ cần một thay đổi nhỏ của phân hệ sẽ tác
động đến hoạt động, phát triển chung của toàn hệ thống.
5.1.2. Quan điểm tổng hợp
Xuất phát từ chỗ coi hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống xã hội được tạo
thành bởi các thành tố: tự nhiên, văn hóa, lịch sử, con người có mối quan hệ qua lại
gắn bó với nhau, do đó việc vận dụng quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng. Trên quan điểm đó, khi đánh giá về tài nguyên du lịch
phải được xem xét một cách tổng hợp kể cả tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân
văn; cũng vậy trong quá trình khái quát về thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Nghệ
An cũng phải phân tích các khía cạnh: lượt khách, doanh thu, lao động… Từ quan
điểm tổng hợp để có thể nhìn nhận, đánh giá các đối tượng du lịch một cách đồng
bộ, hình thành nên các điểm, tuyến , cụm, vùng du lịch hiệu quả, đạt được những
giá trị đồng bộ về các mặt kinh tế - xã hội và môi trường.
5.1.3. Quan điểm lãnh thổ
Quan điểm lãnh thổ cho rằng các đối tượng nghiên cứu được phân bố trên phạm
vi không gian lãnh thổ nhất định và có đặc điểm riêng. Xem xét hoạt động du lịch
7
8
liệu thống kê từ các cơ quan ban ngành; một số luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu
của các tác giả đi trước; và một số trang báo điện tử... Kết quả của quá trình thu
thập và xử lí tài liệu sẽ ảnh hưởng đến kết quả của quá trình nghiên cứu, tính chính
xác và tính khoa học của đề tài.
5.2.2. Phương pháp thực địa
Sử dụng phương pháp này để có được cái nhìn trực quan, xác thực và toàn
diện về vấn đề; tránh được những kết luận chủ quan, thiếu cơ sở thực tiễn và có cơ
hội để so sánh, kiểm chứng độ chính xác của những tư liệu thu thập trong phòng.
Quá trình thực hiện đề tài đòi hỏi phải tiến hành nhiều đợt thực địa đến các tuyến,
điểm du lịch. Trong đó, lựa chọn một số điểm du lịch gần địa bàn thành phố, một số
điểm ở các huyện vùng xa; một số điểm du lịch đã được khai thác và một số điểm
tiềm năng. Đồng thời, trực tiếp gặp gỡ thu thập thông tin, kiến thức không có trên
sách vở từ người dân bản địa, các cơ quan ban ngành.
5.2.3. Phương pháp bản đồ - GIS
Với đặc thù là môn khoa học nghiên cứu khía cạnh lãnh thổ của các đối tượng
địa lí du lịch, phương pháp bản đồ cho ta thấy sự phân bố không gian của đối tượng.
Có thể nói, bản đồ là điểm khởi đầu và kết thúc của hoạt động nghiên cứu; cho phép
khai thác thông tin trên hệ thống bản đồ đã được xây dựng và tiến hành thể hiện các
kết quả nghiên cứu lên bản đồ. Theo mục tiêu nghiên cứu, đề tài sẽ xây dựng hệ
thống các bản đồ tài nguyên, bản đồ thực trạng và bản đồ định hướng du lịch tỉnh
Nghệ An. Và để có được kết quả nhanh và chính xác, với sự hỗ trợ đắc lực của kỹ
thuật máy tính, đề tài đã sử dụng GIS để xây dựng hệ thống bản đồ.
6. Đóng góp chủ yếu của đề tài
- Tổng quan và hệ thống hóa vấn đề lý luận và thực tiễn về địa lí du lịch; trên cơ
sở đó vận dụng vào nghiên cứu cụ thể trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
-
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về du lịch
a. Khái niệm du lịch
Du lịch đã và đang ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống kinh tế - xã hội của mỗi
quốc gia; là bộ phận cấu thành đời sống vật chất – tinh thần của con người hiện đại.
Hội đồng lữ hành và Du lịch quốc tế (World Travel and Tourism Council - WTTC)
đã công bố du lịch là ngành kinh tế lớn nhất thế giới. Đối với nhiều quốc gia du lịch
nhanh chóng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và là nguồn thu ngoại tệ quan trọng.
