LIÊN QUAN GIỮA KIẾN THỨC VÀ HÀNH VI CỦA ĐIỀU DƯỠNG VỀ KIỂM SOÁT NHIỄM TRÙNG BỆNH VIỆN - Pdf 32

LIÊN QUAN GIỮA KIẾN THỨC VÀ HÀNH VI CỦA ĐIỀU DƯỠNG VỀ
KIỂM SOÁT NHIỄM TRÙNG BỆNH VIỆN
Võ Văn Tân(1), Lê Thị Anh Thư(2), Nancy White(3)
Tóm tắt:
Nhiễm trùng bệnh viện mắc phải (NTBVMP) là vấn đề quan trọng trong
quản lý chất lượng chăm sóc và chi phí điều trị ở các quốc gia cũng như
Việt Nam.
Mục tiêu: Xác định mối quan hệ giữa kiến thức và hành vi thực hành
của điều dưỡng (ĐD) trong kiểm soát nhiễm trùng bệnh viện (KSNTBV).
Phương pháp: Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp cắt ngang mô
tả thông qua phỏng vấn 200 ĐD Nội và Ngoại khoa tại Bệnh viện Tiền Giang;
quan sát các cơ hội rửa tay, quy trình rửa tay, quy trình tiêm tĩnh mạch và quy
trình thông tiểu liên quan tới KSNTBV.
Kết quả: Kiến thức của ĐD về KSNTBV đạt 78,7%; hành vi của họ về
KSNTBV đạt 87,8%. Kết quả về kỹ năng thực hành của ĐD như: tuân thủ rửa
tay (56,7%), thực hiện đúng quy trình rửa tay thường quy (5%), các thao
tác vô khuẩn trong tiêm tĩnh mạch (9,1%) và thông tiểu liên quan đến
nguyên tắc vô trùng (10,6%). Kết quả nghiên cứu còn cho thấy có mối liên
quan tích cực và có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức và hành vi thực hành
của ĐD trong KSNTBV (r=0,7233; p
strengthen supervise nurses’ professtional skills are need to interest to health
managements and develop policies.
Key words: Nurse, Knowledge, Behavior, Infection Control.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm trùng bệnh viện mắc phải (NTBVMP) là vấn đề quan trọng trong
quản lý chất lượng chăm sóc và chi phí điều trị của bệnh viện (BV) cũng
như người bệnh ở các quốc gia. NTBVMP chiếm từ 5-10% số bệnh nhân
(BN) nằm viện, làm tăng tỉ lệ tử vong, kéo dài thời gian nằm viện, tăng sử
dụng kháng sinh, tăng đề kháng kháng sinh và chi phí điều trị. Theo ước
tính của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), có
khoảng 2,4 triệu trường hợp NTBVMP và gần 99.000 trường hợp tử vong
hàng năm ở Mỹ [9].
Theo CDC, nhiễm trùng BV lan truyền bằng nhiều đường như bề mặt
(đặc biệt là tay), nước, không khí, đường tiêu hóa và phẫu thuật. Nhiều
NTBVMP được gây ra bởi sự lan truyền từ BN này sang BN khác thông qua
nhân viên y tế (NVYT) [8]. Theo Haley, một phần ba NTBVMP có thể phòng
ngừa được. Vì vậy, cần có những biện pháp can thiệp thích hợp để giảm tỉ
lệ NTBVMP như ban hành những văn bản hướng dẫn [10], cung cấp kiến
thức cho NYVT và tăng cường giám sát nhằm tăng sự tuân thủ KSNT cũng
như làm tăng tỉ lệ thực hành KSNT trong BV [10, 14].
Tại Việt Nam, từ năm 1997, Bộ Y tế (BYT) đã ban hành “Quy chế
KSNTBV” nhưng vấn đề KSNTBV chưa được thực hiện một cách đầy đủ.
Một số điều tra cắt ngang (point prevalence) nghiên cứu về MKBVMP được
BYT thực hiện vào các năm 1998, 2001 và 2005 cho thấy tỉ lệ NKBV lần lượt
là 11,5%; 6,8% và 5,7% [1].

3


Hầu hết các nghiên cứu về KSNTBV ở Việt Nam đều tập trung xác định

vô trùng trong quy trình tiêm tĩnh mạch và quy trình thông tiểu.
Mẫu được chọn ngẫu nhiên từ danh sách ĐD đang làm việc tại các khoa
Nội và khoa Ngoại BV để đưa vào phỏng vấn trực tiếp và quan sát. Cở mẫu
được chọn dựa vào nghiên cứu thử trên 15 ĐD đang làm việc tại 14 khoa
(gồm 6 khoa Nội và 8 khoa Ngoại). Kết quả phân tích cho thấy mức độ kiến
thức chung của ĐD là 85% và tỉ lệ tuân thủ về hành vi của họ là 89%. Vì
thế, giá trị p được chọn cho nghiên cứu này là 85%; sai số cho phép là 5%.
Cỡ mẫu được chọn cho nghiên cứu là 200.
Dữ liệu được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp theo bộ câu hỏi
soạn sẵn. Sau đó quan sát kín đáo một số hoạt động chuyên môn của ĐD.
Các dữ liệu được phân tích và xử lý bằng phần mềm Stata 10.0. Giá trị
p
Ngoại khoa

76 (38,0)


Trình độ chuyên môn

Trung cấp

190 (95,0)

Đại học

10 (5,0)

(*) Dữ liệu được trình bày theo tần số và (%), ngoại trừ tuổi và thâm
niên. ĐLC = độ lệch chuẩn
Đa số đối tượng trong nghiên cứu này là nữ (88,5%); tuổi trung bình thì
trẻ (36,5 tuổi). ĐD có nhiều năm làm việc tại BV, trung bình 14,2 năm; gần
phân nửa ĐD (49%) có thâm niên công tác từ 16 năm trở lên, cho thấy họ
có nhiều kinh nghiệm nên rất thuận lợi trong việc hỗ trợ lẫn nhau trong
công tác chuyên môn. Gần 2/3 ĐD đang làm việc ở các khoa Nội (62%), còn
lại ở các khoa Ngoại. Hầu hết ĐD (95%) có trình độ trung cấp điều này phù
hợp với tình hình thực tế tại các BV tuyến tỉnh ở ViệtNam.
Kiến thức của ĐD về NTBVMP
Bảng 2. Kiến thức của ĐD về NTBVMP, (n=200)
Trung

Độ


2,8
2,0
4,4
3,1

0,90
0,79
0,44
0,47
0,0
1,26
0,73

1–5
2–5
1–3
1–3
2–2
1–7
0–4

84,8
76,0
92,7
92,3
100,0
62,9
76,3

Loại kiến thức

loại rác BV của ĐD thì hoàn toàn đúng (100%). Sở dĩ ĐD trả lời rất đúng
nội dung này là do đây là một trong những nội dung thuộc chương trình
huấn luyện và giám sát định kỳ của BV. Trong kiến thức thực hiện các biện
pháp thông thường để phòng ngừa cách ly nhằm ngăn ngừa NTBV chỉ
62,9% ĐD trả lới đúng. BV cần quan tâm vấn đề này khi huấn luyện cho ĐD.
Theo khuyến cáo của CDC, phòng ngừa chuẩn được áp dụng cho tất cả
các BN nội trú với mọi chẩn đoán [8]. Tuy nhiên, hơn một phần tư ĐD
(26,5%) đã trả lời không đúng nội dung này. Họ cho rằng, phòng ngừa
chuẩn chỉ áp dụng cho các BN nhiễm trùng với các vi sinh vật quan trọng
như HIV, SARS. Khái niệm “phòng ngừa chuẩn” được sử dụng ở hầu hết các

7


quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam, tuy nhiên, qua khảo sát chúng
tôi thấy cần phải nhấn mạnh thêm về khái niệm này trong chương trình
huấn luyện tại BV.
Kiến thức về tiệt khuẩn dụng cụ và quản lý nguy cơ của các ĐD thì khá
(76,3%). Cần lưu ý là kiến thức đúng về xử lý tai nạn nghề nghiệp của ĐD chỉ
đạt ở mức độ trung bình (56%). Điều này có thể là do ĐD ít quan tâm việc xử
lý tai nạn nghề nghiệp. Tuy nhiên, một giả thuyết khác có thể đưa ra là ĐD
không hiểu thấu đáo về xử lý tai nạn nghề nghiệp và họ đã không báo cáo khi
có tai nạn xảy ra. Một nghiên cứu của Hội ĐD Mỹ về “Khảo sát sức khỏe và an
toàn nghề nghiệp”, 70% ĐD cho biết họ “đã không có bất kỳ tai nạn bởi vật
sắc nhọn nào” hoặc “đã không nghĩ tai nạn là quan trọng” (16,4%), nhưng
6,3% ĐD đã không báo cáo tai nạn của họ [7]. Cần có nghiên cứu sâu hơn về
vấn đề này.
Hành vi của ĐD về KSNTBV
Hành vi của ĐD về thực hành KSNTBV
Bảng 3. Hành vi của ĐD về thực hành KSNTBV, (n=200)

0,9

đa
50 – 80
14 – 20
6 – 20
5 – 16
6 – 12
8 – 12

điểm số
87,8
94,0
81,9
80,9
92,1
96,8

tiệt khuẩn dụng cụ
Hành vi của ĐD được đánh giá thông qua phỏng vấn thái độ và thực
hành của họ liên quan đến các yếu tố như: thực hành rửa tay, phòng ngừa
cách ly, phòng hộ cá nhân, quản lý vật sắc nhọn, phân loại rác thải BV và
tiệt khuẩn dụng cụ; đồng thời quan sát các cơ hội rửa tay, thực hành rửa
8


tay, thực hành quy trình tiêm tĩnh và thông tiểu, những yếu tố này liên quan
đến tỉ lệ NTBVMP khi BN điều trị nội trú.
Vệ sinh tay được xem là cách đơn giản nhất để giảm sự lan truyền
bệnh [15]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, ĐD đã có thái độ tốt trong thực

thủ
rửa tay
găng cũ
nước
(%)
Tần số Tần số Tần số (%) Tần số (%) chung
(%)
(%)
(%)
Trước khi tiếp 109
74
16
7
12
17,4
xúc BN
(67,9) (14,7)
(6,4)
(11,0)
Trước quy
84
28
9
12
35
trình vô
khuẩn
Sau khi tiếp

(33,3)


76

84

(11,3)
45

(4,6)
2

(12,4)
6

(71,7)
31

(53,6)

(2,4)

(7,1)

(36,9)

67

xúc dịch cơ
thể
Sau khi tiếp

đương với nghiên cứu của chúng tôi. Một nghiên cứu sự tuân thủ về rửa tay
của NVYT tại BV Bạch Mai [5], tỉ lệ tuân thủ rửa tay dưới 50% trong tất cả
các cơ hội rửa tay. Các tác giả khuyến cáo: Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến
việc rửa tay của NVYT, đó là sự kém nhận thức về tầm quan trọng của việc
rửa tay, không tuân thủ quy trình rửa tay, thiếu nhân viên và quá tải
BN [2, 4, 11]…
Sự tuân thủ về kỹ thuật rửa tay của ĐD
Bảng 5. Sự tuân thủ về kỹ thuật rửa tay thường quy của ĐD
Biến số
Thời gian rửa tay trung bình

Kết quả
51,3±34,4 nhanh nhất 3 giây, chậm nhất 120

(giây)
giây
ĐTB ĐD đạt được khi thực hiện 6,3± 2,7, thấp nhất 1 điểm, cao nhất 12
kỹ thuật rửa tay
Nhóm điểm

điểm
Tần số (%)
(N=200)

12

10 (5,0)

10 – 11


(phút)
ĐTB thực hiện quy trình

Kết quả
4,9±1,3; nhanh nhất 2 phút
và lâu nhất 8 phút
10,2±2,1; thấp nhất 6 điểm, cao nhất 14
điểm

Nhóm điểm

Tần số (%)
(n=198)

14

18 (9,1)

12 – 13

34 (17,2)

10 – 11

71 (35,9)

< 10

75 (37,5)



và cao nhất 16 điểm
Tần số (%)
(n=66)

16

7 (10,6)

14 – 15

21 (31,8)

10 – 13

21 (31,8)

≤ 10

17 (25,8)

Tốt = 16 điểm, Khá= 14 – 15 điểm, Trung bình = 11 – 13 điểm, Kém ≤
10 điểm.
Quan sát 66 ĐD về sự tuân thủ nguyên tắc vô trùng trong quy trình
thông tiểu (Bảng 7) điểm trung bình ĐD đạt được khi thực hiện quy trình
này là 11,9±1,7 điểm (74,3%), cao nhất 16 điểm và thấp nhất 6 điểm. ĐD
thực hiện đúng các nguyên tắc vô trùng trong quy trình này đạt 10,6%. Kết
13



6 -15
công tác
16 +

23
177
124
76
190
10

Kiến thức
%
P
78,3
0,697
78,8
77,8
0,006
80,4
78,6
0,208
81,3

68
66
66
63
39
98

0,224
0,360

Có sự khác biệt về kiến thức của ĐD Nội khoa và Ngoại khoa (p=0,006)
(Bảng 8). ĐD Ngoại khoa có kiến thức tốt hơn ĐD Nội khoa (80,4% so với
77,8%). Đối với hành vi, không có sự khác biệt giữa ĐD Nội khoa và Ngoại
14


khoa (p=0,224). Tương tự, không có sự khác biệt giữa kiến thức và hành vi
ở nam và nữ, trình độ chuyên môn, nhóm tuổi cũng như thâm niên công tác
của ĐD.
Mối tương quan giữa kiến thức và hành vi của ĐD về KSNTBV
Bảng 9. Mối tương quan giữa kiến thức và hành vi của ĐD về KSNTBV
Biến số
Kiến thức

Quan sát
200

chung
Hành vi chung

200

ĐTB (%)
23,63 (78,8)

P


mạch
76,0
94,0
5,0
81,0
80,9
9,1
10,6
73,5

91,0

9,1

10,6

phòng ngừa chuẩn
Từ Bảng 9 cho thấy, tổng số điểm của kiến thức của ĐD có tương quan
tích cực với tổng số điểm của hành vi ĐD. Điều này gợi ý rằng ĐD có kiến
thức tốt sẽ có hành vi tốt. Tuy nhiên, trong thực tế, đã có sự khác biệt đối
với kiến thức, hành vi và thực hành của ĐD (Bảng 10). Kiến thức của ĐD về
15


rửa tay thì khá tốt (76%), hành vi về rửa tay thì rất cao (94%), trong khi
đó tỉ lệ tuân thủ rửa tay thì ở mức trung bình (57,6% - Bảng 4) và tuân thủ
đúng về quy trình rửa tay thường quy thì rất thấp (chỉ 5%). Tương tự, hầu
hết ĐD (81%) đã biết các yếu tố làm gia tăng nguy cơ NTBVMP và biết các
biện pháp phòng ngừa chuẩn trong chăm sóc BN (73,5%), đồng thời tỉ lệ
đáp ứng kiến thức về hành vi của họ đối với những vấn đề này cũng cao

1.

Ban chống nhiễm khuẩn Bộ Y tế (2005). Tình hình nhiễm khuẩn
BV của 19 BV ở VN. Báo cáo trong Hội nghị chống nhiễm khuẩn toàn
quốc 2005.

2.

Đặng Thị Vân Trang và Lê Thị Anh Thư (2001). Đánh giá nhận
thức về Kiến thức thái độ và thực hành của nhân viên y tế về Kiểm
soát nhiễm trùng BV tại BV Chợ Rẫy. Y học thực hành, Số 518, tr.117121.

3.

Nguyễn Phúc Tiến và cộng sự (2001). Đánh giá số vi khuẩn trên
tay nhân viên y tế. Y học TP. Hồ Chí Minh. Số 5/2, 2001.

4.

Nguyễn Việt Hùng, Trương Anh Thư, Lê Thị Thanh Thuỷ, Hiroshi
Ohara (2006). Đánh giá phương tiện, nhận thức tuân thủ rửa tay ở
nhân viên y tế tay tại một số cơ sở y tế của Việt Nam. Báo cáo trong
hội nghị quốc tế JICA về chống nhiễm khuẩn tổ chức tại Hà Nội 2006.

5.

Nguyễn Việt Hùng và cộng sự (2006). Tình hình kiểm soát nhiễm
trùng bệnh viện ở một số BV TP. Hà Nội. Báo cáo Hội nghị khoa học
về Kiểm soát nhiễm trùng bệnh viện, Hà Nội, 2006.


to

nosocomial

infections:

a

prospective

interhospital comparison. Am J Med.; 70; 51-58.
11.

Larson, E.L. (1995). APIC guideline for handwashing and hand
antisepsis in health care settings. Am J Infect Control; 23: 251-269.

12.

Morris, E., Fuad, S., Hassan, Abdulrazzak, A.N, Sugathan,
(1995). Infection Control Knowledge and Practices in Kuwait -A survey
on oral health care workers.

13.

World Health Organization (2003). Standard precaution for
hospital infection.

14.

World


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status