Chuyên đề thực tập
Lời mở đầu
Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng với nền kinh tế khu vực và thế
giới. Việc nước ta trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO) cho thấy quyết tâm hội nhập ở mức cao nhất với nền kinh tế thế giới. Quá
trình hội nhập này đã, đang và sẽ mở ra cho nước ta nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt
ra nhiều thách thức lớn phải vượt qua.
Việt Nam là một nước đang phát triển, nông nghiệp mới bắt đầu có sự chuyển
dịch từ sản xuất tự cấp tự túc lên sản xuất hàng hóa, nông nghiệp đóng vai trò rất
quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, cũng như góp phần đảm bảo bảo an ninh
lương thực quốc gia. Giá trị sản phẩm nông nghiệp là một bộ phận cấu thành quan
trọng của tổng giá trị sản phẩm trong nước (GDP), trong đó gạo vẫn đóng vai trò chủ
đạo trong nghành nông nghiệp của nước ta. Trong tình hình lương thực thế giới đang
có nhiều biến động như hiện nay ta càng thấy được tầm quan trọng của cây lúa trong
đời sống như thế nào.
Sở Kế hoạch và Đầu tư Nghệ An là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân
dân tỉnh Nghệ An .Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kế hoạch và đầu tư trên
địa bàn tỉnh bao gồm các lĩnh vực: Tham mưu tổng hợp các đề án về quy hoạch, kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh Nghệ An.
Qua quá trình thực tập ở phòng kinh tế nông nghiệp và PTNT – Sở Kế hoạch
và Đầu tư Nghệ An, em đã tìm hiểu về chức năng nhiệm vụ của phòng và tình hình
phát triển nông nghiệp của Tỉnh em đã thu được về kiến thức nông nghiệp đặc biệt là
về tình hình phát triển lúa của tỉnh Nghệ An. Với những điều kiện ở trên em đã chọn
đề tài “Phân tích thống kê năng suất, diện tích, sản lượng Lúa tỉnh Nghệ An giai
đoạn 2000-2006 và dự đoán đến năm 2008”.
Đề tài gồm 3 chương chính :
Chương I: Tổng quan chung về sản xuất nông nghiệp.
Chuyên đề thực tập
Chương II: Hệ thống chỉ tiêu thống và một số phương pháp phân tích
thống kê năng suất,diện tích,sản lượng Lúa ở Tỉnh Nghệ An.
Chương III. Phân tích thống kê năng suất,diện tích,sản lượng Lúa ở
người nên đã thất bại. Cách sử lý đúng quy luật và mang lại hiệu quả cho sản xuất
nông ngjhiệp là phải xuất phát từ mặt bản chất của sinh vật và môi trường sống của
nó để chọn giải pháp kỹ thuật và công nghệ thích hợp. Vì thế công nghệ sinh học
ngay trong thời đại khoa học - công nghệ ngày nay vẫn giữ vai trò trung tâm, là cái
cốt lõi chi phối và điều khiển các quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông
nghiệp.
Chuyên đề thực tập
Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên một địa bàn rộng lớn và mang tính
khu vực. Sản xuất nông nghiệp diễn ra trên địa bàn rộng lớn vì ruộng đất – tư liệu sản
xuất chủ yếu không thể thay thế được trải rộng trên phần lớn lãnh thổ quốc gia nói
riêng và trên hành tinh của chúng ta nói chung. Sản xuất nông nghiệp mang tính khu
vực vì sinh vật - đối tượng của sản xuất được phân bố một cách rất tự nhiên theo đặc
tính của sinh vật và môi trường của nó - đất, nước, thời tiết, khí hậu - vốn không
giống nhau giữa các vùng lãnh thổ. Vì thế, tài nguyên, môi trường và đa dạng sinh
học luôn là cơ sở xuất phát cho mỗi tiến trình tổ chức sản xuất nông nghiệp trên cùng
lãnh thổ nhất định.