Bởi những lẽ đó, du lịch là một đề tài hấp dẫn và đã trở thành vấn đề mang tính chất
toàn cầu. Tuy nhiên, dù hoạt động du lịch đã có nguồn gốc hình thành từ rất lâu và
phát triển với tốc độ rất nhanh như vậy, song do tiếp cận dưới nhiều góc độ khác
nhau, với sự khác biệt về ngôn ngữ và bản chất phức tạp của hoạt động này; cho đến
nay nhân thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất. Đúng như Giáo sư, Tiến sĩ
Berneker – một chuyên gia hàng đầu về du lịch trên thế giới đã nhận định : “ Đối
với du lịch có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”.
Thuật ngữ “du lịch” trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp
với ý nghĩa là đi một vòng. Thuật ngữ này được La Tinh hóa thành tornus và sau đó
thành tourisme (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh) – xuất hiện khoảng năm 1800,
mypuzm (tiếng Nga). Trong tiếng Việt, thuật ngữ tourism được dịch thông qua tiếng
Hán: Du có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải. Tuy nhiên, người Trung
Quốc gọi tourism là du lãm với ý nghĩa đi chơi để nâng cao nhận thức [27].
Về khái niệm, có thể thấy sự biến đổi nhận thức thông qua một số khái niệm
du lịch tiêu biểu sau đây:
Năm 1930, Glusman (Thụy Sĩ) định nghĩa: Du lịch là sự chinh phục không
gian của những người hướng đến những điểm nhất định nhưng không phải là nơi ở
thường xuyên của họ. Cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư
11
dân mà phải là tất cả những gì có liên quan đế sự di chuyển đó. Năm 1941,
12
Như vậy, có thể thấy sự biến đổi trong nhận thức về nội dung bản chất của
thuật ngữ du lịch. Tựu chung lại, du lịch là một khái niệm bao hàm nội dung kép.
Một mặt mang ý nghĩa thông thường là hiện tượng xã hội chỉ việc đi lại của con
người với mục đích nghỉ ngơi, giải trí… Mặt khác, du lịch được nhìn nhận như là
hoạt động gắn chặt với kết quả kinh tế - sản xuất, tiêu thụ do chính nó tạo ra.
b. Khách du lịch
Khái niệm “Khách du lịch” hay “Du khách”, xuất hiện lần đầu tiên tại Pháp
vào cuối thế kỉ XVIII. Tới nay đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về khách du
lịch. Theo tổ chức Du lịch thế giới, khách du lịch là những người có các đặc trưng:
-
Là người đi khỏi nơi cư trú của mình
-
Không theo đuổi mục đích kinh tế
-
Đi khỏi nơi cư trú từ 24 giờ trở lên
-
Khoảng cách tối thiểu từ nhà đến điểm đến tùy theo quan niệm của từng
nước [28].
Điểm chung nhất đối với các nước trong cách hiểu khái niệm về khách du lịch
là: Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến
thù lao”[5]. Tuy nhiên, khái niệm khách du lịch nội địa được xác định không giống
nhau ở các nước khác nhau về khoảng cách chuyến đi và thời gian lưu trú.
c. Tài nguyên du lịch
* Khái niệm tài nguyên du lịch
Theo Pirojnik (Cơ sở địa lí du lịch và dịch vụ tham quan), du lịch là một
ngành định hướng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài
nguyên nói chung, khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch.
Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2005, khoản 4, điều 4, chương I: “Tài
nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa,
công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử
dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch,
tuyến du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch”.
Theo Nguyễn Minh Tuệ: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa
lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực, trí
tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ. Những tài nguyên này
14
được sử dụng trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch”[19].
* Đặc điểm tài nguyên du lịch
- Tính phong phú và đa dạng: Đặc điểm này là cơ sở để tạo nên sự phong phú
của sản phẩm du lịch, thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách du lịch.
- Sự kết hợp giữa giá trị hữu hình và vô hình: Tài nguyên du lịch không chỉ có
giá trị vật chất là phương tiện hữu hình, hình thành nên các sản phẩm du lịch, mà
còn chứa đựng những giá trị vô hình. Giá trị này được thể hiện qua sự cảm nhận,
cảm xúc tâm lý và sự thỏa mãn nhu cầu của du khách, đồng thời còn được thể hiện
qua kênh thông tin mà khách du lịch nhận được về sản phẩm.
