BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_________________________
Trương Thu Sương
TÌM HIỂU ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ
CỦA NHẬT BÁO CẦN THƠ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
___________________
Trương Thu Sương
TÌM HIỂU ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ
CỦA NHẬT BÁO CẦN THƠ
Chuyên ngành
: Ngôn ngữ học
Mã số
: 66 22 01
văn, em tự nhủ, bên cạnh vận dụng những kiến thức học được vào công việc,
em sẽ dành nhiều thời gian hơn cho những người thân yêu nhất của em, bù
đắp lại thời gian qua.
Em kính chúc quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè luôn hạnh phúc trong
cuộc sống. Thêm một lần nữa em xin tri ân đến tất cả mọi người bằng niềm
vui và lòng biết ơn chân thành nhất!
Trương Thu Sương
MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG .................................................... 12
1.1. Cần Thơ ............................................................................................... 12
1.1.1. Vùng đất, con người..................................................................... 12
1.1.2. Báo Cần Thơ ................................................................................ 13
1.2. Phong cách ngôn ngữ báo chí .............................................................. 14
1.2.1. Các quan điểm khác nhau về phong cách ngôn ngữ báo chí ....... 14
1.2.2. Chuẩn ngôn ngữ và chuẩn phong cách ngôn ngữ báo chí ........... 16
1.3. Lý thuyết giao tiếp của Roman Jakobson và việc nhận diện phong cách
và thể loại ............................................................................................ 20
1.4. Chức năng của phong cách ngôn ngữ báo chí ..................................... 24
1.5. Đặc điểm ngôn ngữ báo chí ................................................................. 28
1.5.1. Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ sự kiện ........................................ 28
1.5.2. Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ của sự tương tác ......................... 28
1.5.3. Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ của sự hấp dẫn ............................ 29
1.6. Một số thể loại báo chí tiêu biểu ......................................................... 30
1.7. Màu sắc địa phương và màu sắc địa phương Nam Bộ ........................ 33
1.7.1. Màu sắc địa phương ..................................................................... 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 113
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển của đất nước, trong những năm qua, các phương
tiện truyền thông đại chúng bao gồm các loại như báo nói, báo hình, báo ảnh,
báo chữ đều có bước phát triển nhảy vọt. Hầu như ở thành phố nào, tỉnh nào
cũng có các đài truyền hình, đài phát thanh, báo đảng. Và các cơ quan thông
tấn địa phương bên cạnh những cái chung, xét riêng về mặt ngôn ngữ nó cũng
có những yêu cầu riêng ví dụ như đáp ứng cho một bộ phận công chúng trên
một địa bàn cụ thể. Và như vậy, liệu các phương ngữ địa lý, các phương ngữ
xã hội có vai trò gì trong việc chuyển tải thông tin, chuyển tải các đường lối
chính sách của nhà nước đến với người dân.
Khác với tiếng Hán hiện đại, phương ngữ địa lý và phương ngữ xã hội
khác biệt nhau rất lớn thậm chí phải dùng bút đàm, tiếng Việt đang tồn tại
dưới dạng các phương ngữ và ít nhất theo một quan niệm phổ biến, tiếng Việt
có 3 phương ngữ: phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam.
Giữa chúng ít nhiều có sự khác biệt, rõ nhất là về mặt ngữ âm và một ít là từ
vựng. Tuy nhiên, cư dân của 3 phương ngữ này có thể giao tiếp với nhau một
cách dễ dàng. Điều đó cho thấy rằng, tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất
trên thế đa dạng. Sự đa dạng gắn liền với các phương ngữ, liên quan đến vấn
đề ở đây là gắn liền với các cơ quan truyền thông ở địa phương. Và giữ gìn,
phát triển sự đa dạng của phương ngữ cũng như giữ gìn sự đa dạng sinh học,
sinh thái thiên nhiên.
Vậy liên quan đến chuẩn mực ngôn ngữ, việc xử lý các yếu tố phương ngữ
đối với một tờ báo, đối với các cơ quan thông tấn ở địa phương như thế nào?
