vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học trong giáo trình lý luận văn học việt nam từ những năm 1960 đến nay - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Gấm

VẤN ĐỀ BẢN CHẤT VÀ ĐẶC TRƯNG
CỦA VĂN HỌC TRONG GIÁO TRÌNH
LÝ LUẬN VĂN HỌC VIỆT NAM
TỪ NHỮNG NĂM 1960 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Gấm

VẤN ĐỀ BẢN CHẤT VÀ ĐẶC TRƯNG
CỦA VĂN HỌC TRONG GIÁO TRÌNH
LÝ LUẬN VĂN HỌC VIỆT NAM
TỪ NHỮNG NĂM 1960 ĐẾN NAY
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số : 60 22 32
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Nguyễn Hoài Thanh


VĂN HỌC ........................................................................................................................... 15

1.1. Vận động kế thừa ................................................................................... 15
1.1.1. Đối tượng của văn học ................................................................................17
1.1.2. Văn học là một hình thái ý thức thuộc thượng tầng kiến trúc ....................20
1.1.3. Văn học và hiện thực ..................................................................................22
1.1.4. Văn học và các hình thái ý thức thượng tầng kiến trúc ..............................24
1.1.5. Tính khuynh hướng của văn học ................................................................26
1.1.6. Chức năng của văn học ...............................................................................30

1.2. Vận động đổi mới tư duy về một số vấn đề cơ bản của bản chất xã hội
......................................................................................................................... 32
1.2.1. Vấn đề văn học và hiện thực .......................................................................33
1.2.2. Vấn đề văn học và chính trị ........................................................................36
1.2.3. Vấn đề chức năng của văn học ...................................................................40
Chương 2: SỰ VẬN ĐỘNG QUAN NIỆM VỀ BẢN CHẤT THẨM MỸ CỦA VĂN
HỌC .................................................................................................................................... 49

2.1. Quan niệm về bản chất thẩm mỹ của văn học trong giáo trình lý uận
văn học trước năm 1986 ............................................................................... 50
2.1.1. Hình tượng nghệ thuật ................................................................................51
2.1.2. Điển hình nghệ thuật ...................................................................................54


2.2. Quan niệm về bản chất thẩm mỹ của văn học trong giáo trình lý luận
văn học sau năm 1986 ................................................................................... 57
2.2.1. Lý tưởng thẩm mỹ và sáng tạo nghệ thuật..................................................58
2.2.2. Hình tượng nghệ thuật và phản ánh thẩm mỹ.............................................65
Chương 3: SỰ VẬN ĐỘNG QUAN NIỆM VỀ BẢN CHẤT NGÔN NGỮ CỦA VĂN
HỌC .................................................................................................................................... 69

trong ba dấu mốc quan trọng nhất của nước ta ở thế kỷ XX. Từ đây, một
chặng đường mới, những vận hội mới được mở ra: giao lưu với các nền kinh
tế, văn hóa khác nhau trên thế giới. Mọi phương diện của đời sống thay đổi.
Văn học cũng không ngoại lệ.
Từ năm 1986 đến nay, đặc biệt là thời kỳ đầu đổi mới, hoạt động sáng
tác văn học có nhiều tìm tòi, mạnh dạn đổi mới và đạt được thành tựu quan
trọng trên nhiều bình diện. Kết quả là chúng ta có một bức tranh văn học đa
dạng đề tài phản ánh, phong phú thể loại, đặc sắc về phong cách và khuynh
hướng thẩm mỹ.
25 năm qua, lý luận văn học nước ta cũng có nhiều chuyển biến quan
trọng, trưởng thành hơn trong tư duy, nhuần nhị hơn trong kiến giải vấn đề.
Tuy nhiên, tình hình văn học trong nước và thế giới có chiều hướng vận động
biến đổi không ngừng, nhiều vấn đề đang đặt ra, đỏi hỏi lý luận văn học cần
giải quyết rốt ráo. Do đó, đổi mới lý luận hơn nữa là xu hướng tất yếu. Bên
cạnh đó, lý luận cũng có nhu cầu được “ngoái nhìn” thường xuyên, để đánh
giá những thành tựu đạt được và nhận diện những khiếm khuyết ngay trên cơ
thể của mình, từ đấy mà xây dựng cơ sở vững chãi cho những thay đổi mới.
Trước yêu cầu như vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã tiến hành khảo sát,
nắm bắt diện mạo nền lý luận văn học nước nhà trong chiều vận động lịch sử
của nó. Giáo trình lý luận văn học (bậc đại học) là một trong những bộ phận
quan trọng của diện mạo chung ấy. Trong xu hướng nhận thức lại, giáo trình
lý luận đã được nhiều người quan tâm đề cập, khảo sát chuyên sâu và cũng đã
đạt được một số thành quả nhất định, đáng trân trọng. Tuy nhiên, nhiều vấn
đề quan trọng khác chưa được quan tâm, hoặc đã được nêu ra nhưng chưa giải


2

quyết rốt ráo. Xuất phát từ tình hình thực tế, từ những yêu cầu nội tại của đối
tượng, chúng tôi cho rằng nghiên cứu đề tài Vấn đề bản chất và đặc trưng

đại học ở ta năm mươi năm qua, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học số
5/2006. Ở bài viết này ông không đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận cụ
thể, mà chỉ dừng lại ở mức mô tả khái quát đặc điểm bố cục trình bày của các
giáo trình. Trên cở sở đó, ông cho rằng mỗi bộ giáo trình lý luận văn học ở
nước ta đều có điểm mạnh, điểm yếu riêng và nhìn chung việc biên soạn giáo
trình lý luận có xu hướng ngày càng hiện đại hơn. Ông cũng đề xuất hướng
tiếp cận với các giáo trình ở các nước tiên tiến nhằm khắc phục hạn chế và
hiện đại hóa hơn nữa giáo trình trong nước.
Lấy hệ thống giáo trình lý luận văn học Việt Nam ở hai giai đoạn trước
và sau đổi mới (1986) làm đối tượng nghiên cứu, cả hai bài viết nêu trên đều
chỉ dừng lại ở mức mô tả khái quát. Có thể tìm thấy ở đây một vài nhận xét về
vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học được kiến giải trong các giáo trình,
tuy nhiên nhận xét còn ở dạng sơ lược, minh họa, chưa được đào sâu, phân
tích kỹ lưỡng.
Quan tâm đến các vấn đề của giáo trình lý luận văn học bậc đại học,
nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương có bài: Môn lý luận văn học trong nhà
trường đại học (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 4/2006). Ông cho rằng: “Mỗi
bộ đều có đều có những thế mạnh và ưu điểm riêng…”. Những giáo trình ra
đời ở thời kỳ sau, về nhiều mặt, đã hiện đại hóa hơn giáo trình ở thời kỳ trước.
Tuy nhiên, cũng theo ông, lý luận văn học ở ta, trong đó có giáo trình lý luận
văn học, đang “chậm trễ, nếu không muốn nói là tụt hậu, so với sáng tác” và
“so với chính nó, nghĩa là so với những yêu cầu đặt ra cho nó như một bộ
môn khoa học, vừa quan hệ với sáng tác, mà cũng độc lập so với sáng tác”.
Trong khi đó “tỉ lệ người đọc sách lý luận văn học đông nhất hiện nay không
phải là những nhà sáng tác mà là sinh viên các ngành ngữ văn và văn hóa


4

nghệ thuật”. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới nền lý luận nước nhà như hiện nay

thống giáo trình lý luận theo mục đích đào tạo của mỗi trường, mỗi cấp học;
nội dung giáo trình cần được đầu tư nghiên cứu, kiến giải vấn đề phù hợp
thực tiễn văn học Việt Nam.
Được đề xuất từ những nhà giáo nhiều năm giảng dạy môn lý luận văn
học ở trường đại học đồng thời là những nhà nghiên cứu nhiều kinh nghiệm,
những kiến giải nói trên có ý nghĩa quan trọng để cho việc tham khảo hướng
hợp lý hóa việc biên soạn giáo trình lý luận văn học bậc đại học. Trên thực tế,
hai nhà nghiên cứu Trần Đình Sử và Huỳnh Như Phương cũng đã biên soạn
những giáo trình lý luận văn học ít nhiều theo hướng giải quyết vấn đề mà các
ông đã đặt ra (Trần Đình Sử viết Giáo trình lý luận văn học, tập 1 Bản chất và
đặc trưng văn học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2007; Huỳnh Như Phương
viết Lý luận văn học (nhập môn), Nxb Đại học Quốc gia Thành phố HCM,
Tp. HCM, 2010).
Ngoài những công trình và bài báo khoa học lấy giáo trình lý luận văn
học làm đối tượng nghiên cứu chính như đã nói ở trên, chúng tôi cũng tìm
thấy ở một số công trình, bài báo khoa học khác đã thực hiện khảo sát, tổng
quan, đánh giá các chặng đường phát triển của nền lý luận văn học Việt Nam,
trong đó có đề cập đến giáo trình lý luận bậc đại học như là một bộ phận của
đối tượng cần được nghiên cứu.
Nhà nghiên cứu Phương Lựu – người chủ biên đã hai bộ giáo trình lý
luận văn học lớn (biên soạn năm 1986-1988 và năm 2002-2006) – luôn quan
tâm nhìn nhận, đánh giá mỗi chặng đường phát triển của nền lý luận văn học
nước nhà, trong đó có việc biên soạn giáo trình giảng dạy. Bởi, theo ông, “khi
phải tiến hành một phong trào cải cách thay đổi mạnh mẽ, thì cần phải kiểm
kê lại trước đó, nhất là giai đoạn cận kề đã có những tiền đề gì, những dự báo
trăn trở như thế nào, không phải chỉ vì công bằng đối với lịch sử, mà chủ yếu
là để xác định cho thật trúng những bước đi tiếp theo”. Năm 2005 chẳng hạn,


6

7

2001). Ông viết: “Quy luật là cứ 10 năm trôi qua, thì tư duy lý luận văn học
mới mẻ, mà nghiêm chỉnh có thể vận dụng vào việc giảng dạy trong nhà
trường, không thể hoàn toàn chứa đựng trong cái khung của giáo trình cũ
nữa”. Điều này cũng có nghĩa, sự thay đổi, tiến bộ trong cách kiến giải các
vấn đề lý luận, trong đó có vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học ở các
giáo trình là tất yếu.
Giáo trình lý luận văn học cũng được Nguyễn Thị Hồng Hạnh quan
tâm, khảo sát trong luận văn Vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong lý luận văn
học ở Việt Nam từ 1975 đến nay (Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ
Chí Minh, năm 2008). Như đã nói ở phần Mở đầu, để phục vụ cho mục đích
nghiên cứu chính của luận văn tác giả chỉ tập trung khảo sát những bộ giáo
trình lý luận văn học có liên quan tới vấn đề chủ nghĩa hiện thực giai đoạn từ
1975 đến nay, mà không đề cập đến các vấn đề nguyên lý tổng quát của văn
học ở các bộ giáo trình khác. Tuy nhiên ở luận văn này, để làm sáng tỏ vấn đề
chủ nghĩa hiện thực tác giả cũng đồng thời khảo sát khái niệm “văn học phản
ánh hiện thực” trong các tiểu luận, chuyên khảo về lý luận văn học ở Việt
Nam thuộc giai đoạn nói trên. Vì vậy, thành quả nghiên cứu của luận văn ít
nhiều cho ta một góc nhìn về vấn đề bản chất và đặc trưng văn học trong lý
luận văn học Việt Nam giai đoạn sau 1975.
Ngoài những công trình nói trên, giáo trình lý luận văn học cũng được
nhắc đến trong các bài báo khoa học, chuyên luận: Một chặng đường đổi mới
lý luận văn học Việt Nam (1986-2011) của Cao Hồng (Nxb Hội Nhà văn, H,
2011), Góp phần bàn về lý luận văn học ở Việt Nam trong lịch sử của nó của
Phong Lê (in trong Về văn học Việt Nam hiện đại nghĩ tiếp…, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, H, 2005), Lý luận văn học trước yêu cầu đổi mới và phát
triển của Phan Trọng Thưởng (Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 12/2004),…
Tuy nhiên, ở những chuyên luận, bài viết này giáo trình lý luận văn học chỉ




9

luận văn học ở nước ta ngày càng hoàn diện, nhuần nhuyễn, khách quan, và
khoa học hơn. Ngày nay ở các giáo trình lý luận văn học, giọng điệu chính
luận không còn là chủ âm và tư duy lý luận quanh những vấn đề căn bản của
văn học cũng có nhiều chuyển biến quan trọng. Tuy nhiên, nội dung kiến thức
cũng như bố cục của giáo trình vẫn còn nhiều hạn chế cho thấy một khoảng
cách không nhỏ giữa lý luận giáo khoa với thực tiễn sáng tác văn học trong
nước và trình độ lý luận văn học thế giới.
Thứ ba, trước yêu cầu của thực tiễn văn học và đời sống, nhìn chung
các nhà nghiên cứu đều nhận thức: đổi mới là nhu cầu thiết yếu của nền lý
luận văn học Việt Nam, trong đó có giáo trình lý luận văn học bậc đại học.
Nhiều đề xuất, giải pháp đã được đưa ra nhằm hướng đến cải tiến việc biên
soạn giáo trình sao cho vừa bắt nhịp đặc thù riêng của đời sống văn học Việt
Nam vừa tiến gần nền trình độ chung của lý luận văn học thế giới, mà vẫn
phù hợp và đạt hiệu quả tiếp nhận đối với đa số người học.
Mặc dù hệ thống giáo trình đã được quan tâm nghiên cứu và đạt được
một số thành tựu nhất định, song những công trình, bài viết nói trên vẫn chưa
cung cấp đủ cứ liệu cho phép chúng ta hình dung bức tranh cụ thể, toàn diện
về vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học trong suốt lịch sử biên soạn giáo
trình lý luận văn học bậc đại học ở nước ta.
Theo khảo sát của chúng tôi, hiện nay ở nước ta chưa có một công trình
chuyên biệt nào nghiên cứu sự vận động tư duy lý luận xung quanh vấn đề
bản chất và đặc trưng của văn học trong lịch sử lý luận văn học Việt Nam nói
chung, giáo trình lý luận văn học nói riêng. Trong khi đó, bản chất và đặc
trưng của văn học là những vấn đề cơ bản, trọng yếu và bao trùm với bất cứ
nền lý luận văn học nào. Thông qua quan điểm và cách kiến giải những vấn
đề này có thể nhận thấy diện mạo, tính chất của một mô thức lý luận văn học



11

• Xác định được những điểm tiến bộ và những hạn chế của các giáo trình
lý luận văn học Việt Nam trong quan niệm về vấn đề bản chất và đặc
trưng văn học.
• Cuối cùng, thông qua kết quả nghiên cứu quá trình vận động quan niệm
về bản chất và đặc trưng văn học, chúng tôi kỳ vọng xác định và lý giải
được xu hướng vận động tư duy lý luận văn học ở nước.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, người viết đặt trọng tâm nghiên cứu ở những vấn
đề bản chất và đặc trưng của văn học trong lý luận văn học. Đây là vấn đề căn
bản nhưng phức tạp luôn thu hút sự quan tâm, bàn luận của giới học thuật thế
giới và trong nước. Trong khuôn khổ luận văn, người viết cố gắng khu biệt
vấn đề trên ba phương diện cơ bản: phương diện xã hội, phương diện thẩm
mỹ - nghệ thuật, và phương diện ngôn ngữ. Những vấn đề khác của lý luận
văn học nếu có nhắc đến ở đây thì chỉ nhằm mục đích minh chứng vai trò
“rường cột” của vấn đề bản chất, đặc trưng đối với chúng.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các giáo trình lý luận văn học Việt
Nam được xuất bản từ năm những 1960 đến nay (2012). Giáo trình lý luận
văn học theo chúng tôi quan niệm là những công trình lý luận đã, đang được
sử dụng vào mục đích giảng dạy ở khoa văn của các trường đại học Việt Nam,
đặc biệt ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh – hai trung tâm học thuật lớn
của nước ta. Giáo trình có thể được biên soạn bởi những tác giả là nhà nghiên
cứu, nhà giáo đang giảng dạy tại các trường đại học. Căn cứ theo hai tiêu chí
như vậy, chúng tôi thống kê có khoảng 30 giáo trình lý luận được biên soạn
trong suốt hơn 50 năm qua. Tuy nhiên, xuất phát từ mục đích nghiên cứu của
đề tài, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát nội dung đối với các giáo trình trình
bày những vấn đề nguyên lý lý luận văn học và giáo trình chuyên đề (dành

giáo trình lý luận văn học Việt Nam từ những năm 1960 đến nay.


13

5. Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ yêu cầu của bản thân đối tượng nghiên cứu và theo mục
đích của công trình, chúng tôi thực hiện công việc nghiên cứu theo các
phương pháp sau:
• Phương pháp lịch sử – phát sinh: nhằm tìm hiểu sự vận động của việc
biên soạn giáo trình lý luận văn học dưới tác động của lịch sử chính trị,
xã hội.
• Phương pháp hệ thống – cấu trúc: nghiên cứu từng vấn đề bản chất và
đặc trưng văn học trong mối quan hệ với tổng thể của nó (hệ thống vấn
đề, mỗi giáo trình và giữa các giáo trình).
• Phương pháp lịch sử – chức năng: đánh giá vai trò, vị trí của đối tượng
nghiên cứu (các giáo trình ở các trường đại học) cũng như của các nhà
biên soạn trong giai đoạn văn học có nhiều biến động này.
• Phương pháp so sánh được sử dụng để đối chiếu các giáo trình lý luận
khác nhau theo chiều đồng đại và lịch đại.
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Luận văn thành công có có thể làm tài liệu tham khảo học tập cho sinh
viên, học viên cao học khi tiếp cận vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học.
Đồng thời, luận văn cũng có thể được sử dụng như một nguồn tham khảo cho
các nhà nghiên cứu để thực hiện biên soạn giáo trình chuyên môn trong thời
gian tới.
Về mặt khoa học, vấn đề bản chất và đặc trưng văn học là một hệ vấn
đề cơ bản nhưng phức tạp. Cơ bản, bởi nó xác định bản thể của đối tượng.
Phức tạp, bởi bản thân văn học là một loại hình nghệ thuật đa biến, không dễ
dàng có được sự nhất quán giữa các nhà nghiên cứu, giữa các thời kỳ khác

quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu. Không kể đến các chuyên luận, các
bài báo lẻ, chỉ nhìn vào bố cục chương mục của các giáo trình lý luận văn học
Việt Nam cũng có thể nhận diện sự ưu tiên, thậm chí tôn xưng bản chất xã hội
trong khi trình bày những vấn đề nguyên lý chung của văn học. Những vấn đề
mang tính chất xã hội chứ không phải những vấn đề mang tính thẩm mỹ nghệ
thuật hay ngôn ngữ luôn được đặt ra và giải quyết trước hết. Ở góc độ tổng
quát, có thể phác thảo một bộ khung vấn đề bản chất xã hội của văn học được
triển khai gần như đồng bộ trong hầu hết giáo trình lý luận văn học Việt Nam
từ những năm 1960 đến nay, gồm các luận điểm: nguồn gốc, đối tượng của
văn học; văn học với hiện thực đời sống xã hội; văn học với các hình thái ý
thức xã hội khác; tính khuynh hướng; chức năng của văn học.
Mặc dù vậy, quan niệm, cách kiến giải vấn đề bản chất xã hội trong
giáo trình lý luận không phải luôn bị đóng khung một chỗ, mà có những bước
vận động đáng ghi nhận trên cả hai mạch kế thừa và đổi mới.
1.1. Vận động kế thừa
Không có gì khởi đi bằng con số không. Sự hình thành và phát triển của
giáo trình lý luận văn học Việt Nam cũng vậy, là sự kết hợp và tác động qua
lại giữa nhiều yếu tố khách quan, chủ quan trong đó có sự kế thừa những
luồng tư tưởng, tri thức trước nó.
Phần này, từ góc nhìn lịch đại, chúng tôi chú ý những điểm tương đồng
trong quan điểm và cách giải quyết vấn đề bản chất xã hội của văn học giữa
các giáo trình, điều mà nhiều người cực đoan gọi là sự “rập khuôn” của hệ


16

thống giáo trình lý luận văn học Việt Nam. Nhưng theo ý chúng tôi, đấy là
một trong hai mạch vận động đồng hành trong lịch sử biên soạn giáo trình lý
luận ở nước ta: vận động kế thừa. Gọi là vận động kế thừa, chúng tôi muốn
nhấn mạnh đến sự chuyển biến nhất định trong những quan điểm tưởng như

học các hình thái ý thức xã hội khác, tính khuynh hướng, chức năng của văn
học,…đều được triển khai xoay quanh trục mỹ học xã hội học mác xít.
Riêng giáo trình Lý luận văn học (nhập môn) của tác giả Huỳnh Như
Phương, xuất bản năm 2010, được viết ở góc nhìn khác – góc nhìn của
nguyên lý mỹ học sự sáng tạo. Dù vậy, ông vẫn khẳng định bản chất xã hội
của văn học với sự tương tác của những yếu tố thiết thân, như: nguồn gốc
phát sinh, nhà văn – chủ thể sáng tạo, độc giả - chủ thể tiếp nhận, điều kiện
kinh tế xã hội,…
1.1.1. Đối tượng của văn học

Vấn đề văn học phản ánh cái gì luôn được các tác giả quan tâm trình
bày trước hết. Nói đối tượng văn học, tức là nói đến cái mà văn học quan tâm
phản ánh và chiếm lĩnh. Trên lập trường mỹ học mác xít, giáo trình lý luận
văn học Việt Nam từ những năm 1960 đến nay luôn khẳng định: con người
cùng các mối quan hệ phức tạp của nó là đối tượng phản ánh chủ yếu của văn
học.
Tác giả Nguyễn Lương Ngọc viết trong giáo trình lý luận Sơ thảo
nguyên lý văn học (1961): “Đối tượng chủ yếu của văn học là con người. Văn
học miêu tả chủ yếu con người, hoàn cảnh của con người và thái độ của con
người đối với hoàn cảnh… Cũng có thể có những tác giả không trực tiếp biểu
hiện và miêu tả con người; song, nói chung, tác phẩm của họ vẫn nói đến con
người, đến sự liên hệ và quan hệ giữa người với sinh hoạt xã hội” [51, tr.112].
Tác giả Nguyễn Vịnh trong giáo trình Cơ sở lý luận văn học (1976), tức
Nguyên lý văn học, 1965) khẳng định: “Hình ảnh con người luôn luôn là trung


18

tâm chú ý của văn học nghệ thuật… Con người được phản ánh trong văn học
nghệ thuật là con người toàn vẹn, sinh động, với mọi đặc tính và quan hệ

đời” [52, tr.61]. Cuộc sống xã hội, mà trong đó con người là trung tâm, là
nguồn nuôi dưỡng của văn học nghệ thuật nói chung. Nhưng đối tượng của
văn học nghệ thuật, theo ông, “cũng không phải là cái vĩnh hằng, bất biến, mà
luôn luôn biến đổi cùng với sự biến đổi của thực tại xã hội” [52, tr.68].
Luận điểm con người là đối tượng phản ánh trung tâm của văn học tiếp
tục được các tác giả giáo trình lý luận văn học thời đổi mới khẳng định và
phát triển lập luận. Tác giả Trần Đình Sử, trong giáo trình Lý luận văn học,
năm 1986, cũng khẳng định con người là đối tượng phản ánh chủ yếu của văn
nghệ. Bên cạnh đó, ông còn cho rằng trong muôn mặt vấn đề của con người
thì tính cách của con người là trung tâm của đối tượng của văn nghệ. Ông
viết: “Văn nghệ phản ánh các quan hệ hiện thực mà trung tâm là con người xã
hội. Văn nghệ không miêu tả thế giới như khách thể tự nó, mà tái hiện chúng
trong tương quan với lý tưởng, khát vọng, tình cảm của con người. Văn nghệ
không phải ánh hiện thực dưới dạng những bản chất trừu tượng, mà tái hiện
nó trong tính toàn vẹn, cảm tính sinh động. Khái niệm trung tâm của đối
tượng của văn nghệ là các tính cách của con người, những con người sống,
suy nghĩ, cảm xúc, hành động mang bản chất xã hội, lịch sử” [41, tr.127].
Phần biên soạn này được tiếp tục sử dụng trong giáo trình Văn học, nhà văn,
bạn đọc, do Phương Lựu chủ biên, nhà xuất bản Đại học Sư phạm ấn hành
năm 2002.
Năm 1992, dưới sự chủ biên của Hà Minh Đức và sự tham gia biên
soạn của nhóm giảng viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà
Nội, một giáo trình Lý luận văn học mới được ra đời và tiếp tục khẳng định
con người xã hội là trung tâm phản ánh của văn học. Tác giả Trần Khánh
Thành viết: “Đối tượng chủ yếu của nghệ thuật là con người… Nghệ thuật
quan tâm trước hết đến bản chất xã hội của con người. Bản chất đó thể hiện


20

Trích đoạn Giáo trình Dẫn luận thi pháp học (2005) Giáo trình Lý luận văn học (nhập môn) (2010) Giai đoạn từ năm 1986 đến nay Bình diện ý thức nghệ thuật Bình diện ngôn từ nghệ thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status