- Tính dễ khai thác: hầu hết các tài nguyên du lịch vốn đã có sẵn trong tự
nhiên hoặc do con người tạo nên. Do đó, chỉ cần đầu tư không lớn đã có thể tôn tạo,
thành hai nhóm:
Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm: địa hình, khí hậu; nguồn nước; sinh vật.
Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm: các di tích văn hóa lịch sử; các lễ hội;
các đối tượng gắn với dân tộc học; các đối tượng văn hóa thể thao và hoạt động
nhận thức khác [19].
d. Sản phẩm du lịch
* Khái niệm sản phẩm du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, hợp thành bởi nhiều bộ phận kinh
doanh nhằm đáp ứng nhu cầu phong phú, đa dạng của du khách trong chuyến du
lịch. Do đó, sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách; được
tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử
dụng các nguồn lực là: cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng
hay một quốc gia nào đó [29].
Sản phẩm du lịch = Dịch vụ du lịch + Tài nguyên du lịch
Trong đó, tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân
văn. Còn dịch vụ du lịch, xét dưới góc độ là quá trình tiêu dùng của khách du lịch,
có thể được tổng hợp theo các nhóm cơ bản sau:
- Dịch vụ vận chuyển: Du lịch gắn với những chuyến đi và sự di chuyển nên
không thể thiếu loại dịch vụ này. Nó bao gồm việc đưa khách đến điểm du lịch và di
chuyển trong phạm vi điểm đến.
16
- Dịch vụ lưu trú, ăn uống: cơ sở thuê buồng, giường phục vụ hoạt động nghỉ
ở lại và ăn uống – loại nhu cầu không thể thiếu của du khách. Đây là hoạt động kinh
doanh đáng kể trong du lịch.
- Dịch vụ tham quan, giải trí: là một bộ phận quan trọng tạo nên sự hấp dẫn,
thu hút và lôi kéo khách du lịch. Đảm bảo cho khách du lịch sử dụng tối ưu thời
gian rỗi và tăng thu nhập cho nhà kinh doanh du lịch.
- Sản phẩm du lịch không có tính đồng nhất: các nhân viên không thể tạo ra
những sản phẩm như nhau trong những thời gian làm việc khác nhau. Khách du lịch
khác nhau trong những thời gian, bối cảnh khác nhau cũng có những cảm nhận khác
nhau về sản phẩm du lịch [19].
e. Các loại hình du lịch
Có nhiều cách phân loại các loại hình du lịch tùy theo tiêu chí khác nhau, các
chuyên gia du lịch Việt Nam thường phân chia theo các tiêu chí cơ bản sau [19]:
- Theo nhu cầu của khách: du lịch chữa bệnh, nghỉ ngơi, thể thao, văn hóa,
công vụ, tôn giáo, thăm hỏi…
- Theo phạm vi lãnh thổ: du lịch nội địa, du lịch quốc tế.
- Theo vị trí địa lí các cơ sở du lịch: du lịch nghỉ biển, nghỉ núi.
- Theo việc sử dụng các phương tiện giao thông: du lịch xe đạp, máy bay, ô
tô, tàu thủy, tàu hỏa.
- Theo thời gian của cuộc hành trình: du lịch ngắn ngày, dài ngày.
- Theo lứa tuổi: du lịch thanh niên, thiếu niên, gia đình.
- Theo hình thức tổ chức: du lịch có tổ chức, cá nhân.
1.1.2. Chức năng của du lịch
a. Chức năng xã hội
Chức năng xã hội của du lịch thể hiện trước hết ở chỗ, du lịch tạo ra nhiều công
ăn việc làm và là công cụ giảm nghèo khá hiệu quả. Du lịch là ngành thu hút lao
động rất lớn. Theo thống kê của UNWTO, lao động trực tiếp và gián tiếp phục vụ
du lịch hiện chiếm hơn 10,7% tổng lao động trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, hàng
năm, ngành du lịch tạo ra them 15.000 – 20.000 chỗ làm việc trực tiếp trong các
khách sạn, nhà hàng và các cơ sở dịch vụ du lịch. Với sự phát triển của du lịch, dân
cư có nhiều cơ hội tìm việc làm ngay tại địa bàn mình sinh sống với thu nhập cao,
và cũng có nhiều cơ hội được đào tạo nghề, được hưởng thụ hạ tầng kỹ thuật tốt.
18