- Phương ngữ Nam Bộ là một phương ngữ khá thống nhất, có thể dễ
2.2 Đặc trưng ngôn ngữ của một tờ báo nhìn khái quát có thể được thể
hiện ở mọi cấp độ ngôn ngữ dù tiếp cận từ trên xuống hay từ dưới lên. Tuy
nhiên, theo chúng tôi, các đơn vị sau đây: i) tiêu đề, đề dẫn, đoạn văn và văn
3
bản; ii) màu sắc địa phương là những thành tố có khả năng thể hiện rõ nhất. Ở
i), là những thực thể thuộc cấp độ ngôn ngữ, còn ở ii), là các biểu thức ngôn
từ thuộc về lời nói theo lý thuyết của Saussure.
2.3 Về mặt thể loại báo chí, xét từ góc độ ngôn ngữ học cũng như
truyền thông học, hiện nay có nhiều nghiên cứu rất khác nhau. Hệ thống thể
loại này nhiều hay ít là tùy thuộc vào quan niệm và các tiêu chí phân loại. Đó
là chưa kể có một khoảng cách rất lớn từ lý thuyết và việc vận dụng ngay ở
cách định danh ở các tòa soạn báo. Đây là một vấn đề hết sức lý thú nhưng
không phải là trọng tâm của luận văn. Để tiện làm việc, xuất phát từ cách định
danh của tòa soạn, ngữ liệu mà chúng tôi sưu tập gồm các thể loại sau đây:
- Tin tức
- Phóng sự
- Phỏng vấn
- Phản ánh, ghi nhanh
- Gương điển hình.
Bên trên, ngoài việc nhận diện 3 thể loại đầu là khá hạn hữu và phổ
biến, cách gọi tên các thể loại thuộc nhóm sau xuất phát từ tính quen dùng và
thực tiễn ở tòa soạn báo. Chúng tôi hiểu là, sự phân loại ở đây chỉ có tính chất
tương đối, chủ yếu là để tiện làm việc.
Chúng tôi cũng xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn là các văn
bản báo chí trên nhật báo Cần Thơ xuất bản từ đầu năm 2010 đến 9 – 2012.
3. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học: thống kê các đối tượng ( từ
ngữ, câu, văn bản các thể loại, v.v. ) và phân loại theo chủ điểm nghiên cứu,
từ đó tìm ra các quy luật, các mối liên hệ giữa các đối tượng.
5
- Phương pháp đối chiếu, so sánh: so sánh, đối chiếu các đơn vị cùng
loại; so sánh, đối chiếu cứ liệu ngôn ngữ trên báo Cần Thơ với một số báo
khác để tìm ra những tương đồng và khác biệt; từ đó các kết luận có được vừa
mang tính cụ thể vừa mang tính khái quát.
- Phương pháp phân tích cú pháp- ngữ nghĩa: là phương pháp đặc
trưng để nghiên cứu ngữ nghĩa, cấu trúc của các đối tượng đã thống kê ( các
yếu tố được đặt trong hệ thống và xem xét trên nhiều bình diện).
- Phương pháp mô hình hóa: để trình bày một cách có hệ thống; mô
hình các thể loại văn bản, cách tổ chức ngôn ngữ của từng thể loại và miêu tả
quan hệ của các đối tượng khảo sát ( qua các sơ đồ, bảng biểu).
Trong quá trình nghiên cứu, các thủ pháp, phương pháp được vận dụng, kết
hợp; tùy vào từng nội dung nghiên cứu, tùy vào từng đối tượng cụ thể mà sử
dụng chủ yếu một phương pháp thích hợp.
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lịch sử nghiên cứu phong cách học diễn ra trong một thời gian khá lâu
dài. Trong “Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt” của
Hữu Đạt (2000), tác giả chia ra hai giai đoạn trong lịch sử nghiên cứu phong
cách học: giai đoạn trước Ch.Bally và giai đoạn sau Ch.Bally. Giai đoạn truớc
Ch.Bally: trước khi các lý thuyết về ngôn ngữ học đại cương của
F.de.Saussuse ra đời, việc nghiên cứu phong cách học chưa có tính hệ thống,
chưa phải là một bộ môn khoa học thực sự vì nó chưa có được những phương
pháp nghiên cứu cụ thể. Thậm chí, ngay cả những đối tượng và nhiệm vụ
và phát triển ở nhiều nước như Liên Xô (cũ), Tiệp Khắc.
