ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THÚY ANH ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ CỦA PANTUN
TIẾNG MELAYU CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
MÃ SỐ: 62 22 01 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
7
Chương 1
TỔNG QUAN PANTUN TIẾNG MELAYU
VÀ KHÁI QUÁT LÝ THUYẾT TIẾNG MELAYU 9
1. Tổng quan pantun tiếng Melayu
9
1.1. Khái niệm pantun
9
1.1.1.Nguồn gốc của từ pantun
9
1.1.2. Quan niệm về pantun
10
1.2. Vị trí của pantun trong văn học truyền thống Malaysia
11
1.2.1. Pantun trong hệ thống thể loại văn học
11
1.2.2. Pantun trong văn học viết
14
1.3. Phân loại pantun
16
1.3.1. Phân loại theo cấu tạo
16
1.3.2. Phân loại theo đối tượng độc giả
18
1.3.3. Phân loại theo chủ đề
19
1.3.4. Phân loại của luận án
37
3.1. Cách tiếp cận pantun từ trước tới nay
37
3.1.1. Cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu Malaysia
38
3.1.1.1. Cách tiếp cận theo góc độ ngôn ngữ
38
3.1.1.2. Cách tiếp cận theo góc độ văn học
39
3.1.1.3. Cách tiếp cận theo góc độ văn hoá
39
3.1.2. Cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu phương Tây
40
3.1.3. Cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu Việt Nam
41
3.2. Cách tiếp cận của luận án
41
4. Tiểu kết
43
Chương 2.
ĐẶC TRƯNG NGỮ ÂM CỦA PANTUN TIẾNG MELAYU
45
1. Nhịp điệu
45
1.1. Quan niệm nhịp điệu
45
1.2. Các yếu tố cấu thành nhịp điệu
47
2.2.1. Vần chân
70
2.2.2. Vần lưng
71
2.3. Giá trị của vần
71
2.3.1. Giá trị liên kết của vần
72
2.3.2. Giá trị hoà âm của vần
77
2.4. Nhận xét
87
3. Tiểu kết
88
Chương 3
ĐẶC TRƯNG TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA
CỦA PANTUN TIẾNG MELAYU 91
1. Từ phái sinh
91
1.1. Quan niệm từ phái sinh
91
1.2. Phân loại
91
1.2.1. Từ phái sinh danh từ
92
1.2.2. Từ phái sinh động từ
99
2.3.1. Từ láy đầu dòng
100
2.3.2. Từ láy giữa dòng
101
2.3.3. Từ láy cuối dòng
102
2.4. Giá trị của từ láy
103
2.4.1. Giá trị hoà âm của từ láy
103
2.4.2. Giá trị gợi tả của từ láy
109
2.4.2.1. Giá trị tượng thanh
109
2.4.2.2. Giá trị tạo hình
110
a. Từ láy với việc miêu tả ngoại cảnh
111
b. Từ láy với việc miêu tả con người
113
2.4.3. Giá trị biểu cảm
116
2.5. Nhận xét
118
3. Từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa trong pantun Melayu
119
3.1. Từ đồng nghĩa
119
3.1.1. Quan niệm từ đồng nghĩa
1.1. Quan niệm phép tỉnh lược
138
1.2. Phân loại phát ngôn tỉnh lược
138
1.2.1. Tỉnh lược đồng sở chỉ
139
1.2.2. Tỉnh lược chủ ngữ chuyển tiếp theo lối móc xích
139
1.2.3. Tỉnh lược chủ ngữ hiểu ngầm
140
1.3. Giá trị của phép tỉnh lược
140
1.3.1. Giá trị tạo mạch lạc của phép tỉnh lược
140
1.3.1.1. Sự thống nhất về đề tài và chủ đề
141
1.3.1.2. Tính hợp lí logic của sự triển khai mệnh đề
142
1.3.1.3. Trình tự hợp lí logic giữa các mệnh đề
143
1.3.2. Giá trị hàm ẩn của phép tỉnh lược
145
1.3.3. Giá trị liên kết của phép tỉnh lược
149
1.4. Nhận xét
153
2. Đảo ngữ
153
2.1. Quan niệm đảo ngữ
153
2.3.2.1. Tiêu điểm thông báo là vị ngữ đảo
164
2.3.2.2. Tiêu điểm thông báo là bổ ngữ đảo
165
2.3.2.3. Tiêu điểm thông báo là trạng ngữ đảo
167
2.4. Nhận xét
168
3. Câu bị động
168
3.1. Quan niệm câu bị động
168
3.2. Giá trị câu bị động
171
3.2.1. Giá trị nhấn mạnh của câu bị động
171
3.2.2. Giá trị liên kết của câu bị động
174
3.3. Nhận xét
174
4. Sóng đôi cú pháp
175
4.1. Khái niệm
175
4.2. Phân loại
175
4.2.1.Xét về mặt ngữ pháp
175
4.2.1.1. Sóng đôi đầy đủ
175
1
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
1.1. Khi nghiên cứu về văn hoá dân gian nói chung, văn học dân gian nói riêng, ở
các quốc gia hải đảo Đông Nam Á (Malaysia, Indonesia, Bruney và Singapore),
người ta thường đặc biệt chú ý đến một loại hình văn học dân gian rất đặc biệt, đó
là pantun. Pantun có giá trị cao về mặt trí tuệ, tình cảm và nghệ thuật biểu hiện
tinh tế hiện thực cuộc sống, phản ánh sinh động nguyện vọng của người Melayu
về đời sống của mình.
1.2. Do đặc điểm nội dung và hình thức ngắn gọn, có vần dễ nhớ nên pantun luôn
được người Melayu vận dụng, truyền miệng qua nhiều thế hệ.Vẻ đẹp của tiếng
Melayu đã được thể hiện rất rõ thông qua các đặc trưng ngôn ngữ trong pantun
Melayu. Đó là những viên ngọc chói ngời trong kho tàng văn hoá Melayu.
1.3.Trong bối cảnh Việt Nam là một thành viên của ASEAN và đang tích cực
tham gia hội nhập với khu vực nói riêng và thế giới nói chung, việc giảng dạy,
nghiên cứu ngôn ngữ, văn học và văn hoá các nước Đông Nam Á hải đảo ngày
càng cấp thiết, giúp cho sinh viên hiểu được ngôn ngữ và văn hoá các nước trong
khối ASEAN và góp phần giúp cho Việt Nam hội nhập nhanh hơn trong các tổ
chức của ASEAN.
1.4 Tính đến thời điểm này, ở Việt Nam chưa có một công trình nào nghiên cứu về
pantun Melayu. Xuất phát từ thực tế nói trên, luận án của chúng tôi “Đặc trưng
ngôn ngữ của pantun tiếng Melayu” nhắm đến việc nghiên cứu để có hiểu biết
sâu hơn về pantun Melayu và tiếng Melayu nói riêng, cũng như văn hoá dân tộc
Melayu nói chung.
Những điều trình bày trên đây là một số lý do chính khiến chúng tôi lựa
chọn “Đặc trưng ngôn ngữ của pantun tiếng Melayu” làm đề tài nghiên cứu của
3
pantun tình yêu, pantun nghề nghiệp, pantun vui nhộn và pantun răn khuyên luân
lý hiện đại và giới thiệu sơ lược về một vài đặc điểm của pantun so với các thể loại
thơ truyền thống khác ở Inđônêxia.
Trong thời gian đi sưu tập tư liệu liên quan tới pantun ở Malaysia, chúng
tôi đã thu thập được trên 30 công trình nghiên cứu về pantun Melayu của các nhà
nghiên cứu Malaysia và phương Tây. Vì khuôn khổ hạn hẹp của luận án chúng tôi
chỉ xin nêu một số công trình tiêu biểu nhất:
1. Francoils-Rene Dailie (1990) có cuốn “ Alam pantun Melayu- Study on the
Malay pantun”, (Thế giới pantun Melayu- Nghiên cứu pantun Melayu) xuất bản
năm 1990. Francoil – Rene Dailie tổng hợp một số quan điểm của các nhà nghiên
cứu pantun liên quan tới phân loại pantun, tiết tấu và tính nhạc trong pantun .
Bên cạnh đó Francoils chỉ rõ phần gợi ý thường sử dụng những từ ngữ liên quan
tới cuộc sống vật chất hàng ngày và môi trường của người Melayu; phần biểu đạt
nghĩa có mối liên hệ gần gũi với cộng đồng, xã hội và đời sống tinh thần của
người Melayu. Nói chung, cuốn sách của Francoils – Rene Dailie đem lại nhiều
thông tin mới cho người đọc.
2. Omardin Haji Asha‟ari (1961) cho xuất bản công trình “Kajian pantun Melayu”
(Nghiên cứu pantun Melayu) , Melayu Publication, Singapore. Điểm đáng lưu ý
nhất của công trình nghiên cứu này tác giả muốn đề xuất các điều kiện để sáng tác
một bài pantun hay: phần gợi ý nên sử dụng những từ ngữ mang nét đẹp, vẽ nên
những bức tranh thiên nhiên; phần nghĩa chỉ những mục đích, suy nghĩ của con
người, đồng thời giữa phần gợi ý và phần nghĩa có sự đối ứng về âm thanh ở
những từ cuối dòng.
3. Mohamad Azmi AB.Rahman (1998) với bài viết “ Simbolism dalam pantun
cinta Melayu” ( Biểu tượng trong pantun tình yêu Melayu) giới thiệu các loại biểu
tượng được sử dụng trong pantun tình yêu: biểu tượng từ thế giới thực vật, biểu
tượng từ thế giới động vật, biểu tượng từ hiện tượng thiên nhiên và biểu tượng
Người nước ngoài, nhất là đối với người Việt Nam vốn rất khác biệt về
ngôn ngữ, do đó khó cảm nhận được cái hay cái đẹp của pantun, vì vậy chúng tôi
muốn áp dụng phong cách học để tiếp cận thể loại thú vị này. Theo chúng tôi,
phong cách học là một trong những cách tiếp cận thích hợp nhất cho thấy sự lựa
chọn ngôn ngữ bị chế định bởi tâm thức, tình cảm của người bản ngữ như thế nào.
3. Cái mới của luận án
Luận án nghiên cứu về đặc trưng ngôn ngữ của pantun tiếng Melayu là
công trình đầu tiên ở Việt Nam giới thiệu những đặc trưng quan trọng nhất của
tiếng Melayu về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, cũng như giới thiệu một cách toàn
diện về thể loại thơ patun.
Luận án đã áp dụng cách tiếp cận ngôn ngữ học để tiếp cận một thể loại
văn học dân gian tiếng Melayu, qua đó thấy được những đặc điểm về văn hoá, về
nhận thức, về tình cảm của người Melayu. Trong khi đó, các công trình nghiên
cứu pantun trước đây đều phân tích pantun theo từng mảng riêng biệt chưa gắn kết
được sự phân tích các yếu tố ngôn ngữ được lựa chọn trong pantun với tâm thức
của người Melayu.
Điểm quan trọng nhất, luận án là công trình đầu tiên miêu tả những cái hay
cái đẹp của tiếng Melayu được thể hiện trong pantun thông qua những phương tiện
tu từ về ngữ âm, từ vựng- ngữ nghĩa, ngữ pháp.
4. Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Như tên gọi của luận án, đối tượng nghiên cứu của luận án là ngôn ngữ
trong pantun Melayu, hay nói cách khác là tiếng Melayu trong pantun.
4 2 Phạm vi của đối tượng nghiên cứu:
- Về không gian: Pantun Melayu tồn tại ở những nơi có người Melayu sinh sống,
vì vậy, xét về mặt không gian, luận án sẽ nghiên cứu pantun ở những vùng thuộc
Đông Nam Á hải đảo, nơi có người nói tiếng Melayu sinh sống.
6
- Về thời gian: Pantun ra đời từ rất lâu, vì vậy đối tượng khảo sát của luận án là tất
Để đạt được mục đích và ý nghĩa khoa học nêu trên, luận án đề ra một số
nhiệm vụ khoa học như sau:
- Chỉ rõ và phân tích đặc trưng ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp của pantun tiếng
Melayu; sự khác biệt đặc trưng ngôn ngữ pantun với các thể loại thơ dân gian
khác.
- Phân tích các giá trị biểu đạt của nhịp điệu, vần, từ phái sinh, từ láy, từ đồng
nghĩa, từ trái nghĩa, phép tỉnh lược, đảo ngữ, cách dùng câu bị động và sóng đôi cú
pháp của pantun tiếng Melayu.
6. Phương pháp nghiên cứu
Như trên đã trình bày, tư liệu khảo sát của luận án gồm những bài pantun
đã được sưu tầm và được tập hợp lại trong cuốn “ Tuyển tập pantun Melayu”, vì
vậy để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu của luận án, chúng tôi phân tích
pantun từ cách tiếp cận phong cách học, theo đó, phương pháp miêu tả được tiến
hành cụ thể qua các thao tác sau:
- Bước thứ nhất, để phân tích pantun theo phong cách học chúng tôi xác
định các đặc trưng ngữ âm, từ vựng – ngữ nghĩa và ngữ pháp nổi bật dựa trên mối
quan hệ tường minh trong pantun, quan hệ ngữ đoạn theo từng cấp độ.
- Bước thứ hai chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu dựa trên
những mối quan hệ hàm ẩn gồm quan hệ trên trục lựa chọn và quan hệ liên văn
bản, để khu biệt giá trị của các hình thức lựa chọn (ngữ âm , từ vựng – ngữ nghĩa
và ngữ pháp) xuất hiện trong pantun.
- Bước thứ ba , trên cơ sở khu biệt giá trị các hình thức lựa chọn, chúng tôi
đánh giá về đặc trưng, giá trị của các hình thức ngữ âm, từ vựng – ngữ nghĩa và
ngữ pháp đã được hiện thực hoá trong pantun.
Cách phân tích phong cách học gắn liền với quá trình khảo sát, thống kê,
8
nhận diện và hệ thống hoá, phân loại đặc trưng ngôn ngữ của pantun tiếng
Melayu. Phương pháp này được sử dụng để xác định màu sắc tu từ, hiệu quả tu từ
tức nhận diện giá trị phong cách của những đặc trưng ngôn ngữ Melayu được thể
Chương 1
TỔNG QUAN PANTUN TIẾNG MELAYU
VÀ KHÁI QUÁT LÝ THUYẾT TIẾNG MELAYU
1. Tổng quan pantun tiếng Melayu
1.1 Khái niệm pantun
1.1.1 Nguồn gốc của từ pantun
Các nhà nghiên cứu tiếng Melayu đều nhất trí cho rằng âm tiết đầu /pan/
trong từ “pantun” bắt nguồn từ từ “pandai” (thông minh).
Còn âm tiết thứ hai “tun, các nhà nghiên cứu vẫn chưa có lời giải đáp chính
thức về nguồn gốc của nó. Khi nghiên cứu các ngôn ngữ Austronesia, Brandsteter
cho rằng từ gốc “tun” của từ “pantun Sunda”(nằm trong nhánh các ngôn ngữ đảo
Jawa và các đảo xung quanh nó), xuất phát từ từ “ tuntun” có nghĩa “gọn gàng”.
Nhưng một số nhà nghiên cứu khác cho rằng nó bắt nguồn từ “ tonton” trong
ngôn ngữ Tagalog (tiếng Philipin) với nghĩa “lời phát biểu có sắp xếp”. Khi
nghiên cứu tiếng Jawa cổ xuất hiện từ thế kỷ thứ IX, người ta thấy có từ “ tuntun”
với nghĩa “sợi chỉ”, từ “atuntun” với nghĩa “trật tự” và từ “matuntun” có nghĩa
“mơ ước”. Một loạt các ngôn ngữ khác nằm trong nhóm ngôn ngữ Austronesia
đều có những từ chứa âm tiết “tun” như từ “tutun” (tiếng Pampangang) với nghĩa
“gọn gàng”, từ “panton” (tiếng Bisaya) có nghĩa “giáo dục”, từ “pantun” (tiếng
Toba) có nghĩa “lịch sự và kính trọng”.
Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng “pantun” có trong tiếng Melayu
Minangkabau xuất phát từ từ “panutun” (penuntun), từ này có trong câu chuyện
truyền miệng của người Minangkabau.
Như vậy, từ “pantun” trong các ngôn ngữ Austronesia chỉ một cái gì đó có
trật tự, nó có thể chỉ sự vật hay sự việc cụ thể hay trừu tượng. Nói chung, có thể
10
hiểu “ pantun” là việc tạo ra một ý nghĩa theo cấu trúc hay là sự sắp xếp tài tình
11
Baigai ikan di dalam belat.
Như cá nằm trong bẫy. [915;167]
Tóm lại, một cách khái quát ta có thể hiểu rằng “ pantun” là một thể loại
thơ dân gian của cộng đồng Melayu
1.2. Vị trí của pantun trong văn học truyền thống Malaysia
1.2.1 Pantun trong hệ thống thể loại văn học
Trước khi người Ấn Độ đặt chân tới quần đảo từ những thế kỷ trước Công
nguyên, Malaysia có một nền văn hoá tinh thần chủ yếu là folklore. Đời sống văn
học, sinh hoạt văn học thời kỳ ấy chỉ tồn tại dưới hình thức truyền miệng. Những
thần thoại nguyên sơ ra đời, phản ánh những quan niệm về vũ trụ, những cách lý
giải về thiên nhiên, về tổ tiên người Malaysia. Tất cả những câu chuyện thần thoại
đều quyện chặt với tín ngưỡng đa thần giáo, thể hiện thế giới quan, phong tục cổ
xưa của người Malaysia
Tiếp nối thần thoại và truyền thuyết, truyện cổ dần dần xuất hiện, rồi đến
wayang (rối bóng) v.v Một thể loại folklore độc đáo đã xuất hiện muộn hơn ở
Malaysia, đó chính là pantun. Pantun được sáng tác dưới hình thức “thơ”, được
truyền khẩu và được ghi chép lại. Tất cả mọi tính ưu việt của ngôn ngữ, tính “thơ”
được kết tinh trong thể loại pantun. Pantun là hình thái hoàn hảo nhất, đồng thời là
hình thái phổ biến nhất trong văn học của Malaysia. Sau pantun trong nền văn học
Malaysia còn xuất hiện một số loại thơ truyền thống khác. Theo Mohd Taib
Osman [1978] thơ truyền thống Melayu được chia thành năm loại chủ yếu là
pantun, syair, gurindam, seloka và, teromba và mantera. Trong đó, pantun có đặc
điểm nổi trội hơn so với các thể loại thơ truyền thống khác. [201; 7].
Pantun được phân biệt với các thể thơ dân gian khác bởi nội dung và hình
thức nghệ thuật chặt chẽ và độc đáo, nó được biểu hiện ở những điểm sau đây:
- Một bài pantun gồm những khổ thơ khác nhau, trong mỗi khổ có từng cặp 2, 4,
6, 8, 10 và lên tới 16 dòng, nhưng nhiều nhất vẫn là loại bốn dòng như thơ tứ tuyệt
của Việt Nam.
Hãy trồng chuối không có hoa
Tôi như một con khỉ đen
13
Di mana ranting di situ bergantung
Nơi nào có cành nơi đó treo được.
Khác với pantun, guridam và seloka tự do hơn về hình thức có vần hoặc
không có vần. Nội dung của chúng hẹp hơn pantun và không bị ràng buộc về cấu
trúc vần (niêm luật).
Khi phân tích thơ truyền thống, thể loại gurindam gần giống với pantun hai
dòng, nhưng câu hỏi đứng ở vị trí câu đầu tiên và câu trả lời được đặt ở câu thứ
hai; nhưng không chia thành phần gợi ý và phần nghĩa. Nội dung bài gurindam
chứa đựng lời khuyên, răn dạy và chân lý; về hình thức thơ gurindam có hai loại:
có vần (thường có 5 đến 6 từ trong một dòngvà hiệp vần theo kiểu a-a) hoặc
không có vần (các từ cuối dòng không cần hiệp vần với nhau).
Gurindam
Kelebihan nabi dengan mukjizat
Kelebihan umat dengan muafakat
Bulat air kerana pembetung
Bulat manusia kerana muafakat
Air melurut dengan bandarnya
Benar melurut dengan muafakatnya
Nhiều giáo chủ phi thường
Nhiều giáo chủ nhất trí
Nước tròn vì ống
Con người đồng lòng vì nhất trí
Nước trôi khỏi thành
Sự thật rời khỏi đồng thuận,
Mantera được sáng tác giống như một lời kêu gọi, lời nhắc nhở tôn thờ sức
mạnh thần kỳ của thánh Allah và Rasul và được sử dụng trong các nghi lễ, chữa
bệnh và thờ cúng. Về hình thức mantera bao gồm các dòng nối tiếp nhau về ý
tưởng với độ dài khác nhau, số lượng từ không như nhau, có vần hoặc không có
vần.
Mantera
Pertama angin si carik kapan
Kedua angin si tajam tembeling
Ketiga angin puting beliung
Keempat angin bedil berjanggut
Kelima angin payung Ali
Keenam angin si lautan tulang
Ketujuh angin si hampar rebah.
Thứ nhất gió xé rách vải
Thứ hai gió mạnh
Thứ ba gió xoáy
Thứ tư gió nhanh như bắn
Thứ năm gió ô Ali
Thứ sáu gió đại dương
Thứ bảy gió căng ra đổ xuống
Những đặc điểm nêu trên càng khẳng định vị trí đặc biệt, độc lập của
pantun trong hệ thống thể loại thơ truyền thống. Nếu so sánh với các thể loại khác,
pantun rất độc đáo và khác biệt. Trong văn học dân gian Malaysia, pantun luôn
luôn là một hình thái độc lập riêng biệt, một hình thái thơ ca có quy tắc chặt chẽ.
15
Chính vì vậy mà Hamilton đã nhận xét như sau: “Mỗi bài pantun là một thực thể
đứng riêng một mình”. [201;tr.9].
1.2.2 Pantun trong văn học viết
được phổ nhạc, trở thành những bài hát truyền thống của cộng đồng Melayu.
Như vậy, pantun là một thể loại văn học độc đáo, nó góp phần làm nên
truyền thống và bản sắc văn hoá Melayu. Pantun chứa đựng tính cách và trí tuệ
người Melayu. Qua kho tàng pantun có thể tìm hiểu được nhiều khía cạnh cuộc
sống xã hội Melayu truyền thống. Ví dụ:
- Tổ tiên người Melayu có nguồn gốc từ núi Merapi (Indonesia):
Dari mana nenek moyang kita,
Dari lereng Gunung Merapi.
Tổ tiên chúng ta từ đâu.
Từ sườn núi Merapi. [30;46]
- Trầu, cau là đồ sính lễ trong đám hỏi, đám cưới:
Gadis orang jangan diganggu,
Kalau hendak masuklah pinang,
Supaya diri tidak terhela.
Đừng trêu ghẹo con gái,
Nếu muốn đem cau tới,
Để không bị đuổi đi. [1584;261]
1.3. Phân loại pantun
Không dễ dàng khi làm công việc phân loại pantun, dưới đây chúng tôi xin
dẫn ra một số cách phân loại chính yếu đã được đề nghị.
1.3.1. Phân loại theo cấu tạo
Phân loại theo cấu tạo là cách phân loại dựa trên số dòng trong một bài
pantun. Theo cấu tạo, pantun được các nhà nghiên cứu chia ra làm các loại:
Pantun 2 dòng, Pantun 4 dòng, Pantun 6 dòng, Pantun 8 dòng, Pantun 10 dòng,
Pantun 12 dòng, Pantun 14 dòng, Pantun 16 dòng và Pantun kết nối.
Về vấn đề này, Za‟ba nhà ngôn ngữ học Malaysia, cho rằng ban đầu pantun
chỉ có hai dòng, sau đó phát triển trở thành những bài pantun nhiều dòng [201
;tr25].
Pantun có kết cấu với nhiều khổ được gọi là pantun kết nối hay pantun gắn
bó. Pantun kết nối gồm hai loại: kết nối hình thức và kết nối chủ đề. Những bài
Tidak seperti Raja Pahlawan.
Cây kepayang mọc trong khay,
Chim câu bay tới tận mây;
Tiếc thực sự vì đã mất tinh thần,
Không được như vua Pahlawan.
( Hikayat Inderaputera)
Các khổ pantun trên đều có liên quan nghĩa với nhau, chủ đề của từng khổ
đều nằm trong một trường nghĩa chung. Chẳng hạn ở chủ đề của bài pantun tên là
“người anh hùng”, các khổ của bài đều gián tiếp biểu hiện ý nghĩa liên quan đến
những hành động dũng cảm, cao cả.
Loại thứ hai pantun kết nối chủ đề, chẳng hạn như Pantun chim Kenek-
kenek. Ở đây con chim trở thành vật nối từ khổ pantun này đến khổ pantun khác.
Ví dụ dưới đây từ Anak ayam ( gà con) kết nối các khổ pantun lại với nhau.
18
Anak ayam turun tiga,
Mati seekor tinggal dua;
Cik Kelasi baharulah suka,
Bongkar sauh belayar semula.
Gà con rơi xuống ba
Chết một còn hai;
Cô Kelasi rất thích,
Mới nhổ neo rong buồm.
Anak ayam turun dua,
Mati seekor tinggal satu;
Bongkar sauh belayar semula,
Hendak menuju gedung batu.
Gà con rơi xuống hai,
Chết một con còn một;
đựng những suy nghĩ quá sâu, mà thay vào đó là thể hiện những cảm xúc bình
thường của lứa tuổi trẻ em. Loại pantun này được sử dụng đơn thuần với mục đích
giải trí cho trẻ em. Pantun câu đố cũng nằm trong nhóm này, chúng bao gồm
những bài pantun để hát ru ngủ trẻ con. Trong nhóm pantun trẻ em còn có cả
pantun hài hước gồm những pantun phản ánh sự vui mừng của trẻ con và đôi khi
còn có cả những bài pantun phản ánh tâm trạng buồn của trẻ.
So với pantun dành cho trẻ em, pantun dành cho thanh niên đa dạng hơn và
“có sức hút” hơn bởi những giá trị nghệ thuật và cảm xúc do chúng đem lại.
Người ta tìm thấy ở pantun dành cho thanh niên đủ loại tâm trạng của một lớp
người mới lớn: yêu thương, nhớ nhung, buồn bã, lo lắng, đau khổ, v.v
Loại pantun dành cho người già gồm những bài khuyên bảo, những bài liên
quan tới tôn giáo. Những bài pantun trong nhóm này phản ánh cách đối nhân xử
thế giữa con người với con người và với xã hội.
Tóm lại, cách phân loại theo độc giả là cách phân loại theo đối tượng người
đọc, một cách phân loại theo trường ý niệm con người nói chung xét về tuổi tác.
1.3.3. Phân loại theo chủ đề
Phân loại pantun theo chủ đề cũng có nhiều cách phân loại.
Van Ophuijsen chia pantun thành 5 phần theo loại :pantun người già,
pantun kinh doanh, pantun vui vẻ, pantun lời khuyên, pantun thanh niên.[189
;tr.162]. Pantun người già gồm những bài nói về phong tục tập quán, tôn giáo.
Pantun người trẻ gồm những bài nói về tình yêu.
Mohd. Taib Osman chia pantun thành bốn loại như sau: thành ngữ có vần
hoặc pantun hai dòng, trẻ em, thông thường, nối kết. Trong phần pantun thông