Yêu cầu của việc sử dụng sức lao động và tư liệu sản xuất trong nông nghiệp
có tính thời vụ vì nhiều chu kỳ sản xuất không thể bố trí liên tục và ngay trong một
chu kỳ sản xuất nhất định thì thời gian lao động cũng không trùng khớp với thời gian
sản xuất. Vì thế chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng hợp, đa dạng hoá trong
kỹ năng lao động và đa dạng hoá trong trang bị cộng cụ lao động là những đặc trưng
quan trọng của nông nghiệp.
Nông nghiệp gắn với nông thôn và nông dân. Nông thôn không chỉ là địa bàn
của sản xuất nông nghiệp, trên đó hàm chứa các yếu tố tự nhiên và sự kết hợp các
yếu tố đó của sản xuất, mà còn là môi trường cảnh quan, văn hoá đa dạng, đậm đà
bản sắc dân tộc đi liền với yếu tố nguồn nhân lực và đời sống của nông dân. Nông
dân sống và làm việc trong từng gia đình - tế bào của xã hội, của cộng đồng nông
thôn. Gia đình nông dân là nơi tập hợp những người có quan hệ gia tộc – hôn nhân và
quyết thống, không chỉ là nơi sinh sống, là đơn vị tiêu dùng như nhiều gia đình ở đô
thị, mà còn là đơn vị sản xuất – đơn vị kinh tế hộ nông dân. Nông nghiệp gắn với
Xã hội nông thôn vốn rất rộng lớn và là một bộ phận hợp thành rất quan trọng
của thị trường hàng công nghệ và dịch vụ.
2.2. Nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp, đang phát triển theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, vì thế nông nghiệp càng có vai trò quan trọng.Nông nghiệp
cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp và hàng hoá xuất
Chuyên đề thực tập
khẩu. Giá trị sản phẩm nông nghiệp là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổng giá
trị sản phẩm trong nước (GDP) . Theo số liệu thống kê năm 1999 bộ phận cấu thành
này là 25,4%.Giá trị nông sản xuất khẩu chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất
khẩu với 9 trong 15 mặt hàng xuất chủ yếu của toàn bộ nền kinh tế (gạo, cà phê, cao
su, trà, đậu phộng, hạt điều, rau quả và hải sản).
Nông nghiệp tạo việc làm và thu nhập cho một bộ phận lớn lao động và dân
cư cả nước.Trong đó chủ yếu và trực tiếp là lao động nông thôn với một quy mô dân
số còn rất lớn -khoảng trên 58 triệu người, bằng 76,5% so với cả nước (tính tại thời
điểm 1/14/1999).Giải quyết tình trạng thiếu việc làm và nghèo đói ở nông thôn hiện
nay rõ ràng là một trọng trách của việc phát triển nông nghiệp.
Nông nghiệp là nguồn cung cấp sức lao động cho nhiều mặt hoạt động kinh tế
- xã hội và an ninh quốc phòng.
Nông nghiệp nông thôn là thị trường rộng lớn của hàng hoá công nghiệp, dịch
vụ và hàng nông sản của bản thân nông nghiệp. Nông nghiệp phát triển vững mạnh sẽ
thúc đẩy thương mại phát triển, góp phần kích cầu để ngăn chặn tình trạng giảm phát
của nền kinh tế.
Nông nghiệp gắn với việc giải quyết các vấn đề xã hội, với bảo vệ và tôn tạo
cảnh quan, môi trường tự nhiên - cái không thể thiếu trong việc xây dựng một nông
thôn văn minh, một đội ngũ nông dân có trí thức. Với vai trò quan trọng như vậy, nên
trong đường lối cách mạng Việt Nam, Đảng và Bác Hồ luôn khẳng định tầm quan
trọng của vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn. Nông nghiệp đã đi đầu trong đổi
mới và đã góp phần to lớn vào sự thành công của đổi mới. Nông nghiệp đã và sẽ là
một trong những lĩnh vực quan trọng hàng đầu của chiến lược
ngành nghề, dịch vụ, giải quyết việc làm cho khoảng 1 triệu lao động, góp phần giảm
tỷ lệ hộ nghèo xuống 17% (theo chuẩn mới).
4. Định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2001-2010.
- Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theo
hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và
điều kiện sinh thái của từng vùng; chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu lao động,
tạo việc làm thu hút nhiều lao động ở nông thôn. Đưa nhanh tiến bộ khoa học và công
nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đạt mức tiên tiến trong khu vực về trình độ công
nghệ và về thu nhập trên một đơn vị diện tích; tăng năng suất lao động, nâng cao chất
lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm. Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản trong và
ngoài nước, tăng đáng kể thị phần của các nông sản chủ lực trên thị trường thế giới.
Chú trọng điện khí hóa, cơ giới hóa ở nông thôn. Phát triển mạnh công nghiệp
chế biến gắn với vùng nguyên liệu, cơ khí phục vụ nông nghiệp, công nghiệp gia
công và dịch vụ; liên kết nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ trên từng địa bàn và
trong cả nước.
Tăng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn. Quy hoạch
hợp lý và nâng cao hiệu quả việc sử dụng quỹ đất, nguồn nước, vốn rừng gắn với bảo
vệ môi trường. Quy hoạch các khu dân cư, phát triển các thị trấn, thị tứ, các điểm văn
hóa ở làng xã; nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần, xây dựng cuộc sống
dân chủ, công bằng, văn minh ở nông thôn.
- Xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp.
Điều chỉnh quy hoạch sản xuất lương thực phù hợp với nhu cầu và khả năng
tiêu thụ, tăng năng suất đi đôi với nâng cấp chất lượng. Bảo đảm an ninh lương thực
trong mọi tình huống. Xây dựng các vùng sản xuất tập trung lúa hàng hóa và ngô làm
thức ăn chăn nuôi; tận dụng điều kiện thích hợp của các địa bàn khác để sản xuất
Chuyên đề thực tập
lương thực có hiệu quả. Nâng cao giá trị và hiệu quả xuất khẩu gạo. Có chính sách
bảo đảm lợi ích của người sản xuất lương thực.
Phát triển theo quy hoạch và chú trọng đầu tư thâm canh các vùng cây công
nghiệp như cà-phê, cao-su, chè, điều, hạt tiêu, dừa, dâu tằm, bông, mía, lạc, thuốc
- Tiếp tục phát triển và hoàn thiện về cơ bản hệ thống thủy lợi ngăn mặn, giữ
ngọt, kiểm soát lũ, bảo đảm tưới, tiêu an toàn, chủ động cho sản xuất nông nghiệp (kể
cả cây công nghiệp, nuôi, trồng thủy sản) và đời sống nông dân. Đối với những khu
vực thường bị bão, lũ, cùng với các giải pháp hạn chế tác hại thiên tai, phải điều
chỉnh quy hoạch sản xuất và dân cư thích nghi với điều kiện thiên nhiên. Nâng cao
năng lực dự báo thời tiết và khả năng chủ động phòng chống thiên tai, hạn chế thiệt
hại.
- Phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn . Hình thành các khu
vực tập trung công nghiệp, các điểm công nghiệp ở nông thôn, các làng nghề gắn với
thị trường trong nước và xuất khẩu. Chuyển một phần doanh nghiệp gia công (may
mặc, da - giày...) và chế biến nông sản ở thành phố về nông thôn. Có chính sách ưu
đãi để thu hút đầu tư của mọi thành phần kinh tế vào phát triển công nghiệp và dịch
vụ ở nông thôn.
Trên cơ sở chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các ngành, nghề
khác, từng bước tăng quỹ đất canh tác cho mỗi lao động nông nghiệp, mở rộng quy
mô sản xuất, tăng việc làm và thu nhập cho dân cư nông thôn.
Giá trị gia tăng nông nghiệp (kể cả thủy sản, lâm nghiệp) tăng bình quân hàng
năm 4,0-4,5%. Đến năm 2010, tổng sản lượng lương thực có hạt đạt khoảng 40 triệu
tấn. Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP khoảng 16-17%; tỷ trọng ngành chăn nuôi
trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng lên khoảng 25%. Thủy sản đạt sản lượng
3,0-3,5 triệu tấn (trong đó khoảng 1/3 là sản phẩm nuôi, trồng). Bảo vệ 10 triệu ha
rừng tự nhiên, hoàn thành chương trình trồng 5 triệu ha rừng. Kim ngạch xuất khẩu
nông, lâm, thủy sản đạt 9-10 tỷ USD, trong đó thủy sản khoảng 3,5 tỷ USD.
Chuyên đề thực tập
II. Khái quát về điều kiện tự nhiên,xã hội và tình hình phát triển kinh tế
của tỉnh Nghệ An trong những năm qua.
1.Khái quát điều kiện tự nhiên:
1.1. Vị trí địa lý:
Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, trên trục giao lưu kinh tế
– xã hội Bắc – Nam, có bờ biển dài 82 km và có 419 km đường biên giới với
.
Lao động toàn tỉnh có 1.693.443 người, trong đó lao động đang làm việc
trong các ngành kinh tế 1.374.093 người, chiếm 81,14%, riêng lao động trong lĩnh
vực nông thôn có 1.065.696 người, chiếm 77,56% lực lượng lao động đang làm
việc. Lực lượng lao động chủ yếu không qua đào tạo (khoảng 81%), tỷ lệ này ở khu
vực nông thôn cao hơn (khoảng 97%). Đây sẽ là trở ngại lớn trong chuyển giao
công nghệ, điều chỉnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa của
tỉnh.
2.2. Thu nhập và đời sống nhân dân:
Theo thống kê, thu nhập bình quân 1 lao động/tháng là 1.042.400 đồng, chỉ
tiêu này ở khu vực nông thôn chỉ là 758.100 đồng. Đời sống người lao động thấp sẽ
gây khó khăn cho công tác huy động vốn đầu tư cho sản xuất và cũng hạn chế sức thu
mua.
3.Tình hình phát triển kinh tế của tỉnh Nghệ An.
* Quy mô kinh tế tỉnh còn nhỏ bé, năm 2005 mới chiếm 2% GDP của cả nước
(tính theo giá hiện hành - HH) trong khi dân số của tỉnh chiếm 3,64% dân số cả nước.
Tổng GDP của tỉnh năm 2005 đạt 10.292,2 tỷ đồng tính theo giá so sánh 1994
(16.919,3 tỷ đồng tính theo giá HH), vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ
khoá XV đề ra (10.192 tỷ đồng theo giá SS 1994). GDP bình quân đầu người (theo
giá HH) năm 2005 của tỉnh đạt 5,59 triệu đồng, cao hơn so với mức bình quân của
vùng (5,40 triệu đồng) nhưng mới bằng 55,5% mức bình quân của cả nước (10,08
triệu đồng). Như vậy, tỉnh có điểm xuất phát thuận lợi hơn một số tỉnh trong vùng
nhưng lại không thuận lợi bằng nhiều địa phương khác trong cả nước.
Chuyên đề thực tập
* Nền kinh tế tỉnh tăng trưởng cao hơn nhiều trong 5 năm gần đây, vượt mức
bình quân của cả nước và vùng.
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của tỉnh đạt 8,75% cả thời kỳ
1996-2005, trong đó giai đoạn 1996-2000 là 7,27% và giai đoạn 2001-2005 tăng
10,25%, đạt mục tiêu Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XV đề ra (từ 9,5% đến 10,5%).
Tốc độ tăng GDP của tỉnh trong giai đoạn 2001-2005 cao hơn mức tăng chung của cả
Tuy nhiên, có thể thấy tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ nói chung và phân
ngành du lịch - khách sạn - nhà hàng nói riêng chưa tương xứng với tiềm năng của
tỉnh.
t Hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế đã được nâng lên theo thời gian nhưng
mức cải thiện chưa lớn.
Năng suất lao động của toàn nền kinh tế tính theo GDP giá so sánh 1994 tăng
tương đối nhanh: bình quân cả thời kỳ 1996-2005 tăng 4,74%/năm, mức tăng đều ở
các giai đoạn (Biểu 4-HT). Năng suất lao động trong khu vực công nghiệp tăng
nhanh nhất: bình quân 10,63%/năm thời kỳ 1996-2005 (trong đó giai đoạn 2001-2005
tăng 14,44%/năm). Năng suất lao động trong khu vực dịch vụ tăng không đáng kể
trong 10 năm qua (bình quân 0,74%/năm, riêng trong giai đoạn 2001-2005 tăng khá
hơn - bình quân 3,21%/năm) do số lượng lao động dịch vụ tăng nhanh nhưng không
được đầu tư đồng bộ về mọi mặt nên hiệu quả hoạt động chưa cao. Năng suất lao
động trong khu vực nông – lâm – thuỷ sản tăng nhẹ ở mức 1,79%/năm trong suốt 10
năm qua nhưng con số tuyệt đối hiện còn rất nhỏ (giai đoạn 2001-2005 giảm
0,31%/năm do năm 2005 bị ảnh hưởng lớn của thiên tai, dịch bệnh). Mức năng suất
lao động chung của toàn nền kinh tế năm 2005 tính theo GDP giá SS 1994 đạt 6,65
triệu đồng (giá HH đạt 10,93 triệu đồng), thấp hơn một chút so với mức trung bình
của vùng Bắc Trung Bộ (tương ứng là 6,77 triệu đồng và 10,99 triệu đồng) nhưng
thấp hơn nhiều so với mức bình quân trong cả nước (tương ứng là 9,20 triệu đồng và
19,62 triệu đồng). Ngành công nghiệp – xây dựng hiện có mức năng suất lao động
Chuyên đề thực tập
cao nhất: 25,40 triệu đồng theo giá SS 1994 (40,86 triệu đồng theo giá HH), trong đó
năng suất lao động ngành công nghiệp đạt tương ứng 19,15 triệu đồng và 38,27 triệu
đồng; ngành xây dựng đạt 28,12 triệu đồng và 44,29 triệu đồng. Ngành có mức năng
suất thấp nhất là nông – lâm nghiệp – thuỷ sản (tương ứng là 2,87 triệu đồng và 4,70
triệu đồng).
Một số sản phẩm công, nông nghiệp của Nghệ An có khả năng cạnh tranh trên
thị trường trong nước và quốc tế nhưng chủ yếu vẫn là những mặt hàng truyền thống
(lạc nhân, chè khô, cà phê, mây tre đan).
nền kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, hiện đại.
Phát triển nhanh các dịch vụ du lịch, thương mại, vận tải, bưu chính viễn
thông, giáo dục, y tế, tài chính – ngân hàng; các ngành công nghiệp có lợi thế tại các
khu, cụm công nghiệp như công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông -
lâm - thuỷ sản, thực phẩm, điện tử – tin học, cơ khí... Xây dựng một nền nông – lâm
nghiệp đa dạng gắn với bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái.
Đảm bảo đạt đồng thời ba mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường trong phát
triển. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng - an ninh, củng cố
hệ thống chính trị và nền hành chính vững mạnh.
Coi trọng phát triển kết cấu hạ tầng để thu hút đầu tư, khai thác các nguồn lực
của tỉnh và bên ngoài.
3.2.Mục tiêu phát triển
3.2.1. Mục tiêu tổng quát
Phấn đấu đưa Nghệ An thoát khỏi tình trạng tỉnh nghèo và kém phát triển vào
năm 2010; cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020; quyết tâm đưa Nghệ An
sớm trở thành một trong những tỉnh khá của cả nước. Xây dựng Nghệ An trở thành
Chuyên đề thực tập
một trung tâm công nghiệp, du lịch, thương mại, giáo dục, y tế, văn hoá của vùng Bắc
Trung Bộ; có hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối hiện đại và đồng bộ; có nền văn hóa
lành mạnh và đậm đà bản sắc xứ Nghệ; có nền quốc phòng - an ninh vững mạnh; đời
sống vật chất và văn hoá của nhân dân không ngừng được nâng cao.
3.2.2. Mục tiêu cụ thể
3.2.2.1.Mục tiêu kinh tế
GDP/người tính theo USD giá HH đạt khoảng 850-1.000 USD vào năm 2010
và trên 3.100 USD vào năm 2020, bằng 1,1 lần mức bình quân của cả nước
(GDP/người của cả nước năm 2020 khoảng 2.850 USD theo dự báo của Viện Chiến
lược phát triển).
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm giai đoạn 2006-2010 đạt
12-13% (trong đó công nghiệp - xây dựng, dịch vụ và nông - lâm nghiệp - thủy sản
tăng tương ứng: là 19 - 20,7%; 11 - 11,5%; 5 - 5,5%); giai đoạn 2011 - 2020 đạt 12 -
Hoàn thành phổ cập giáo dục phổ thông trung học cho 95% học sinh tại thành
phố, thị xã và thị trấn và 85% học sinh ở các vùng, xã miền núi khó khăn (bao gồm
học nghề, giáo dục chuyên nghiệp, phổ thông và bổ túc). Kiên cố hóa toàn bộ trường
và lớp học.
Đảm bảo đủ giường bệnh, nhân viên y tế, nâng cấp các cơ sở khám chữa bệnh
ở cả 3 tuyến. Nâng tuổi thọ trung bình lên 72 tuổi vào năm 2010 và trên 75 tuổi vào
năm 2020.
95% số dân được xem truyền hình và 100% được nghe đài phát thanh vào năm
2010 và nâng các tỷ lệ này lên 100% vào năm 2020.
Cải thiện một bước cơ bản về kết cấu hạ tầng, bao gồm hệ thống giao thông,
cấp điện, cấp nước sạch. Đảm bảo ít nhất 90% số hộ gia đình được dùng nước hợp vệ
sinh, 98% số hộ có điện sử dụng vào năm 2010 và nâng các tỷ lệ này lên 100% vào
Chuyên đề thực tập
năm 2020.
Nâng tỷ lệ đô thị hoá lên 17% vào năm 2010 và 37% vào năm 2020.
Số m
2
nhà ở khu vực đô thị đạt 10 m
2
/người vào năm 2010, 12 m
2
/người vào
năm 2015, 18-20 m
2
/người vào năm 2020.
Đảm bảo an toàn xã hội và quốc phòng – an ninh. Thực hiện tốt mục tiêu "ba
giảm, ba yên" trên địa bàn. Giảm tối đa các tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn ma túy và tai
nạn giao thông; đảm bảo 100% người nghiện ma tuý được phát hiện, quản lý, cai
nghiện và hạ thấp tỷ lệ tái nghiện.
3.2.2.3.Mục tiêu môi trường
Năng suất thu hoạch =
Sản lượng lúa thu hoạch
Diện tích lúa thu hoạch
2. Diện tích lúa.
2.1.Diện tích canh tác: là phần diện tích thực tế gieo trồng hằng năm. Diện
tích canh tác hằng năm là phần diện tích trồng các loại cây ngắn ngày(có chu kì sinh
trưởng không quá 1 năm).Trên phần diện tích này có thể gieo trồng hai, ba vụ.
2.2.Diện tích gieo trồng : là phần diện tích thực tế co gieo trồng nhằm thu
hoạch được thành phẩm ngay trên phần diện tích đó.
Diện tích gieo trồng không bao gồm : diện tích bỏ hóa, diện tích gieo mạ, vườn
ươn, bèo dâu…. Trên cùng 1 diện tích trong 1 năm có thể gieo trồng nhiều vụ và
trong 1 vụ có thể trồng xen nhiều loại cây khác nhau.Do đó tổng diện tích gieo trồng
cả năm thường lớn hơn nhiều so với diện tích canh tác.
Chuyên đề thực tập
Thông thường diện tích gieo trồng lúa thì chỉ để trồng lúa chứ không trồng
cùng loại cây khác. Do đó, diện tích sử dụng bao nhiêu thì tính bấy nhiêu(không tính
diện tích gieo mạ).
Diện tích thực dùng để trồng lúa phải là phần diện tích sau khi đã trừ bờ:
Côn thức :
Diện tích lúa trừ bờ = Diện tích lúa chưa trừ bờ * (100- K)
Trong đó K: là tỷ lệ diện tích bờ của ruộng gieo trồng lúa.
Diện tích lúa vụ nào tính cho vụ đó không tính trùng diện tích giữa các vụ.
3. Sản lượng lúa .
3.1.Khái niệm chung :
Sản lượng lúa là toàn bộ lúa thu được trên toàn bộ diện tích gieo trồng loại cây
đó trong từng vụ hay cả năm.
Trong thực tế sản lượng lúa không điều tra toàn bộ mà được ước tính dựa trên
số liệu về năng suất và diện tích gieo trồng lúa.
Công thức chung :
Sản lượng lúa = Năng suất lúa * Diện tích gieo trồng lúa
được vấn đề chủ yếu một cách dễ dàng, nhanh chóng
- Làm cho người hiểu ít biết về thống kê vẫn lĩnh hội đựoc vấn đề chủ yếu một
cách dế dàng, đông thời giữ được ấn tượng sâu sắc với người đọc.
Yêu cầu:
- Chính xác về tỉ lệ
- Dễ xem lựa chọn dạng đồ thị phù hợp với từng hiện tượng.
- Phần giải thích bao gồm tên đồ thị, các con số và ghi chú dọc theo thang tỷ
lệ, các con số bên cạnh từng bộ phận của đồ thị, giải thích các ký hiệu quy ước... cần
được ghi rõ, gọn, dễ hiểu.
3.Phương pháp dãy số thời gian(DSTG).
3.1Khái niệm, đặc điểm, phân loại:
Chuyên đề thực tập
Dãy số thời gian là dãy các số liệu thống kê của hiện tượng nghiên cứu được
sắp xếp theo thứ tự thời gian.
Qua khái niệm trên về dãy số thời gian, ta có thể thấy, một dãy số thời gian sẽ
bao gồm hai yếu tố: Thời gian và số liệu của các chỉ tiêu nghiên cứu.
+ Thời gian có thể là ngày, tuần, tháng, qúy, năm. Độ dài giữa hai thời gian
liền nhau gọi là khoảng cách thời gian.
+ Số liệu của chỉ tiêu nghiên cứu có thể được biểu hiện dưới dạng số tuyệt
đối, số tương đối hay số bình quân và được gọi là các mức độ của dãy số.
Căn cứ vào tính chất của thời gian trong dãy số có thể phân làm 2 loại:
+ Dãy số biến động theo thời kỳ (gọi tắt là dãy số thời kỳ): Dãy số trong đó
các mức độ của chỉ tiêu biểu hiện mặt lượng của hiện tượng trong một khoảng thời
gian nhất định.
+ Dãy số biến động theo thời điểm (gọi tắt là dãy số thời điểm): Dãy số trong
đó các mức độ của chỉ tiêu biểu hiện mặt lượng của hiện tượng ở những thời điểm
nhất định.
Các chỉ tiêu diện tích,năng suất, sản lượng lúa thường xuyên biến động qua
thời gian. Vì vậy ta phải sử dụng phương pháp DSTG để nghiên cứu sự biện động
của các chỉ tiêu này
Dãy số thời điểm có khoảng cách thời gian bằng nhau.
n
y
yy
y
y
n
n
2
...
2
12
1
++++
=
−
Trong đó: y
i
là các mức độ của dãy số thời điểm có khoảng cách thời gian bằng
nhau.
Dãy số thời điểm có khaỏng cách thời gian không bằng nhau.
n
nn
hhh
hyhyhy
y
+++
+++
=
y
i
: Mức độ tuyệt đối ở thời gian i
y
i-1
: Mức độ tuyệt đối ở thời gian i-1
Nếu y
i
> y
i-1
thì
i
δ
> 0: Phán ánh quy mô hiện tượng tăng lên;
Nếu y
i
< y
i-1
thì
i
δ
< 0: Phán ánh quy mô hiện tượng giảm.
b. Lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối định gốc
Chỉ tiêu này phản ánh sự thay đổi về quy mô của hiện tượng nghiên cứu trong
khoảng thời gian dài và được tính theo công thức sau đây:
1
yy
ii
−=∆
(với i = 2,3,...,n)
−
=
−
∆
=
−
+++
=
n
yy
nn
nnn
δδδ
δ
3.2.3. Tốc độ phát triển
Chỉ tiêu này phản ánh: Qua thời gian hiện tượng nghiên cứu đã phát triển với tốc độ
cụ thể bao nhiêu (nhanh hay chậm, xu thế là gì?). Tốc độ phát triển bao gồm: