ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
--------------------
BÙI THỊ THU HUYỀN
CÂU ĐỐ DÂN GIAN CỦA NGƯỜI VIỆT
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Vietluanvanonline.com
Page 1
THÁI NGUYÊN - 2009
Vietluanvanonline.com
Page 2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ
PHẠM
--------------------
BÙI THỊ THU HUYỀN
CÂU ĐỐ DÂN GIAN CỦA NGƯỜI VIỆT
2. Lịch sử vấn đề...........................................................................................2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.......................................................... 4
3.1. Đối tượng nghiên cứu..........................................................................4
3.2. Phạm vi nghiên cứu.............................................................................4
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.................................................................5
4.1. Mục đích nghiên cứu........................................................................... 5
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu...........................................................................5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu........................................................................5
5.1. Phương pháp thống kê phân loại........................................................5
5.2. Phương pháp phân tích – tổng hợp.....................................................5
6. Đóng góp mới của luận văn.....................................................................5
7. Cấu trúc của luận văn..............................................................................6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN...................................................................7
1.1. KHÁI QUÁT VỀ CÂU ĐỐ DÂN GIAN................................................ 7
1.1.1. Khái niệm câu đố..............................................................................7
1.1.2. Phân loại câu đố............................................................................... 9
1.1.3. Hoàn cảnh sử dụng câu đố............................................................10
1.2. SƠ LƢỢC VỀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP TU TỪ................................... 11
1.2.1. Biện pháp tu từ nhân hoá..............................................................11
1.2.2. Biện pháp tu từ ẩn dụ.................................................................... 13
1.2.3. Biện pháp tu từ so sánh................................................................. 14
1.3. KHÁI QUÁT VỀ LÝ THUYẾT NGỮ DỤNG HỌC...........................15
1.3.1. Chiếu vật và các phƣơng thức chiếu vật......................................15
1.3.2. Hành vi ngôn ngữ...........................................................................18
1.3.3. Khái quát về hội thoại....................................................................20
1.3.4. Khái quát về lập luận.....................................................................22
1.3.5. Lý thuyết về tiền giả định..............................................................25
1.4. KẾT LUẬN CHƢƠNG.........................................................................27
1. Lí do chọn đề tài
1.1.
Câu đố là một thể loại của văn học dân
gian. Đã từ lâu, trong đời sống tinh thần của người lao
động, câu đố chiếm một vị trí đáng kể. Như mọi loại hình
dân gian, câu đố len vào từng nhà, đi vào tư duy của mọi
lứa tuổi, từ những em bé ngây thơ cho đến các cụ già đầu
bạc. Có thể nói, hoạt động đố - đáp được người lao động
hưởng ứng và trở nên phổ biến ở mọi vùng miền, nhất là ở
vùng nông thôn. Từ Bắc chí Nam, ai ai cùng biết vài ba
câu đố và không ít lần tham gia vào trò chơi đố giải.
1.2.
Câu đố có một vai trò đặc biệt quan trọng
trong đời sống xã hội. Đố - đáp không đơn thuần chỉ là
một trò chơi giải trí thông thường mà còn là một sân chơi
trí tuệ bổ ích bằng ngôn từ (chúng tôi nhấn mạnh chất trí
tuệ trong câu đố). Trên sân chơi ấy, người tham gia chơi
được mài sắc năng lực tư duy, óc phán đoán đồng thời
được rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ linh
hoạt trong mọi hoàn cảnh. Đặc biệt đối với trẻ em, câu đố là những một trong
những phương tiện đắc lực giúp trẻ có được một bộ não phát triển toàn diện.
Việc đưa câu đố đến cho trẻ là cách làm tốt để chúng có điều kiện phát triển
nhanh về trí tuệ.
1.3.
Câu đố có tác dụng sư phạm, giáo dục.
biết thế giới xung quanh trở thành một đòi hỏi thường ngày thì khi đó câu đố
ra đời.
Điểm lại tình hình nghiên cứu, tư liệu của chúng tôi cho thấy có khoảng
hơn 40 công trình nghiên cứu về câu đố, trong đó có 11 công trình mang tích
chất sưu tập, tuyển chọn và biên soạn lại tuỳ theo mục đích của người biên
soạn. Số còn lại là những công trình, những bài nghiên cứu về một góc nào đó
của câu đố.
Có thể kể ra dưới đây một số công trình sưu tập về câu đố tiêu biểu:
1) Câu đố Việt Nam (Thiên Lữ, Võ Hồng sưu tầm), Nxb Thanh Hoá, 2000.
2) Câu đố Việt Nam (Hồ Anh Thái biên soạn), Nxb Hải Phòng, 2004.
3)
Câu đố dân gian (Lữ Huy Nguyên, Trần Gia Linh, Nguyễn
Đình Chỉnh sưu tầm), Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 1989.
4)
Câu đố dân gian Việt Nam (Xuân Thu sưu tầm), Nxb
Thanh Niên, Hà Nội, 1998.
5) Câu đố Việt Nam (Ninh Viết Giao sưu tầm), Nxb Khoa học Xã hội, 1990.
6) Câu đố Việt Nam (Nguyễn Văn Trung biên soạn), Nxb Tp Hồ Chí Minh,
1986.
7) Câu đố người Việt (Triều Nguyên biên soạn), Nxb Thuận Hoá, 2007.
Trong số các công trình kể trên có ba công trình được chú ý nhiều hơn
cả là công trình của các tác giả Triều Nguyên, Nguyễn Văn Trung và Ninh
Viết Giao. Bên cạnh việc tập hợp một số lượng khá lớn câu đố, tác giả
là có chiều sâu hơn cả.
Tóm lại, tư liệu điều tra của chúng tôi cho thấy những công trình về câu
đố theo cách nhìn của ngôn ngữ học không nhiều. Đặc biệt, nghiên cứu câu
đố dưới ánh sáng của lý thuyết ngữ dụng học lại càng hiếm. Chọn đề tài này
để nghiên cứu, chúng tôi muốn hiểu thêm câu đố về các phương diện như
hình thức câu đố, căn cứ cũng như phương tiện xây dựng câu đố. Hy vọng kết
quả nghiên cứu sẽ đóng góp một phần bé nhỏ vào chặng đường nghiên cứu
một thể loại hấp dẫn của văn học dân gian.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là câu đố dân gian người Việt đã được
biên tập, tuyển chọn trong cuốn Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập 3)
của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, 2005 và cuốn
Câu đố Việt Nam của Nguyễn Văn Trung, Nxb TP HCM, 1986.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Từ góc nhìn của ngôn ngữ học, có thể nghiên cứu câu đố về nhiều
phương diện, song luận văn chỉ tập trung vào ba phương diện, đó là:
- Hình thức của câu đố
- Căn cứ xây dựng câu đố
- Phương thức xây dựng câu đố
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu câu đố về các phương diện trên, luận văn muốn làm rõ
thêm các kiểu câu đố xét từ phương diện hình thức và nội dung, đồng thời chỉ
ra những căn cứ cũng như phương thức xây dựng câu đố. Qua đó gián tiếp
giúp người đọc thấy được điều kiện để giải đáp câu đố đúng, chính xác.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài đặt ra một số nhiệm vụ cụ thể sau:
Khái quát về câu đố dân gian
1.2.
Sơ lược về một số biện pháp tu từ
1.3.
Khái quát lý thuyết ngữ dụng học
1.4.
Kết luận chương
Chƣơng 2: Câu đố dân gian ngƣời Việt nhìn từ bình diện hình thức
2.1. Câu đố xét theo thể loại văn bản
2.2. Câu đố xét theo lý thuyết cấu trúc hội thoại
2.3. Câu đố xét theo lý thuyết lập luận
2.4. Kết luận chương
Chƣơng 3: Một số căn cứ và phƣơng thức xây dựng câu đố dân gian
ngƣời Việt
3.1.Căn cứ xây dựng câu đố
3.1.1. Căn cứ vào tri thức ngôn ngữ
3.1.2. Căn cứ vào các tri thức nền khác
3.2. Phương thức xây dựng câu đố
3.2.1. Phương thức đánh lạc hướng chiếu vật
3.2.2. Phương thức thay thế - bổ sung
3.3. Kết luận chương
Kết luận
hiểu một nẻo)” [44,257]. Quan niệm này nhấn mạnh cách nói chệch trong câu
đố. Tác giả Triều Nguyên trong công trình nghiên cứu Câu đố người Việt của
mình lại chú ý đến mặt cấu tạo của câu đố. Ông đưa ra một cách nhìn về câu
đố như sau:“Câu đố là một thể loại văn học dân gian, gồm hai bộ phận, bộ
phận lời đố và bộ phận lời giải (vật đố); lời đố bằng văn vần, nhằm miêu tả
vật đố một cách xác thực, hợp lẽ nhưng làm cho lạ hoá để khó đoán nhận; lời
giải nêu tên vật đố, là những sự vật, hiện tượng phổ biến, ai cũng từng biết,
từng hay” [40,28] . Còn theo GS. Nguyễn Văn Trung [61], quan niệm về câu
đố của tác giả dựa trên hai mặt: mặt cấu tạo và mặt xã hội. Về mặt cấu tạo,
câu đố có cấu trúc của một đối thoại gồm hai phần: lời đố và lời giải. Lời đố
là một câu hỏi dưới hình thức: tên vật có những hình dáng, đặc điểm, công
dụng này hay tên vật giống như vật được nói ra là gì? Như vậy câu đố là một
định nghĩa, xét theo nội dung dựa trên khái niệm căn bản: tương tự .Về mặt xã
hội, câu đố là một cuộc chơi sử dụng đồ chơi là hình ảnh, từ và ý nghĩa, là
một chơi chữ nhằm mục đích giải trí tinh thần vui vẻ. Thay vì chỉ đưa ra một
định nghĩa, ông đề nghị đưa ra nhiều định nghĩa tuỳ theo phương diện nhìn
vấn đề hoặc nhiều chiều cạnh của đối tượng. Bởi theo ông những định nghĩa
này không nhằm bày tỏ thực chất hay yếu tính của câu đố vì bản chất hay yếu
tính của câu đố là siêu hình không ai kiểm nghiệm được. Cái có thể kiểm
nghiệm và quan sát được ở đây chỉ có thể là những sự mô tả yếu tố cấu tạo
của câu đố mà thôi.
1.1.1.2. Đặc điểm lời đố và vật đố
Có thể thấy các định nghĩa trên đều chú ý tới đặc điểm cấu tạo của câu
đố. Câu đố bao gồm hai bộ phận: lời đố và vật đố.
a) Lời đố
Lời đố nêu đặc điểm, thuộc tính hay phẩm chất của vật đố một cách
trực tiếp hoặc gián tiếp. Có lời đố miêu tả hình dáng của sự vật, ví dụ:
1.1.2.1. Câu đố trực tiếp
Câu đố trực tiếp là loại câu đố không sử dụng đến kỹ thuật so sánh, ẩn
dụ hay bất cứ một phương tiện tu từ nào khác ngoài việc miêu tả sự vật đúng
với những gì nó có. Chẳng hạn đố về cây rau sam:
(4) Lá xanh cành đỏ hoa vàng
Hạt đen, rễ trắng, đố chàng biết chi?
(Rau sam)[66,176]
Hay đố về trạng thái đang hoạt động của con chuồn chuồn:
(5) Con gì cánh mỏng đuôi dài
Lúc bay, lúc đậu cánh thời đều giương.
(Con chuồn chuồn)[66,275]
câu đố đều dùng phương pháp miêu tả trực tiếp.
b) Câu đố gián tiếp
Câu đố gián tiếp là câu đố sử dụng các kỹ thuật ví, so sánh, ẩn dụ trong
việc xây dựng hình ảnh đố của vật đố.
Ví dụ so sánh dùng các từ: như, là, bằng, vừa bằng…
(6) Vừa bằng lá tre, le the mặt nước.(Con
đỉa)[66, 261] So sánh không dùng từ: như, là, bằng…
Đây là những ẩn dụ:
(7) Bốn cột đình rinh tảng đá
Hai ông tướng tá đi trước vung
gươm Hai bà đi sau quạt hầu lia lịa.
(Con trâu)[66,247]
Có khi vừa ẩn dụ, vừa so sánh:
(8) Mình đen như quạ, da trắng như
bông Giữa thắt cổ bồng, đít đeo nồi
nước.
(Chõ xôi)[66,485]
Nhân hoá (còn gọi là nhân cách hoá) là một biến thể của ẩn dụ, trong
đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để
biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải con người, nhằm làm
cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn, đồng thời làm cho
người nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư, thái độ của mình [33,63].
Ví dụ (11):
Khăn thương nhớ
ai Khăn rơi xuống
đất? Khăn thương
nhớ ai Khăn vắt
trên vai?
(ca dao)
Khăn trong ngữ cảnh này là cái khăn có sở chỉ. Nhưng nó không còn là
một thứ hàng dệt thông thường, có hình dài hoặc vuông, dùng để lau chùi,
chít đầu, quàng cổ hay trải bàn mà nó đã được nhân hoá, đã có hồn, có tâm
thức, biết “thương nhớ”.
1.2.1.2. Hình thức cấu tạo
Về mặt hình thức, nhân hoá có thể được cấu tạo theo hai cách:
a) Dùng những từ chỉ tính chất, hoạt động của con
người để biểu thị tính chất, hoạt động của đối tượng không
phải con người.
Ví dụ (12):
Làn thu thuỷ nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
(Nguyễn Du)
“Ghen”,“hờn” là hai trạng thái cảm xúc của con người được chuyển
sang miêu tả thái độ, cảm xúc của hoa, liễu. Hoa, liễu được nhân cách hoá trở
thành những con người đang ganh tị với sắc đẹp của nàng Kiều.
đầu làng, chân trời, má phanh...
Ẩn dụ nhận thức nảy sinh do kết quả của việc làm biến chuyển khả
năng kết hợp của những từ chỉ dấu hiệu khi làm thay đổi ý nghĩa của chúng từ
cụ thể đến trừu tượng. Ví dụ: những tính từ như: lạnh lẽo, mơn mởn, vằng vặc
vốn có ý nghĩa cụ thể, thường kết hợp với các danh từ như: băng tuyết, cây
cối, vầng trăng, nay được ẩn dụ hoá dùng với ý nghĩa trừu tượng, và có khả
năng kết hợp với cả những danh từ như: tâm hồn (lạnh lẽo), tuổi xuân (mơn
mởn), tấm gương (vằng vặc).
Ẩn dụ hình tượng là nguồn sản sinh ra đồng nghĩa. Ví dụ hoa đồng
nghĩa với phụ nữ có nhan sắc. Trong ngôn ngữ văn chương, ẩn dụ là phương
thức bình giá riêng của cá nhân nhà văn.
b) Căn cứ vào đặc điểm ngữ pháp, có thể chia ẩn
dụ thành hai loại: ẩn dụ ngôn ngữ và ẩn dụ ngữ dụng.
Ẩn dụ ngôn ngữ là kiểu ẩn dụ được xây dựng trên những mối liên tưởng
khách quan vốn được phản ánh trong những dấu hiệu hàm chỉ.
Ví dụ (15): Biển có nghĩa là một vùng nước mặn rộng lớn nói chung
trên bề mặt trái đất. Do đó, bất cứ khối lượng to lớn trên một diện tích rộng
đều được coi là biển như biển lửa, biển lúa...
Ẩn dụ ngữ dụng là kiểu ẩn dụ được xây dựng dựa vào văn cảnh cụ thể.
Muốn hiểu được ẩn dụ ấy phải đặt trong khuôn khổ của câu hoặc cả văn bản.
1.2.3. Biện pháp tu từ so sánh
1.2.3.1. Khái niệm
“So sánh là đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan
không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó
nhằm diền tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng” [33,154].
Ví dụ (16):