BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đỗ Nguyễn Thùy Trang
QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
CỦA TỈNH KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đỗ Nguyễn Thùy Trang
QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
CỦA TỈNH KHÁNH HÒA
Chuyên ngành : Địa lý học
Mã số
: 60 31 05 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN KIM HỒNG
ĐỖ NGUYỄN THÙY TRANG
1
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 1
MỤC LỤC .................................................................................................................... 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ......................................................................... 4
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 5
1. Lí do chọn đề tài ..............................................................................................................5
2. Mục tiêu, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu .....................................................................6
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .............................................................................................7
4. Hệ thống quan điểm nghiên cứu....................................................................................9
5. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................10
6. Bố cục của luận văn: .....................................................................................................10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA................. 12
1.1. Cơ sở lý thuyết về đô thị và đô thị hóa .....................................................................12
1.1.1. Khái niệm .............................................................................................................. 12
1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến đô thị và đô thị hóa: .................................................. 18
1.1.3. Các chỉ tiêu xác định mức độ đô thị hóa ............................................................... 19
1.1.4. Những biểu hiện cơ bản của đô thị hóa ................................................................. 22
1.1.5. Những tác động của đô thị hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và môi
trường .............................................................................................................................. 26
1.2. Cơ sở thực tiễn về quá trình đô thị hóa ...................................................................33
1.2.1. Quá trình đô thị hóa trên thế giới .......................................................................... 33
1.2.2. Quá trình đô thị hóa trong nước ............................................................................ 35
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA CỦA TỈNH KHÁNH HÒA ............. 38
3.2.3. Định hướng phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho quá trình đô thị hóa
của tỉnh .......................................................................................................................... 104
3.3. Giải pháp cho sự phát triển đô thị tỉnh Khánh Hòa.............................................106
3.3.1. Giải pháp tạo động lực phát triển đô thị .............................................................. 106
3.3.2. Giải pháp tạo nguồn vốn xây dựng đô thị ........................................................... 111
3.3.3. Giải pháp về thúc đẩy dân số và giải quyết việc làm, chuyển đổi ngành nghề tại
khu vực mới đô thị hóa .................................................................................................. 113
3.3.3. Giải pháp về nâng cao sức khỏe và đời sống người dân ..................................... 116
3.3.4. Giải pháp về môi trường sinh thái và phát triển bền vững .................................. 117
3.3.5. Giải pháp về phát triển nhà ở, xây dựng các khu đô thị mới .............................. 117
3.3.6. Phân phối lợi ích (về các mặt) từ phát triển đô thị .............................................. 118
3.3.7. Giải pháp về quản lý và thực hiện quy hoạch đô thị ........................................... 118
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................. 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 124
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GDP
:
Tổng sản phẩm quốc nội, là giá trị của tất cả hàng hóa và
dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một
lãnh thổ hay quốc gia trong thời gian nhất định (thường
là 1 năm).
GDP
:
Duyên hải miền Trung
ĐNB
:
Đông Nam Bộ
ĐTH
:
Đô thị hóa
DV
:
Dịch vụ
GDTX
:
Gíao dục thường xuyên
HS
:
Nông nghiệp
PTDT và ĐT hóa BV
:
Phát triển đô thị và đô thị hoá bền vững
THCS
:
Trung học cơ sở
THPT
:
Trung học phổ thông
4
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Khánh Hoà là một tỉnh thuộc khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ, có diện tích tự nhiên
trên đất liền là 5.205 km2, có vùng biển đảo rộng lớn với hơn 200 hòn đảo lớn nhỏ. Khánh
Đặc biệt, Khánh Hòa là tỉnh có mức độ đô thị hóa cao nhất trong các tỉnh thuộc khu
vực miền Trung với số dân thành thị là 522.498 người (năm 2011) chiếm khoảng 44,50 %
dân số toàn tỉnh. Tính đến cuối năm 2011, toàn tỉnh có 1 đô thị loại I (thành phố Nha
Trang), 1 đô thị loại III (thành phố Cam Ranh), 3 đô thị loại IV cùng với 7 đô thị loại V nằm
dọc theo các hành lang đông dân cư ven các sông chính và các tuyến đường nối vùng duyên
hải lên Tây Nguyên. Quá trình đô thị hóa ở tỉnh Khánh Hòa đã và đang tạo nên những
chuyển biến tích cực đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, như sự tăng trưởng
nhanh chóng nền kinh tế, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư.
Vậy quá trình đô thị hóa ở tỉnh Khánh Hòa diễn ra như thế nào và trong tương lai cần
có hướng đi như thế nào để phát triển hơn nữa, là học viên địa lý kinh tế cũng như người
dân của tỉnh Khánh Hòa tác giả mong muốn thực hiện đề tài luận văn: “Quá trình đô thị
hóa của tỉnh Khánh Hòa” với mục đích phân tích các giai đoạn của quá trình đô thị hóa và
đưa ra những giải pháp cho quá trình đô thị hóa của tỉnh Khánh Hòa nhằm góp phần thúc
đẩy đưa tỉnh Khánh Hòa lên ngang tầm với các thành phố đặc biệt khác như Hồ Chí Minh,
Hà Nội, Đà Nẵng.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
2.1. Mục tiêu
Nghiên cứu thực trạng của quá trình đô thị hoá của tỉnh Khánh Hòa. Đặc biệt là phân
tích diễn biến các giai đoạn của quá trình đô thị hóa. Định hướng và giải pháp thúc đẩy quá
trình đô thị hóa của tỉnh Khánh Hòa.
2.2. Nhiệm vụ
Tổng kết cơ sở lí luận liên quan đến đô thị và đô thị hóa. Phân tích các giai đoạn quá
trình đô thị hóa. Trên cơ sở đó, đề ra giải pháp phù hợp để thúc đẩy quá trình đô thị hóa
đúng hướng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Khánh Hòa
2.3. Phạm vi nghiên cứu
2.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng về dân số, lao động và việc làm của tỉnh Khánh Hòa.
Cơ cấu sử dụng đất và sự tăng trưởng một số ngành kinh tế của tỉnh.
6
GS. Đàm Trung Phường - nhà đô thị lão thành thuộc lớp kiến trúc sư đầu tiên tham gia quy
hoạch xây dựng lại các đô thị miền Bắc bị tàn phá trong kháng chiến chống Pháp (1945 1954) và nhiều thành phố công nghiệp mới của Việt Nam, cho rằng: “cho đến giữa thập
7
niên 90 vẫn chưa có ai viết sách và tiếp cận có hệ thống”. Năm 1995 cuốn “Đô thị Việt
Nam tập I, tập II ” của GS. Đàm Trung Phường ra đời và đã được tái bản lần thứ nhất vào
năm 2005, tác giả tập trung giải quyết 2 vấn đề cơ bản là:
+ Đánh giá thực trạng mạng lưới đô thị Việt Nam và nghiên cứu những định hướng phát
triển trong bối cảnh đô thị hóa thế giới và tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thời
kỳ đổi mới nước ta.
+ Mở rộng những khái niệm về đô thị học có quan hệ với những tiến bộ của thế giới, cập
nhật những thông tin liên quan đến đô thị trong nước để tham khảo cho giáo trình giảng dạy
sinh viên đại học và chủ yếu là sau đại học.
Tuy nhiên, như chính tác giả của công trình thừa nhận “quyển đô thị Việt Nam chưa có
điều kiện đi sâu vào từng đô thị mà chỉ mới dừng lại ở cấp vĩ mô (macro) và trung mô
(mezo)”. [31, tr.5]
Bên cạnh đó còn hàng loạt công trình đề cập đến đô thị hóa và những vấn đề liên quan
đến nó như: “Đô thị hóa và chính sách phát triển đô thị trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở Việt Nam” của Trần Văn Chữ, Trần Ngọc Hiên (Đồng chủ biên) (Nxb Chính trị Quốc gia
Hà Nội 1998); “Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020”
của Bộ Xây dựng (1999); “Dân số học đô thị” của Trần Hùng (Nxb Xây dựng Hà Nội,
2001); “Quản lý đô thị thời kỳ chuyển đổi” của TS. Võ Kim Cương (Nxb Xây dựng Hà Nội,
2004); “Kinh tế đô thị và vùng” của Trần Văn Tấn (Nxb Xây dựng Hà Nội, 2006); “Công
tác thực hiện quy hoạch xây dựng đô thị” của Trần Trọng Hanh (Nxb Xây dựng 2008); Hay
cuốn “Địa lý đô thị” của TS Phạm Thị Xuân Thọ (Nxb Giáo dục, 2008) đã đưa ra một số
khái niệm về đô thị hóa; tính qui luật kinh tế – xã hội của quá trình đô thị hóa gồm đô thị
hóa là quá trình chuyển hóa vận động phức tạp có tính qui luật về mặt kinh tế xã hội và đô
thị hóa là một quá trình phức tạp đan xen đa ngành; lịch sử đô thị hóa. Ngoài các công trình
kể trên còn có bài viết của một số tác giả được đăng trên các tạp chí hoặc báo cáo tại các hội
tế – xã hội hiện tại và tương lai. Do đó, cần phải nghiên cứu tác động của quá trình đô thị
hóa đến tỉnh Khánh Hòa trong mối liên hệ với quá khứ, hiện tại và tương lai. Từ đó thấy rõ
bản chất của vấn đề đô thị hóa theo thời gian, đảm bảo được tính logic, khoa học và chính
xác khi nghiên cứu.
4.4. Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Quá trình phát triển kinh tế và quá trình đô thị hóa có những tác động tích cực và tiêu
cực đến môi trường tự nhiên. Để phát triển đô thị, kinh tế – xã hội bền vững phải chú ý sử
dụng hợp lí, bảo vệ và tái tạo tài nguyên thiên nhiên. Đồng thời phải chống ô nhiễm môi
trường, kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với công bằng xã hội nhằm nâng cao chất
9
lượng cuộc sống người dân. Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên là việc làm rất cần thiết. Do vậy,
nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa phải dựa trên quan điểm sinh thái và phát triển
bền vững.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thống kê
Đây là phương pháp rất quan trọng vì trên cơ sở các tài liệu thống kê kinh tế – xã hội,
môi trường, tác giả có được những số liệu, dữ liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu, từ đó
rút ra được những tác động của quá trình đô thị hóa đến kinh tế – xã hội tỉnh Khánh Hòa.
5.1.1. Điều tra thực tế:
Thiết kế anket điều tra mẫu dựa trên các thông tin yêu cầu trong phần kết quả nghiên
cứu cần đánh giá và phân tích. Thực hiện điều tra trực tiếp, giám sát chặt chẽ chất lượng
thông tin.
5.1.2. Thu thập thông tin:
Việc thu thập tài liệu thông tin bao gồm việc sưu tầm và thu thập những tài liệu, số
liệu liên quan đã đươc công bố và những tài liệu, số liệu mới tại địa bàn nghiên cứu.
5.2. Phương pháp phân tích – tổng hợp
Trên cơ sở phân tích, tổng hợp tài liệu, số liệu thống kê, tác giả rút ra những kết luận về
thời gian sản xuất ngay trong khu vực cư trú”.
- Khái niệm 2: “Đô thị là một điểm quần cư mà phương tiện sinh sống bình thường của
người dân không phải tập trung vào trồng trọt mà hàng đầu là buôn bán và sản xuất công
nghiệp”.
- Khái niệm 3: “Đô thị là nơi tập trung nhân khẩu, tập trung nhiều ngành sản xuất công
nghiệp, có những tổ chức dân cư riêng biệt”42.
Trên thực tế, nhiều đô thị trên thế giới không tập trung đông nhân khẩu và không có
chức năng sản xuất công nghiệp mà lại có chức năng du lịch, nghỉ mát, an dưỡng. như vậy
những khái niệm trên chưa bao hàm tất cả các dấu hiệu cơ bản của đô thị. Như vậy,dấu hiệu
nhân biết đô thị không chỉ là sự tập trung đông dân và dân cư đó hoạt động trong các ngành
phi nông nghiệp mà bao gồm cả là nơi định cư lâu dài, bền vững.Trong các dấu hiệu nhận
biết đô thị,ở nhiều nước chỉ có một tiêu chí duy nhất là số dân. Ví dụ: ở Colombia,các điểm
dân cư trên 1000 người được coi là đô thị, Cuba (hơn 2000 người), Senegal (hơn 10.000
người)…
Theo bách khoa toàn thư của Liên Xô (cũ): “đô thị là một khu dân cư rộng lớn. Dân cư
ở đây hoạt động chủ yếu trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp cũng như trong lĩnh
vực quản lí khoa học và văn hóa”42. Ở Ấn Độ, đô thị tối thiểu phải hơn 5000 dân, MĐDS
lớn hơn 1000 nười/ dặm vuông, với trên 75% dân số hoạt động phi nông nghiệp. Trong khi
đó Bangladesh, Indonesia, cộng hòa Séc … khi xác định đô thị người ta ại chú ý đến các
dấu hiệu về phúc lợi vật chất. Sự khác biệt về các tiêu chí xcs định đô thị giữa các nước làm
cho việc xác định mức độ đô thị hóa giữa các nước khác nhau rất khó khăn. Theo Liên Hợp
Quốc, các điểm dân cư có quy mô dân số trên 20.000 dân và 70% dân số phi nông nghiệp
được coi là đô thị.
Ngoài ra, một số quốc gia có tiêu chuẩn khác nhau về đô thị như sau:
12
+ Chile, những điểm quần cư được coi là đô thị khi ở đó có những công trình phục vụ
công cộng.
+ Ở Phần Lan, những điểm quần cư có số dân hơn 12.000 người là đô thị.
Khái niệm đô thị của các quốc gia có sự khác nhau và thay đổi theo thời gian, tùy
thuộc vào trình độ phát triển kinh tế – xã hội và dân cư của các khu vực.
Phân loại đô thị Việt Nam: Đô thị được phân thành 6 loại như sau: loại đặc biệt, loại I,
loại II, loại III, loại IV và loại V, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định công
nhận. Các đô thị phân loại dựa trên sự khác biệt về chức năng kinh tế, qui mô dân số, mật độ
dân số, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp, hệ thống công trình hạ tầng đô thị và kiến trúc cảnh
quan đô thị. Trong đó, các chỉ tiêu về dân số là cơ sở chủ yếu để phân loại đô thị.
- Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện
ngoại thành và các đô thị trực thuộc. Đô thị loại đặc biệt đa chức năng, với qui mô dân số từ
5 triệu người trở lên, mật độ dân số khu vực nội thành từ 15000 người/km2 và tỉ lệ lao động
phi nông nghiệp trên 90% tổng số lao động.
- Đô thị loại I là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại
thành, có thể có các đô thị trực thuộc với qui mô dân số từ 1 triệu người trở lên, mật độ dân
số tối thiểu là 12.000 người/km2. Đô thị loại I là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội
thành, các xã ngoại thành với qui mô dân số từ 500.000 người trở lên, mật độ dân số từ
10.000 người/km2 trở lên. Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp tại đô thị loại I phải trên 85%.
- Đô thị loại II có tỉ lệ lao động phi nông nghiệp phải từ 80% trở lên. Nếu là đô thị trực
thuộc Trung ương thì qui mô dân số từ 800000 người trở lên, mật độ dân số trên 10000
người/km2. Đô thị loại II thuộc tỉnh có qui mô dân số trên 300000 người với mật độ dân số
từ 8000 người/km2.
- Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị,
các xã ngoại thành, ngoại thị. Qui mô dân số trên 150.000 người, mật độ dân số từ 6.000
người/km2 trở lên và tỉ lệ dân số phi nông nghiệp từ 75% trở lên.
- Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị. Qui mô
dân số từ 50.000 người trở lên với mật độ dân số trên 4.000 người/km2 và tỉ lệ lao động phi
nông nghiệp tối thiểu là 70%.
- Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập
trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn. Qui mô dân số phải từ 4.000 người trở lên,
mật độ dân số trên 2.000 người/km2 và tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 65% trở lên.
- Theo nghĩa rộng:
+ Quá trình tập trung dân cư vào các đô thị (sự chuyển cư vào các đô thị ) hình thành
và phát triển đô thị mới.
+ Quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị lớn.
+ Quá trình mở rộng không ngừng diện tích đô thị theo chiều rộng, chiều cao, chiều
sâu.
+ Quá trình phổ biến lối sống đô thị.
+ Quá trình hiện đại hóa cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật đô thị.
Tóm lại, đô thị hóa là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, diễn ra trong mối quan
15
hệ chặt chẽ với sự phát triển của cách mạng khoa học kĩ thuật, làm thay đổi sự phân bố lực
lượng sản xuất; phân bố dân cư; thay đổi cơ cấu nghề nghiệp, văn hóa, xã hội, kết cấu giới
tính, lứa tuổi của dân cư và môi trường sống.
Đô thị hóa quá trình chuyển hóa và vận động phức tạp mang tính qui luật, diễn ra trên
qui mô toàn cầu, mang tính chất đặc trưng của sự phát triển kinh tế – xã hội trong thời đại
hiện nay.
Dựa trên những khái niệm về các khu vực trong đô thị, đô thị hóa, có thể hiểu khái
niệm đô thị hóa ngoại ô: hiện tượng tương tự như việc “đô thị lấn ra” do ngoại ô có nguồn
đất dồi dào. “Đô thị hóa vùng ven dùng để nói về việc khu vực nông thôn và thành thị nhập
lại, pha trộn. Từ đó, có thể phát sinh những hình thức tương tác xã hội, kinh tế và môi
trường hoàn toàn mới, không còn thuần đô thị hoặc thuần nông thôn nữa”56
Đô thị hóa làm thay đổi sự phân bố dân cư, từ dạng phân tán ở các vùng nông thôn
sang dạng tập trung ở các đô thị, gắn với các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp. Từ đó, tỉ
lệ lao động phi nông nghiệp và vai trò của các ngành dịch vụ tăng lên.
Nhờ cuộc cách mạng công nghiệp và cách mạng khoa học kĩ thuật, tỉ lệ dân cư sống
trong các đô thị ngày càng tăng lên. Nhịp độ đô thị hóa cũng diễn ra nhanh chóng: dân nhập
cư tăng nhanh, cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật phát triển và tăng diện tích đất phi nông
nghiệp.
Đối tượng của chính sách đô thị là tất cả các vấn đề của đô thị trên ba lĩnh vực bao
quát nhất là kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy nhiên với quan điểm “ Nhà nước tạo điều
kiện”, những gì mà cá nhân công dân không tự làm được thì Nhà nước phải “tạo điều kiện”,
và phải có chính sách ở đó. Do đó chính sách đô thí sẽ hướng vào việc đảm bảo về hạ tầng
đô thị, vào việc bảo vệ môi trường và vào việc tạo điều kiện cho các thị trường phát triển.
Đó cũng là ba chức năng cơ bản của chính quyền đô thị.
Hệ thống quan
điểm cơ bản và
chính sách vĩ mô
Hiện trạng đô thị
và xu hướng
phát triển
Chính sách
đô thị
Đánh giá và điều chỉnh
Nguồn: Võ Kim Cương (2004), Chính sách đô thị, NXB Xây dựng
Hình 1.1. Sơ đồ hình thành chính sách đô thị
17
- Quản lý đô thị là một quá trình hoạt động đi đến mục tiêu đảm bảo cho đô thị phát
triển ổn định bền vững, đảm bảo hài hòa các lợi ích quốc gia công đồng và cá nhân cả trước
mắt và lâu dài.
Qúa trình hoạt động quản lý là một quá trình xây dựng pháp luật và thức hiện pháp
luật, là một quá trình huy động nhân tài vật lực của đô thị, tận dụng các thời cơ, chế ngự các
nguy cơ để phục vụ cho việc cải tạo và phát triển đô thị, nân cao không ngừng đời sống
các đô thị vừa là nơi tập trung dân cư đông đúc, vừa là nơi tập trung sản xuất cao độ các
ngành công nghiệp, du lịch, dịch vụ. Do vậy, các đô thị lớn của thế giới tập trung chủ yếu ở
thung lũng các con sông lớn, nơi thuận tiện việc cung cấp nước cho sản xuất và đời sống.
Khoáng sản: Các đô thị có chức năng công nghiệp thường được phát triển gần các
cùng giàu có về khoáng sản như Thái Nguyên thành phố “gang thép”, thành phố Cẩm Phả
với chức năng công nghiệp khai thác than (đây là vùng mỏ than lớn của Việt Nam)…
1.1.2.3. Điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến chức năng đô thị và quá trình đô
thị hóa
Các đô thị ở vùng Đông Xibia (Nga) phát triển mạnh nhờ công nghệ kỹ thuật xây dựng
nhà ở hiện đại có lò sưởi, tạo nơi cư trú cho dân cư trong vùng khí hậu giá lạnh để khai thác
tài nguyên giàu có của đất nước. Còn các thành phố công nghiệp Nhật Bản lại phát triển
mạnh trong điều kiện khan hiếm tài nguyên nhưng nhờ vào kỹ thuật và công nghệ, các
phương tiện giao thông biển phát triển mạnh, sự phát triển thương mại đã thúc đẩy sự phát
triển nhanh chóng các thành phố công nghiệp. Ở Việt Nam, thành phố Vũng Tàu đã phát
triển thành thành phố đa chức năng: chức năng công nghiệp khai thác và chế biến dầu khí,
chức năng hành chính, chức năng du lịch,…nhờ khoa học kỹ thuật khai thác dầu khí và
chính sách hợp tác quốc tế mở rộng thu hút vốn đầu tư và công nghệ nước ngoài.
Các yếu tố kinh tế- xã hội như xu thế toàn cầu hóa, xu hướng hội nhập và hợp tác quốc
tế, các chính sách phát triển kinh tế vùng của các quốc gia cũng tạo điều kiện cho các đô thị
phát triển nhiều chức năng mới.
1.1.3. Các chỉ tiêu xác định mức độ đô thị hóa
1.1.3.1. Tỉ lệ dân thành thị
Tỉ lệ dân thành thị là chỉ tiêu cơ bản xác định mức độ đô thị hóa. Tỉ lệ dân thành thị
cao và tăng nhanh, quá trình đô thị hóa càng hiệu quả. Đô thị hóa tạo ra lực hút đối với dân
cư từ nơi khác và tạo quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông
nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất.Tại Điểm b, Khoản 2, Điều 2 của Thông tư số
34/2009/TT-BXD của Bộ Xây dựng ngày 30/9/2009 quy định chi tiết một số nội dung của
19
PU =
M: mật độ dân số đô thị (người/km2)
Pu: dân số đô thị (người)
S: diện tích đô thị (km2)
Tuy nhiên, mật độ dân số đô thị chưa phản ánh đầy đủ mọi mặt của quá trình đô thị
hóa, nhất là đối với các nước đang phát triển. Tình trạng dân số đông do đô thị hóa tự phát
khiến ở các nước này làm mật độ dân số đô thị rất cao và tăng nhanh, trong khi các điều
kiện về kinh tế, cơ sở hạ tầng chưa phát triển sẽ gây ra những vấn đề về việc làm, nhà ở và
khó nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.
20
1.1.3.4. Nhịp độ đô thị hóa:
Chỉ sự thăng trầm nhanh chậm trong quá trình tiến hành đô thị hóa có kế hoạch hay đô
thị hóa tự phát.
Nhịp độ đô thị hóa được tính bằng công thức 6:
Trong đó:
T: nhịp độ đô thị hóa
U2: tỉ lệ dân đô thị năm sau (%)
U1: tỉ lệ dân đô thị năm trước (%)
∆t: khoảng cách giữa năm sau và năm trước
Nhịp độ đô thị hóa còn được biểu hiện qua tốc độ tăng dân số đô thị.Ví dụ: dân số đô
thị tăng nhanh: từ 3,0 triệu người năm 1990 tăng lên 5,6 triệu người năm 2007. Tốc độ tăng
dân số đô thị năm 2007 tăng 186,3% so với năm 1990.
1.1.3.5. Tốc độ đô thị hóa
Là chỉ tiêu thể hiện sự tăng trưởng của đô thị thông qua các chỉ tiêu về dân số đô thị
hoặc đất đai đô thị theo thời gian (1 năm hoặc một khoảng thời gian nhất định). Theo quy
định tại Thông tư số 34/2009/TT-BXD của Bộ Xây dựng, tỷ lệ đô thị hóa được xác định
thông qua chỉ tiêu về dân số đô thị, do vậy tốc độ đô thị hóa theo chỉ tiêu dân số đô thị được
xác định như sau:
Những nước thuộc nhóm nước đang phát triển có tốc độ đô thị hóa cao hơn các nước
thuộc nhóm nước phát triển do các nước này có sự biến động rất lớn về tỉ lệ dân thành thị.
Hiện nay tốc độ đô thị hóa trên thế giới đang có xu hướng giảm do tình hình phát triển kinh
thế thế giới gần như ổn định.
1.1.3.6. Gia tăng dân số đô thị: Gồm gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ học (di dân)
Quá trình tăng dân số đô thị do hai yếu tố chính là gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ
học(chủ yếu là do di dân nông thôn vào thành thị). Trong đó gia tăng dân số cơ học là chủ
yếu tạo nên sự tăng trưởng dân số đô thị ở các khu vực đang đô thị hóa. Dự báo dân số
thành thị: Có thể tính toán dựa trên cơ sở gia tăng dân tự nhiên và gia tăng cơ học, đồng thời
chú ý đến khả năng mở rộn lãnh thổ đô thị ra các vùng lân cận.42
1.1.4. Những biểu hiện cơ bản của đô thị hóa
1.1.4.1. Dân số đô thị ngày càng tập trung đông vào các đô thị
Theo số liệu công bố chính thức dân số thế giới năm 2010 là 6,892 tỷ người, trong đó
50% dân số sống ở thành thị; 1,237 tỷ người sống ở các nước phát triển; 5,656 tỷ người
sống ở các nước đang phát triển; châu Á là châu lục có dân số đông nhất với 4,157 tỷ người.
Các chuyên gia về nhân khẩu học dự đoán năm 2011 thế giới sẽ chào đón công dân thứ 7 tỉ,
điều này gây ra lo ngại về nhiều mặt cho công cuộc phát triển kinh tế-xã hội. Để minh họa
cho con số ấn tượng này, tạp chí National Geographic khẳng định rằng phải mất khoảng...
200 năm để đếm từ 1 đến 7 tỉ. Đô thị trên thế giới đang tăng nhanh chóng cả về số lượng đô
thị, số dân đô thị và tỉ lệ thị dân. Mức độ đô thị hóa ở Việt Nam thấp hơn nhiều so với thế
giới: Năm 2007, tỉ lệ dân số đô thị của Việt Nam chỉ đạt 27%, trong khi tỉ lệ dân số đô thị
thế giới là 49%. Các vùng kinh tế trong nước cũng có mức độ đô thị hóa khác nhau: cao
nhất là Đông Nam Bộ với tỉ lệ dân số đô thị là 57,3%; thấp nhất là Trung du và miền núi
phía Bắc với tỉ lệ là 15,4%.
Dân số đô thị thế giới tăng nhanh cho đến giữa thế kỷ XXI. Tỉ lệ dân số đô thị thế giới
đạt hơn 50% (năm 2010) với khoảng 6,892 tỷ người 62. Dự báo đến năm 2015 sẽ có 4,1 tỉ
dân đô thị và năm 2050 dân số đô thị sẽ là 6,4 tỉ dân, tương ứng với 55% và 70% dân số thế
giới.
1.1.4.2. Quá trình tập trung dân số ngày càng đông vào các đô thị, đô thị lớn và
Tỉ lệ dân số đô thị thế
giới (%)
3,0
13,6
29,2
38,6
39,6
42,6
47,0
48,0
50,0
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Dân số đô thị thế giới tăng nhanh, đặc biệt tại các thành phố lớn. Số thành phố lớn và
cực lớn từ đó cũng gia tăng mạnh mẽ.
Đầu thế kỷ XX, toàn thế giới chỉ có 13 đô thị có số dân hơn 1 triệu dân, đến năm 1995
đã có 330 đô thị có qui mô dân số trên 1 triệu dân. Cuối thể kỷ XX, số đô thị trên 1 triệu dân
đã tăng lên 400 đô thị. Vào năm 2007, số lượng đô thị có qui mô dân số trên một triệu dân
trở lên có tới 476 đô thị.
Đầu thế kỷ XX, không có thành phố nào trên thế giới có dân số là 10 triệu dân. Đến
cuối thế kỷ XX, có khoảng 20 thành phố có qui mô dân số là 10 triệu dân. Sự gia tăng dân
số đô thị tại các thành phố lớn và cực lớn là đặc điểm nổi bật của quá trình đô thị hóa hiện
nay 42.
Số lượng các đô thị lớn tăng nhanh, đặc biệt là tại các nước đang phát triển. Theo số
liệu báo cáo năm 2007, thế giới có 10 siêu đô thị lớn với trên 15 triệu dân, trong đó có 8 đô
thị thuộc nhóm nước đang phát triển (Mumbai – Ấn Độ; Mexico City – Mexico; Sao Paulo
– Brazil; New Delhi – Ấn Độ; Thượng Hải – Trung Quốc, Concata – Ấn Độ; Jakarta –
Indonesia; Dhaka – Bangladesh)61
Trong những năm gần đây, dân số đô thị tại các nước đang phát triển tăng nhanh hơn