Trên đây là nội dung về lịch sử nghiên cứu phong cách học trên thế giới
mà Hữu Đạt đã trình bày trong công trình nghiên cứu của mình. Còn truyền
thống phong cách học ở Việt Nam cũng có một tiến trình phát triển riêng.
Trước những năm 60, bộ môn phong cách học ở Việt Nam chưa xuất hiện.
Trong khi đó trên bình diện thực tế, ta gặp không ít những lời hay ý đẹp nói
7
đến ý thức rèn luyện phong cách nói năng, giao tiếp, biểu hiện nét đẹp của
truyền thống văn hóa Việt Nam rất cần được nghiên cứu từ góc độ phong
cách học.
Từ sau năm 1960, môn phong cách học tiếng Việt được hình thành ở
Việt Nam (1964). Lúc đầu nó được gọi với cái tên “tu từ học”. Có thể xem
đây là bộ môn kế thừa những kết quả ban đầu của việc vận dụng các lý thuyết
về phong cách học của thế giới (chủ yếu của Liên Xô cũ) vào nghiên cứu thực
tiễn Việt Nam.
Trong công trình của mình, Hữu Đạt nêu ra những khái niệm cơ bản
trong nghiên cứu phong cách học, bao gồm: khái niệm phong cách và phong
cách học, phân biệt các hiện tượng đúng và hiện tượng chuẩn trong sử dụng
ngôn ngữ tiếng Việt (chuẩn ngữ âm, từ vựng, chính tả, ngữ pháp,…). Đặc biệt
tác giả đề cập đến cơ sở phân chia các phong cách chức năng. Theo tác giả,
tiếng Việt được chia làm 6 loại phong cách chức năng, mỗi loại lại chia ra ở
hai hình thức nói và viết. Cụ thể: phong cách sinh hoạt hàng ngày, phong cách
hành chính công vụ, phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong
cách báo chí, phong cách văn học nghệ thuật.
Ở “Phong cách học tiếng Việt” của tác giả Đinh Trọng Lạc (1997) và
“Phong cách học tiếng Việt” của Đinh Trọng Lạc (chủ biên, 1997) và Nguyễn
Thái Hòa thì phân chia ra: i) các phong cách chức năng gồm: các phong cách
phương ngữ học nói riêng. Những vấn đề trong giáo trình được trình bày một
cách mạch lạc, rõ ràng, dễ hiểu xoay quanh khái niệm phương ngữ học, đặc
trưng phương ngữ cũng như bước đường diễn tiến của các phương ngữ, được
xem xét trong thế đối lập giữa các phương ngữ với nhau cũng như giữa
phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân. Đặc biệt hơn cả, qua công trình nghiên
cứu này, người nghiên cứu luận văn hiểu thêm cái hay cái đẹp của tâm hồn
quê hương mỗi vùng miền chất chứa đằng sau ngôn từ mỗi phương ngữ, bởi
lẽ “phương ngữ là biểu hiện vật chất cụ thể” cho vốn văn hóa của người dân
9
bản xứ. Trên cơ sở lý luận mà giáo trình cung cấp, người viết ứng dụng vào
việc xem xét lý giải các văn bản báo chí trên nhật báo Cần Thơ để thấy được
bản sắc địa phương miền Tây thông qua các tác phẩm báo chí.
Ngoài ra, phải kể đến các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí,
các sách tham khảo nghiệp vụ, chuyên ngành báo chí, từ lý luận chung đến
từng thể loại riêng thuộc phong cách báo chí. Từ nền kiến thức này, người
nghiên cứu có một cái nhìn vừa bao quát vừa cụ thể, vừa khách quan vừa chủ
quan về vấn đề mình quyết định nghiên cứu. Có thể kể đến một số công trình
nghiên cứu dạng này như:
“Đi tìm bản sắc tiếng Việt” của Trịnh Sâm (2011), Nhà xuất bản Tuổi trẻ.
“Ngôn ngữ báo chí”, Vũ Quang Hào ( 2007 ), Nhà xuất bản Thông tấn.
“ Ngôn ngữ báo chí – Những vấn đề cơ bản”, Nguyễn Đức Dân (2007),
Nhà xuất bản Giáo dục.
“Tác phẩm báo chí ” của Trần Thế Thiệt ( 1995), Khoa báo chí – Học viện
chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh – Phân viện Báo chí và Tuyên truyền, Nhà
xuất bản Giáo dục Hà Nội.
“Biên tập ngôn ngữ sách và báo chí” của Nguyễn Trọng Báu (2002), Học
viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện báo chí và tuyên truyền,
chức năng của phương ngữ ( nhất là phương ngữ Nam bộ từ Ninh Thuận trở
vào), một phương ngữ tương đối thuần nhất về mặt ngôn ngữ lại được số
người sử dụng nhiều nhất đối với những phạm vi giao tiếp trên địa bàn, trong
đó có giao tiếp bằng báo chí.
5.2 Là một người công tác trong ngành báo chí, khi tiến hành đề tài
này, người viết trước hết xem đây là cơ hội để học tập, nâng cao trình độ về
mặt lý thuyết cũng như khả năng xử lý thực tiễn và thông qua những đúc kết,
những nhận xét cụ thể, hy vọng góp sức nhỏ bé của mình vào việc nâng cao
những công việc báo chí có tính chất bếp núc và gợi ra một số gợi ý tương đối
với những ai quan tâm đến đề tài.
11
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, bố cục của
luận văn chia làm 2 chương chính:
Chương 1: Giới thiệu về cơ sở lý thuyết chung, mang tính khái quát,
bao gồm: vùng đất và con người Cần Thơ, lịch sử báo Cần Thơ, đặc điểm
chung của ngôn ngữ báo chí, cách phân chia và nhận diện các thể loại thuộc
phong cách báo chí, đặc biệt là vai trò của phương ngữ trong giao tiếp xã hội
cũng như trong việc tạo bản sắc văn hóa vùng, miền cho từng địa phương.
Đây có thể coi là phần lý thuyết, tiền đề làm xuất phát điểm mà luận văn dựa
vào để tiếp tục khảo sát những vấn đề cụ thể ở chương tiếp theo.
Chương 2: Ngôn ngữ nhật báo Cần Thơ
Trình bày những kết quả nghiên cứu cụ thể trên cả hai bình diện ngôn
ngữ và lời nói trong đó đặc biệt chú ý là các nhân tố làm nét riêng về mặt
ngôn ngữ của nhật báo Cần Thơ.
13
1.1.2. Báo Cần Thơ
Phát huy truyền thống, thành tích báo chí Cách mạng trong các thời kỳ
đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ ngày tái lập
tỉnh Cần Thơ (1992), báo Cần Thơ được tách ra từ báo Hậu Giang cũ, trong
hoàn cảnh mới vẫn tiếp tục nỗ lực phấn đấu xây dựng lực lượng, từng bước
trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại, không ngừng cải tiến nâng cao chất
lượng tờ báo, tạo bước đi lên vững chắc.
Sau 7 năm (1992- 1999), phấn đấu xây dựng và phát triển, báo Cần Thơ
luôn giữ vững tôn chỉ mục đích tờ báo của cơ quan ngôn luận của đảng bộ và
diễn đàn của nhân dân địa phương. Báo Cần Thơ bám sát sự chỉ đạo và định
hướng tuyên truyền của Đảng, các quy định của nhà nước, không ngừng cải
tiến nội dung, cách tân hình thức, thông tin kịp thời các sự kiện chính trị quan
trọng, phản ánh trung thực, sinh động mọi lĩnh vực đời sống xã hội, những
tiềm lực của quê hương đất nước trong những năm đổi mới.
Từ chỗ kế thừa báo Hậu Giang (cũ) định kỳ xuất bản 2 số/ tuần, 8 trang/ khổ
30 x40 cm, đến tháng 4 năm 1996, báo Cần Thơ tăng lên 3 số/ tuần, tháng 8
năm 1997 cả 3 kỳ báo trong tuần tăng từ 8 trang lên 12 trang và từ tháng 1
năm 1999 tăng thêm kỳ chủ nhật, 16 trang in 4 màu. Số lượng ấn bản phát
hành ngày càng tăng lên. Hiện nay báo Cần Thơ là món ăn tinh thần không
chỉ của cán bộ, công nhân viên chức mà còn của nhân dân địa phương.
Cùng với việc chăm lo xây dựng phát triển đội ngũ, báo Cần Thơ từng
bước đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật nhằm đáp ứng tốt nhất
việc chuyển tải thông tin, đường lối chính sách của Đảng, của Nhà nước đến
với đông đảo bạn đọc.
Đi đôi với việc tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng các kỳ báo Cần
Thơ, kể từ ngày 01-01-2001, báo Cần Thơ trở thành nhật báo.
15
bao gồm hai loại là phong cách chức năng của hoạt động lời nói và phong
cách hoạt động nghệ thuật đối lập với phong cách ngôn ngữ phi nghệ thuật.
Các phong cách chức năng của hoạt động lời nói trong tiếng Việt bao gồm:
phong cách hành chính, phong cách khoa học, phong cách báo, phong cách
chính luận và phong cách sinh hoạt.
Xét từ phương diện truyền thông tác giả Vũ Quang Hào cho rằng không
có sự phân biệt một phong cách báo chí riêng biệt, trong thế đối lập với các
phong cách chức năng khác của hệ thống tiếng Việt. Theo ông, báo chí
thường sử dụng ba phong cách chủ yếu là: phong cách chính luận, phong cách
khoa học và phong cách hành chính.
Quan niệm của tác giả Hữu Đạt (2000) trong công trình nghiên cứu
“Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt” thì đứng từ một
góc độ khác để phân chia các phong cách chức năng tiếng Việt. Hữu Đạt chia
tiếng Việt ra làm sáu phong cách chức năng theo cách nhìn từ trong ra ngoài,
bao gồm: phong cách sinh hoạt hằng ngày, phong cách hành chính công vụ,
phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí, phong cách
văn học - nghệ thuật. Trong đó, mỗi phong cách lại có hai dạng nói và viết.
Song song đó, cũng từ công trình nghiên cứu này, theo cách nhìn từ ngoài vào
Hữu Đạt lại phân chia tiếng Việt thành hai thế đối lập, bao gồm: phong cách
khẩu ngữ toàn dân và phong cách văn chương (còn gọi là phong cách gọt
giũa). Trong phong cách văn chương lại phân ra các phong cách: phong cách
hành chính công vụ, phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong
cách báo chí, phong cách văn học nghệ thuật.
Có sự khác biệt đáng chú ý trong hai cách phân chia vừa nêu trên. Ở
cách phân chia thứ nhất, nói và viết chỉ coi là các dạng biểu hiện của phong
cách chức năng. Tuy nhiên, ở cách phân chia thứ hai, nói và viết được quan
Tác giả Cù Đình Tú ( 1982) thì quan niệm chuẩn mực ngôn ngữ là hệ
thống các phương tiện liên kết biểu hiện tốt nhất, hợp lý nhất, được mọi người
17
thừa nhận, sử dụng để phục vụ cho sự giao tiếp xã hội trong thời kỳ nhất định.
Cù Đình Tú còn nhấn mạnh, hệ thống các phương tiện ngôn ngữ bao giờ cũng
tồn tại dưới dạng các biến thể. Mỗi biến thể tương ứng với một chức năng
giao tiếp nhất định, đúng trong phạm vi giao tiếp này nhưng có thể sai trong
phạm vi giao tiếp khác. Cái được công nhận là chuẩn mực trong phong cách
chức năng ngôn ngữ này chưa hẳn đã được chấp nhận ở phong cách chức
năng ngôn ngữ kia. [93, tr.62]. Tác giả Cù Đình Tú này cũng đề cập, đối với
các biến thể ngôn ngữ, chuẩn mực ngôn ngữ chỉ thừa nhận hoặc phủ định chứ
không giải quyết vấn đề lựa chọn biến thể để sử dụng trong các phong cách
chức năng ngôn ngữ.
Song song với khái niệm chuẩn mực trong ngôn ngữ, người ta thường
nhắc đến hiện tượng lệch chuẩn. Đó là những hiện tượng ngôn ngữ không phù
hợp với thói quen sử dụng ngôn ngữ và đi khỏi cảm thức ngôn ngữ của cộng
đồng [93, tr.21]. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, một số hiện tượng ngôn ngữ
mới nảy sinh, ban đầu, chúng được coi là lệch chuẩn, nhưng được cộng đồng
sử dụng thường xuyên và chấp nhận, dần dần những hiện tượng đó sẽ tham
gia vào chuẩn. Ta thường bắt gặp hiện tượng lệch chuẩn trong các sáng tác
văn chương, trong tác phẩm báo. Đặc biệt, báo chí là lĩnh vực tiên phong
trong việc sử dụng các hiện tượng lệch chuẩn trong ngôn ngữ.
Có thể phân chia các cấp độ của chuẩn ngôn ngữ gồm:
i) chuẩn ngữ âm,
ii) chuẩn từ vựng,
iii) chuẩn chính tả
iiii) chuẩn ngữ pháp.
cái tiếng Việt vốn được mượn từ hệ thống chữ cái tiếng Latin dùng để ghi âm,
mặt khác, mối quan hệ giữa âm và chữ vốn là mối quan hệ không ổn định
trong lịch sử. Sự thay đổi tương đối nhanh cách phát âm một số phụ âm đã tạo
nên những khó khăn nhất định trong việc phân biệt chính tả. Do đó, xây dựng
19
chuẩn chính tả đã và đang là vấn đề đặt ra. [21, tr.26].
iiii) Chuẩn ngữ pháp: Là toàn bộ những quy tắc quy định cho việc tổ
chức câu trong quá trình giao tiếp. Bộ quy tắc này ở mỗi ngôn ngữ đều có
những nét riêng ngoài những nét chung mang tính phổ quát.
1.2.2.2. Chuẩn phong cách ngôn ngữ báo chí
Bên cạnh khái niệm chuẩn ngôn ngữ, chuẩn phong cách cũng là vấn đề
thời sự được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu.
Trong nhiệm vụ của mình, phong cách học một mặt phải chỉ ra khả năng và
hiệu lực biểu đạt của từng loại phương tiện ngôn ngữ trong các phong cách
chức năng ngôn ngữ, mặt khác phải chỉ ra ở một phong cách chức năng nhất
định thì sử dụng các phương tiện ngôn ngữ như thế nào là hợp lý, là có hiệu
lực. Do đó phong cách học có mối quan hệ mật thiết với vấn đề xây dựng
chuẩn mực ngôn ngữ trong đó có chuẩn mực phong cách.
Theo tác giả Cù Đình Tú ( 1994), chuẩn mực phong cách là toàn bộ
những quy ước, chỉ dẫn về tính hợp lý, tính đúng chỗ của việc sử dụng các
phương tiện ngôn ngữ phù hợp với yêu cầu của mỗi phong cách chức năng
ngôn ngữ.
Nhắc đến chuẩn mực phong cách là nói đến màu sắc phong cách. Màu
sắc phong cách là khái niệm gắn với phong cách chức năng ngôn ngữ, được
thể hiện qua những đặc trưng chung về việc dùng từ, đặt câu ở từng phong
cách chức năng cụ thể. Màu sắc phong cách là cái có tính chất ổn định tương
đối và có tính chất thông dụng, là tập hợp những đặc điểm mang tính khác
Người nhận
Tiếp xúc
Mã
Và tương ứng với 6 yếu tố này, chúng ta có 6 chức năng ngôn ngữ khác
nhau: chức năng biểu hiện (gắn với người gửi), chức năng thi ca (gắn với
thông điệp), chức năng tác động (gắn với người nhận), chức năng nhận thức
(gắn với quy chiếu), chức năng siêu ngôn ngữ (gắn với mã) và chức năng đưa
đẩy (gắn với yếu tố tiếp xúc). Xem hình sau: