Giáo dục lòng u nước qua giờ học văn
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Trường THPT Trấn Biên
--------------*-------------
Sáng kiến kinh nghiệm
GIÁO DỤC LỊNG U NƯỚC
QUA TIẾT HỌC VĂN
Giáo viên thực hiện : LỮ THỊ NHUNG
( Tổ Văn )
------- Năm học 2012 – 2013 --------
2
Giáo viên : Lữ Thị Nhung – THPT Trấn Biên
Giáo dục lòng yêu nước qua giờ học văn
SƠ LƯỢC LÍ LỊCH KHOA HỌC
I.
THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên
: Lữ Thị Nhung
2. Ngày tháng năm sinh
: Giáo viên giảng dạy
8.
Đơn vị công tác
: Trường THPT Trấn Biên
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO:
- Học vị ( hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao nhất ): Cử nhân khoa học
- Năm nhận bằng : 2000
- Chuyên ngành đào tạo : Ngữ văn
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy bộ môn Ngữ Văn
- Số năm có kinh nghiệm: 13 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm có trong 5 năm gần đây :
+ Cách thức giúp học sinh chủ động, tích cực tiếp cận tác phẩm văn chương.
+ Phát hiện vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học.
3
Giáo viên : Lữ Thị Nhung – THPT Trấn Biên
Giáo dục lòng yêu nước qua giờ học văn
GIÁO DỤC LÒNG YÊU NƯỚC QUA GIỜ HỌC NGỮ VĂN
I. Lí do chọn đề tài :
Trong văn bản Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, Hồ Chí Minh có
viết : “ Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống
thậm chí hết sức mờ nhạt.
4
Giáo viên : Lữ Thị Nhung – THPT Trấn Biên
Giáo dục lòng yêu nước qua giờ học văn
Đồng thời, vào cuối năm 1941, dù đang bận rộn lo lắng cho sự
nghiệp giải phóng dân tộc, Bác Hồ vẫn dành thời gian viết tập diễn ca Lịch
sử nước ta để làm tài liệu học tập cho cán bộ trong các lớp huấn luyện ở
chiến khu thời đó. Sách này được xuất bản lần đầu vào tháng 2-1942. Ngay
câu mở đầu Bác đã khẳng định:
Dân ta phải biết sử ta vì
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Nghĩa là đã là người dân Việt Nam thì phải am tường, hiểu biết và có
tình cảm tự hào về lịch sử của dân tộc mình. Đây là một yêu cầu và cũng là
một phẩm chất của con người. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch danh
dự Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cũng đã viết: “Lịch sử không chỉ trang
bị cho thế hệ trẻ những kiến thức cơ bản về lịch sử dân tộc và thế giới mà
còn giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong giáo dục chủ nghĩa yêu nước,
các giá trị truyền thống và cách mạng, góp phần xây dựng nhân cách,
bản lĩnh con người, giữ gìn bản sắc dân tộc…”.
Chính vì nhận thấy việc giáo dục lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm
bảo vệ đất nước cho thế hệ trẻ là hết sức cần thiết cho nên từ lâu nền giáo
dục mới của nhà nước ta đã đưa vấn đề này vào nhà trường - với mọi cấp
học - qua nhiều môn học như Lịch sử, Giáo dục công dân, Giáo dục quốc
phòng,… Nhưng thiết nghĩ, với những đặc trưng riêng, môn Ngữ văn cũng
là một bộ môn khoa học góp phần quan trọng cho việc giáo dục lòng yêu
nước và ý thức trách nhiệm bảo vệ đất nước cho học sinh, nhất là trong
dân tộc là việc làm hết sức cần thiết vì tiếng Việt đang đứng trước tình trạng
và nguy cơ bị đánh mất đi tính trong sáng, khi bị nhiều người hoặc vì thiếu
hiểu biết, hoặc vì thiếu ý thức mà làm cho xấu đi: viết tắt, viết chế, dùng sai,
dùng lẫn lộn với tiếng nước ngoài, …
Trước đây ông chủ báo Nam Phong đã khẳng định“Tiếng ta còn là nước
ta còn”. Nhà báo Nguyễn An Ninh cũng khẳng khái tuyên bố “ Tiếng mẹ đẻ,
( là) nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức”. Và một nhà văn Pháp cũng
khẳng định: “ Khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ
vững được tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chìa khóa của
chốn lao tù…” ( An-phông-xơ Đô- đê - Buổi học cuối cùng, sách Ngữ văn lớp
6 tập2 ). Nói vậy nghĩa là tiếng nói của dân tộc góp phần rất lớn trong việc
sinh tồn của một đất nước.
Như vậy, giáo dục lòng yêu nước cho học sinh qua tiết học Ngữ văn
trước hết là giáo dục cho các em lòng yêu mến tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ của
dân tộc mình, có nhận thức tiếng Việt là nguồn tài sản vô giá gắn liền với
vận mệnh đất nước, có ý thức giữ gìn và phát triển tiếng nói dân tộc để bảo
vệ đất nước.
6
Giáo viên : Lữ Thị Nhung – THPT Trấn Biên
Giáo dục lòng yêu nước qua giờ học văn
Mặt khác, chủ nghĩa yêu nước là nội dung lớn, xuyên suốt quá trình tồn
tại và phát triển của văn học Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện
rất phong phú đa dạng trong các tác phẩm văn học :
-
Chủ nghĩa yêu nước trong văn học dân gian gắn liền tình yêu quê hương,
đất nước, yêu xóm làng, yêu cuộc sống lao động, tình yêu lứa đôi, tinh thần
phổ thông, đặc biệt là chương trình Ngữ văn lớp12 như Tuyên ngôn độc lập,
Tây Tiến, Việt Bắc, Đất nước, Dọn về làng, Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt, Một
người Hà Nội, Rừng xà nu, Những đứa con trong gia đình, …
7
Giáo viên : Lữ Thị Nhung – THPT Trấn Biên
Giáo dục lòng yêu nước qua giờ học văn
Từ những điều trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng, tinh thần yêu
nước là một tình cảm lớn của con người. Và giáo dục tinh thần yêu nước
cho các thế hệ trẻ là một việc làm vô cùng quan trọng, có thể được xem là
hàng đầu trong quá trình giáo dục nhân cách con người thông qua những
tác phẩm văn học.
Đồng thời, văn học là một bộ môn nghệ thuật. Tác phẩm văn học có
nhiều giá trị : giáo dục, nhận thức, thẩm mĩ. Mà trước hết tác phẩm văn học
là một tấm gương phản chiếu cuộc sống. Tác phẩm văn học là kết quả của quá
trình nhà văn khám phá, lí giải cuộc sống rồi chuyển hóa những hiểu biết đó
vào nội dung tác phẩm. Ở đó qua lăng kính nghệ thuật nhà văn trực tiếp hay
gián tiếp chuyển tải những vấn đề xã hội, tinh thần yêu nước vào trong tác
phẩm văn chương. Cho nên văn học là cuộc sống, gần gũi và gắn bó với mỗi
người, chứa đựng thái độ và tình cảm sâu sắc của nhà văn với đồng bào, quê
hương, đất nước. Vì vậy, đọc văn là hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận
thức của con người, nó còn giúp chúng ta hiểu biết rõ hơn, sâu hơn về cuộc
sống xung quanh và thậm chí chính bản thân mình, từ đó tác động vào cuộc
sống hiệu quả hơn … Đồng thời chính từ cuộc đời, tình cảm yêu nước của
người khác, mỗi người đọc có thể liên hệ, tự so sánh, đối chiếu để hiểu bản
thân mình hơn với tư cách là một con người cá nhân.
Ngoài ra, nhà văn khi phản ánh hiện thực cuộc sống thông qua tác phẩm
có khả năng giúp con người biết cảm nhận và rung động một cách tinh tế, sâu
sắc trước mọi vẻ đẹp của cuộc đời, hướng họ đến chân, thiện, mĩ mà văn học
còn góp phần hoàn thiện nhân cách con người mà còn hướng họ tới những
hành động cụ thể, thiết thực, vì một cuộc đời ngày càng tốt đẹp hơn.
Dựa vào những cơ sở, những giá trị trên của văn học, đặc biệt là giá trị
giáo dục, người viết xin đề xuất phương pháp giáo dục lòng yêu nước qua
giờ học văn nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn, nhất là hiệu
quả giáo dục nhân cách, lòng yêu nước của học sinh thông qua những tác
phẩm văn học.
2.Hiệu quả của công tác giáo dục lòng yêu nước
Trước hết học sinh nhận thức được lòng yêu nước có nhiều biểu
hiện khác nhau. Yêu nước không phải chỉ có biểu hiện duy nhất là cầm súng
đánh giặc mà còn thể hiện ở nhiều phương diện khác như biết yêu quý tiếng
Việt, tiếng mẹ đẻ, có ý thức giữ gìn và phát triển tiếng nói dân tộc; xây dựng
kinh tế phát triển đất nước, yêu gia đình, lối xóm, bản làng, yêu thiên nhiên,
yêu những phong tục tập quán, truyền thống văn hóa của dân tộc ,…
Thứ hai học sinh nhận biết nước ta là một nước độc lập, giàu
truyền thống yêu nước và đánh giặc cứu nước, từ đó có tình cảm yêu quý, tự
hào tự tôn về quyền độc lập của dân tộc, có ý thức trách nhiệm tiếp nối
những truyền thống dựng nước và giữ nước tốt đẹp, vẻ vang của dân tộc.
Thứ ba, học sinh hình thành và phát triển đời sống tư tưởng, tình
cảm gắn bó với quê hương đất nước, có tinh thần tự hào và tự tôn dân tộc, có
những thái độ và hành động sống tích cực biểu hiện lòng yêu nước.
Thứ tư, giáo dục lòng yêu nước cho học sinh gắn với việc giáo dục
các em những bài học cuộc sống thông qua tác phẩm văn chương, từ đó các
em hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách một cách tích cực, toàn
diện.
9
được trích giảng trong nhà trường, mỗi một tác phẩm văn học thể hiện một
khía cạnh riêng của lòng yêu nước. Công việc của giáo viên là làm sao giúp
học sinh vừa cảm nhận được vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn
học, vừa nhận thức được khía cạnh biểu hiện của lòng yêu nước được đề cập
trong tác phẩm văn học đó và từ đấy các em dần hình thành tình cảm yêu
nước của mình.
10
Giáo viên : Lữ Thị Nhung – THPT Trấn Biên
Giáo dục lòng yêu nước qua giờ học văn
4. Cách thức tiến hành
Bước một: Giáo viên tổ chức công tác tìm hiểu bài học.
Bước hai: Giáo viên đặt ra hệ thống câu hỏi giúp học sinh phát hiện ra tinh
thần yêu nước được biểu hiện trong tác phẩm. Sau khi học sinh đã nêu ra được
những biểu hiện của tinh thần yêu nước được biểu hiện trong tác phẩm văn
học, giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận và trình bày ý kiến của bản thân
về vấn đề đó trước lớp.
Bước ba: Giáo viên nhận xét, đánh giá, cho điểm phần trình bày của học
sinh.
Lưu ý : Giáo viên có thể tích hợp giáo dục lòng yêu nước cho học sinh
với qúa trình tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn học.
Dưới đây, người viết xin chia sẻ với quý thầy cô đồng nghiệp cách thức
giáo dục cho học sinh lòng yêu nước qua tiết học văn qua một số bài học cụ
thể trong chương trình Ngữ văn lớp 10, 11, 12.
5. Ứng dụng trong một số bài học cụ thể
5.1 Bài Khái quát lịch sử tiếng Việt :
+ Trong quá trình phát triển, tiếng Việt có quan hệ tiếp xúc với nhiều ngôn
ngữ khác trong khu vực và thế giới : trong đó có Trung Quốc và nhiều
nước Châu Âu.
Sau đó, giáo viên có thể nhấn mạnh với học sinh một số ý sau :“Người
Việt Nam ngày nay có lí do đầy đủ và vững vàng để tự hào với tiếng nói
của mình”. Bởi vì :
Thứ nhất, tiếng Việt là tiếng nói riêng biệt của dân tộc ta ( khác một
số dân tộc, đất nước khác trên thế giới không có tiếng nói và chữ viết
riêng).
Thứ hai,“Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một
thứ tiếng hay. Nói thế có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt là một thứ tiếng
hài hòa về mặt âm hưởng, thanh điệu mà cũng rất tế nhị, uyển chuyển
trong cách đặt câu. Nói thế cũng có nghĩa nói rằng: tiếng Việt có đầy đủ
khả năng để diễn đạt tình cảm, tư tưởng của người Việt Nam và để thỏa
mãn nhu cầu của đời sống văn hóa nước nhà qua các thời kì lịch sử …
Chúng ta cũng có thể khẳng định rằng : cấu tạo của tiếng Việt, với khả
năng thích ứng với hoàn cảnh lịch sử như chúng ta vừa nói trên đây, là
một chứng cớ khá rõ về sức sống của nó.” ( Đặng Thai Mai - Tiếng Việt,
một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc, sgk Ngữ Văn lớp 7). “Chính
cái giàu đẹp đó đã làm nên cái chất, giá trị, bản sắc, tinh hoa của tiếng
Việt, kết quả của cả một quá trình và biết bao công sức dồi mài…Tiếng
Việt của chúng ta phản ánh sự hình thành và trưởng thành của xã hội Việt
Nam và của dân tộc Việt Nam.” (PhạmVăn Đồng - Giữ gìn sự trong sáng
của tiếng Việt, sgk Ngữ Văn lớp 7)
+ Tiếng Việt phải trải qua nhiều âm mưu đồng hóa, nhưng nhân dân ta từ
bao đời nay vẫn quyết tâm giữ gìn và phát triển tiếng nói riêng của dân tộc.
Sau đó, giáo viên có thể nhấn mạnh với học sinh một số ý sau :
Từ xa xưa, khi người phương Bắc sang xâm lược nước ta, chúng
khẳng định đất nước ta chỉ là một châu quận của nước chúng và chúng âm
mưu đồng hóa dân tộc ta về mọi mặt: ngôn ngữ, văn hóa,… Khi thực dân
tiếng nói và chữ viết riêng của dân tộc mình.
5.2 Bài Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
a. Kết quả cần đạt: Giáo viên giúp học sinh :
- Nhận thức được sự trong sáng của tiếng Việt biểu hiện ở một số phương
diện cơ bản và là một yêu cầu đối với việc sử dụng tiếng Việt.
- Có ý thức, thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt khi sử dụng; luôn
nâng cao hiểu biết về tiếng Việt và rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt.
b. Về tiến trình dạy học :
Trước hết giáo viên hướng dẫn học sinh nhận biết :
- Sự trong sáng là một phẩm chất của tiếng Việt. Phẩm chất đó được
biểu hiện ở những phương diện chủ yếu như:
+ Tính chuẩn mực, có quy tắc của tiếng Việt
+ Sự không lai căng, pha tạp
+ Tính lịch sự, văn hóa trong lời nói
- Trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt:
Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là trách nhiệm của mỗi người Việt
Nam. Công cuộc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt đòi hỏi mọi người
phải nỗ lực về các phương diện : tình cảm, nhận thức, hành động.
+ Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trước hết đòi hỏi mỗi người
phải có tình cảm yêu mến và ý thức quý trọng tiếng Việt. Mỗi người cần
thấm nhuần sâu sắc nhận định của chủ tịch Hồ Chí Minh: “ Tiếng nói là thứ
của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ
gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp.”( Giữ gìn
sự trong sáng của tiếng Việt )
+ Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cũng đòi hỏi mỗi người cần có
những hiểu biết cần thiết về tiếng Việt. Đó là những hiểu biết về chuẩn
13
Giáo viên : Lữ Thị Nhung – THPT Trấn Biên
+ Có hiểu biết về đặc điểm và những chuẩn mực của tiếng Việt
+ Có ý thức vận dụng và phát triển tiếng nói dân tộc trong hoạt động giao
tiếp hàng ngày.
Tiếng Việt là tài sản sản vô giá, là niềm tự hào, tự tôn của mỗi người
dân Việt Nam. Chúng ta phải không ngừng học hỏi và trau dồi tiếng Việt
để sử dụng tiếng Việt không những đúng mà còn hay, làm cho tiếng nói
dân tộc ngày càng trong sáng, giàu đẹp và phát triển. Như lời căn dặn của
cố chủ tịch nước Phạm Văn Đồng:“Phải làm gì để giữ gìn sự trong sáng
của tiếng ta, giữ gìn hai đức tính rất quý của nó là giàu và đẹp, hơn thế nữa,
làm sao cho nó càng thêm giàu và đẹp.Và phải chủ động, tích cực, nhạy
cảm, đồng thời kiên trì, phấn đấu lâu dài, một cách có tổ chức, có kế hoạch,
vững chắc.” ( Phạm Văn Đồng - Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt)
14
Giáo viên : Lữ Thị Nhung – THPT Trấn Biên
Giáo dục lòng yêu nước qua giờ học văn
5.3 Bài An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy:
a. Về kết quả cần đạt: Giáo viên hướng dẫn học sinh :
- Nắm được đặc trưng cơ bản của truyền thuyết qua việc tìm hiểu một tác
phẩm cụ thể kể về thành Cổ Loa, mối tình Mị Châu- Trọng Thủy và nguyên
nhân mất nước Âu Lạc.
- Nhận thức được bài học giữ nước trong một câu chuyện tình yêu.
b. Về tiến trình dạy học:
Bước một: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài học.
Sau khi học sinh phân tích nhân vật An Dương Vương và Mị Châu, giáo
viên có thể tổ chức cho HS thảo luận nhằm hệ thống hóa lại kiến thức kết
hợp giáo dục lòng yêu nước cho học sinh qua một số câu hỏi:
- Yếu tố thần kì trong truyền thuyết chủ yếu góp phần đề cao sức
mạnh của vị anh hùng và sức mạnh của nhân dân. Chẳng hạn trong truyền
thuyết Hồ gươm : Lê Thận là người đánh cá kéo được gươm thần, sau theo
nghĩa quân Lam Sơn dấy nghĩa. Lê Lợi là chủ tướng có tâm cứu nước nên
nhặt được vỏ gươm thần. Nghĩa quân ban đầu hết sức non yếu, nhưng từ
khi Lê Lợi gặp được Lê Thận bàn bạc việc quân, khi gươm thần tra vào vỏ
gươm thần thì người theo nghĩa quân ngày càng đông đảo, lực lượng lớn
mạnh, chẳng bao lâu đánh thắng giặc Minh xâm lược. Vậy hình ảnh gươm
thần ở đây chính là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết quân dân. Tinh thần
ấy vô cùng lớn mạnh, có thể đè bẹp mọi kẻ thù xâm lăng. Ở đây, yếu tố
thần kì Rùa thần Kim Quy và nỏ thần là hình ảnh biểu tượng cho sức mạnh
và tinh thần đoàn kết của nhân dân.
- Mặt khác, việc An Dương Vương chấp nhận lời cầu hòa và cầu
hôn của giặc Triệu Đà có ý nghĩa lớn lao: giữ tình hòa hiếu giữa hai nước,
tránh nạn binh đao đổ máu và đau thương cho nhân dân, có khát vọng đem
đến cho nhân dân, đất nước cuộc sống thanh bình. Đây là việc làm có tầm
nhìn chiến lược, thể hiện được tấm lòng yêu nước, thương dân, trách
nhiệm giữ gìn đất nước của một vị vua. Việc làm này, nhiều thế hệ vua
chúa đời sau cũng đã thực hiện: vua Trần cầu hòa và gả công chúa Huyền
trân cho vua Xiêm để giữ tình hòa hiếu hai nước; một số triều đại cống nạp
sản vật cho phương Bắc nhằm tránh họa binh đao cho nhân dân, …
- Nhưng về sau, An Dương Vương vì chủ quan, khinh địch cho nên
mất nước. Bài học cho mỗi chúng ta là phải luôn cảnh giác và luôn luôn
sẵn sàng chiến đấu với bất kì kẻ thù xâm lăng nào.
- Ngoài ra, Mị Châu vì mê muội trong tình cảm riêng tư cho nên đã
tiết lộ bí mật quốc gia, vô tình để kẻ thù thực hiện được âm mưu của mình,
đẩy đất nước vào cảnh nước mất nhà tan. Bài học cho chúng ta là phải luôn
luôn cảnh giác với kẻ thù, trong mối quan hệ giữa tình riêng và nghĩa vụ
thì phải đặt tình cảm, trách nhiệm với đất nước lên trên tình cảm cá nhân,
kỉ XIX, em biết gì về Hào khí Đông A?
+ Theo em, yếu tố làm nên chiến thắng và sự giàu mạnh của đất nước ta
trong thời đại Đông A là gì ?
+ Em có cảm nghĩ gì về lí tưởng sống của nhà thơ Phạm Ngũ Lão?
+ Theo em, trong thời đại ngày nay, nước chúng ta muốn giàu mạnh vững
bền thì mỗi người Việt Nam chúng ta phải có thái độ sống như thế nào cho
đất nước ?
Sau khi học sinh thảo luận và phát biểu, giáo viên nhận xét và nhấn
mạnh một số ý sau:
- Khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời Trần
được các sử gia ngợi ca là “Hào khí Đông A”. Thời đại Đông A là thời đại
nhà Trần. Một thời đại mà đất nước phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh
chống xâm lược: Ba lần chống giặc Nguyên – Mông. Đây là cuộc chiến
tranh bảo vệ tổ quốc của quân và dân Đại Việt đầu thời Trần dưới thời các
vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông trước sự tấn
công của đế quốc Mông Cổ. Tuy thời gian của cuộc kháng chiến bắt đầu từ
năm 1258 đến năm 1288, nhưng thời gian chiến sự chính thức chỉ tổng
cộng bao gồm khoảng gần 9 tháng, chia làm 3 đợt. Mông Cổ đương thời là
đế quốc lớn nhất thế giới. Tổng cộng 3 đợt xuất quân, Mông - Nguyên huy
động hơn 60 vạn quân tinh nhuệ, trong khi dân số Đại Việt khi ấy chưa đầy
4 triệu. Có so sánh tương quan lực lượng với kẻ địch mới thấy được sự vĩ
đại của chiến công 3 lần đánh đuổi Mông - Nguyên của nhà Trần. Kết quả,
Đại Việt bảo vệ được nền độc lập của mình. Lịch sử Việt Nam xem cuộc
kháng chiến này là một trong những trang sử hào hùng nhất của mình.
( Bách khoa toàn thư - Wikipedia)
17
Giáo viên : Lữ Thị Nhung – THPT Trấn Biên
Giáo dục lòng yêu nước qua giờ học văn
- Ngày nay, đất nước ta đã giành được quyền độc lập nhưng vẫn
chưa tránh khỏi họa bị xâm lăng, vì vậy muốn đất nước giàu mạnh
vững bền thì mỗi người Việt Nam chúng hãy là một Phạm Ngũ Lão
giàu lòng yêu nước, căm thù giặc, có ý thức trách nhiệm với đất nước,
sẵn lòng canh giữ biên cương và đánh đuổi giặc thù, bảo vệ non sông.
18
Giáo viên : Lữ Thị Nhung – THPT Trấn Biên
Giáo dục lòng yêu nước qua giờ học văn
5.5 Bài Phú sông Bạch Đằng
a. Kết quả cần đạt:
- Qua những hoài niệm về quá khứ, thấy được niềm tự hào về truyền
thống của dân tộc và tư tưởng nhân văn của tác giả với việc đề cao vai trò,
vị trí của con người trong lịch sử.
- Nắm được đặc trưng cơ bản của thể phú về mặt kết cấu, hình tượng nghệ
thuật, lời văn, đồng thời thấy được những đặc sắc nghệ thuật của Phú sông
Bạch Đằng.
b.Tiến trình dạy học:
Tiến hành tương tự như những bài trên, bước một: Giáo viên hướng
dẫn học sinh phân tích: hình tượng nhân vật “khách”, hình tượng nhân vật
các bô lão và lời ca cũng là lời bình của “khách”.
Bước hai: Giáo viên có thể giáo dục lòng yêu nước cho học sinh
thông qua bài học, giúp các em nhận thức được:
+ Nước chúng ta là một đất nước có nhiều danh lam thắng cảnh,
nhiều di tích lịch sử nổi tiếng trong và ngoài nước. Mỗi người Việt Nam
phải có sự hiểu biết, gắn bó yêu quý và tự hào về vẻ đẹp non sông đất
nước cũng như lịch sử nước mình, có ý thức giới thiệu cho mọi người,
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh.
+ Yếu tố làm nên chiến công của dân tộc ta trong những cuộc
kháng chiến chống giặc giữ nước đó chính là yếu tố con người: “Cũng
nhờ : nhân tài giữ cuộc điện an”, “Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao”.
“Mình”ở đây là vua quan nhà Trần, là nhân dân cả nước. Đức ở đây
chính là lối sống nhân nghĩa của dân tộc ta. Vua thì chăm lo cho dân, dân
thì chăm chỉ làm ăn, trọng tình trọng nghĩa, sống đúng đạo lí làm người.
Khi có giặc thì đoàn kết một lòng:
Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.
Như vậy, vai trò của người đứng đầu một nước vô cùng quan trọng,
khi đất nước thanh bình,phải có tài có tâm, một lòng chăm lo cho nhân
dân đất nước. Khi đất nước có giặc, thì phải bày mưu định kế, lãnh đạo
nhân dân vùng lên đoàn kết đánh giặc.Có như vậy thì đất nước mới được
giặc tan muôn thuở thăng bình”. Tác phẩm chứa đựng tư tưởng nhân văn
cao đẹp qua việc đề cao vai trò, vị trí con người trong lịch sử. Đây là một
chân lí giữ nước và cũng là bài học quý báu cho mọi thế hệ hôm nay và
mai sau.
5.6 Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc:
a.Về kết quả cần đạt: Giáo viên hướng dẫn học sinh cảm nhận được:
- Những nét chính về cuộc đời, nghị lực, nhân cách và giá trị thơ văn của
Nguyễn Đình Chiểu.
- Vẻ đẹp bi tráng của bức tượng đài nông dân nghĩa sĩ có một không hai
trong lịch sử văn học trung đại và tiếng khóc đau thương của Nguyễn
Đình Chiểu cho một thời kì “khổ nhục nhưng vĩ đại” của dân tộc.
- Những nét cơ bản về thể văn tế và thấy được giá trị đặc sắc của bài văn tế.
b. Về tiến trình dạy học:
Bước một: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu và nhận biết về :
cuộc đời, nghị lực, nhân cách và giá trị thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu.
Phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ và tiếng khóc bi tráng của
được vùng lên đánh đuổi giặc thù khiến họ không màng đến chuyện tập
luyện binh đao, trang bị vũ khí... Họ tấn công vào đồn giặc với một tinh
thần vũ bão, khí thế hừng hực sôi trào. Họ đã chủ động xông vào đồn giặc
đánh đuổi quân xâm lăng bằng tất cả những gì họ có, cho dù đó chỉ là một
nùi rơm con cúi, một ngọn tầm vông, hay một con dao phay hàng ngày vẫn
mang đi nương, đi ruộng. Tình cảm và căm thù giặc cuộn trào và thôi thúc
họ vùng lên đánh đuổi kẻ thù với một khí thế và sức mạnh không gì cản
nổi. Nó vượt qua mọi sự sợ hãi về cái chết, về bom đạn lạnh lùng và tàn
bạo của kẻ thù. Nó đã khiến quân giặc dù là đội quân tinh nhuệ và được
trang bị vũ khí vô cùng hiện đại cũng phải hồn kinh, phách lạc và tổn thất
nặng nề. Sức mạnh ấy được làm nên bởi chính tinh thần yêu nước, căm thù
giặc của nhân dân ta.
Hình ảnh những người nông dân nghĩa Cần Giuộc tấn công vào đồn
giặc, đánh đuổi giặc thù với sức mạnh tinh thần khủng khiếp ấy chính là
hình ảnh tiêu biểu cho lòng yêu nước và đấu tranh đánh duổi giặc thù của
nhân dân ta. Đúng như chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định:“Dân ta có một
lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa
đến nay, mỗi khi đất nước bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết
thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy
21
Giáo viên : Lữ Thị Nhung – THPT Trấn Biên
Giáo dục lòng yêu nước qua giờ học văn
hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước.” Đó là
hình ảnh tiêu biểu cho truyền thống yêu nước của nhân dân Việt Nam. Khi
đất nước có giặc, mọi người dân Việt Nam, nhất là những người nông dân
từ mọi miền đất nước dù là nơi “đất mặn đồng chua” hay “nơi đất cày lên
sỏi đá” … cũng đều vùng lên đánh giặc cứu nước, làm nên sức mạnh thần
giáo viên có thể đặt ra một số câu hỏi sau:
22
Giáo viên : Lữ Thị Nhung – THPT Trấn Biên
Giáo dục lòng yêu nước qua giờ học văn
+ Bài vết đã chỉ ra thực trạng luân lí xã hội ở nước ta như thế nào ?
+ Theo em, việc chỉ ra thực trạng luân lí xã hội ở nước ta với những nhận
xét hết sức khách quan như thế cho thấy Phan Châu Trinh là người như thế
nào ?
+ Sống trong một xã hội mà tiếng nói của con người còn bị hạn chế quyền
tự do dân chủ, và người dân còn mang nặng tư tưởng bao thủ, cực đoan,
em có dám đứng lên tố cáo các thế lực thống trị và chỉ ra, nhận xét về
những mặt hạn chế, tiêu cực của nhân dân mình hay không ?
Sau khi học sinh tham gia thảo luận và phát biểu, giáo viên nhận xét
và nhấn mạnh một số ý sau:
Trong văn bản, Phan Châu Trinh đã chỉ ra thực trạng luân lí xã hội
của nước ta : đó là tuyệt nhiên không có luân lí xã hội. Nguyên nhân là bởi
vì dân ta thì “phải ai tai nấy, ai chết mặc ai!”, sợ sệt, ù lì, trơ tráo, vô cảm
không biết đoàn thể, không trọng công ích…; bọn vua quan phong kiến thì
mặc sức bóp nặn, vơ vét của dân chúng, coi việc ngu dân như một điều
kiện tốt để củng cố quyền lực và lòng tham; người này đối với người kia
đều theo sức mạnh, thấy quyền thế thì chạy theo quỵ lụy, dựa dẫm…
Việc chỉ ra những yếu kém của người dân mình vốn là chuyện hiếm
có xưa nay, bởi nhân dân ta luôn coi trọng tình cảm tự hào tự tôn về dân
tộc, còn nặng tư tưởng bảo thủ, cực đoan. Mỗi khi có ai dám chỉ ra những
yếu kém, khuyết điểm của người khác, nhất là của cả một dân tộc, chắc
chắn sẽ phải chịu đựng sự đánh giá, phán xét gây gắt của cộng đồng.
Nhưng ở đây, Phan Châu Trinh đã dám làm điều đó.Ông dám chỉ ra một
- Tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng
khiếp năm 1945 do thực dân Pháp và Phát xít Nhật gây ra. Cảm nhận được
được niềm khao khát tổ ấm gia đình, niềm tin vào cuộc sống và tình thương
yêu đùm bọc lẫn nhau giữa những con người nghèo khổ ngay bên bờ vực
của cái chết.
- Những nét đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm trong việc tạo dựng tình
huống truyện, miêu tả tâm lí, dựng đối thoại.
b. Về tiến trình dạy học:
Bước một: Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích tình cảnh thê
thảm của nhân dân ta trong nạn đói và nguyên nhân gây ra nạn đói lịch sử
khủng khiếp này. Học sinh phân tích và phát biểu, giáo viên nhận xét và
nhấn mạnh một số ý trọng tâm:
Thảm cảnh của nhân dân ta trong nạn đói lịch sử năm 1945: “Người
chết như ngã rạ,… bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những
bóng ma.” Đó là trận đói lịch sử khiến hơn hai triệu người Việt Nam ( trên
1/ 10 dân số nước ta) chết vì đói.
Nguyên nhân gây ra nạn đói năm 1945:“ Trống thúc thuế đấy. Đằng
thì nó bắt trồng đay, đằng thì nó bắt đóng thuế. Giời đất này không chắc
đã sống qua được đâu các con ạ…”. “Nó” ở đây là bọn quan lại tay sai,
bọn thực dân Pháp xâm lược và nhất là bọn phát xít Nhật xâm lược. Bọn
chúng là những kẻ cướp nước thâm độc và tàn ác.
Bước hai: Giáo viên cũng hướng dẫn HS phân tích các nhân vật
Tràng, người “vợ nhặt”, bà cụ Tứ. Và nhận xét chung về các nhân vật này :
Họ là những con người có khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc mãnh
liệt, có tấm lòng nhân hậu và tinh thần lạc quan ngay khi phải đứng bên
bờ vực của cái chết.
Từ đó giáo viên giúp học sinh nhận ra những bài học quý giá về sự
sống khi phải đối mặt với hoàn cảnh khó khăn, nghiệt ngã, cách cư xử
nhân ái với đồng bào, đồng loại mà mỗi người đều cần phải có. Đó cũng
là một biểu hiện của lòng yêu nước.
. Hình ảnh “lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới” thể hiện niềm tin
tưởng lạc quan của nhà văn về tương lai thoát nghèo, giải phóng của nhân
dân.
Như vậy khi đất nước bị xâm lăng, nhân dân ta sẽ phải sống cuộc
đời nô lệ, đói khổ. Cách duy nhất để thoát khỏi cuộc sống ấy là phải đấu
tranh chống lại kẻ thù xâm lược, chủ động giành quyền sống và tự do.
Đó cũng là một biểu hiện của lòng yêu nước.
5.9 Bài Rừng xà nu:
a. Kết quả cần đạt: Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm được :
- Tư tưởng cơ bản mà tác giả gửi gắm qua những hình tượng của tác phẩm:
sự lựa chọn con đường đi của dân tộc ta trên con đường đấu tranh chống
lại kẻ thù.
- Vẻ đẹp sử thi và nét đặc sắc Tây Nguyên, ý nghĩa và giá trị của tác phẩm
trong hoàn cảnh chiến đấu chống Mĩ cứu nước lúc bấy giờ và trong thời
đại ngày nay.
b. Về tiến trình dạy học:
Bước 1: Tương tự như những bài học trên, giáo viên hướng dẫn học
sinh phân tích:
25
Giáo viên : Lữ Thị Nhung – THPT Trấn Biên
Giáo dục lòng yêu nước qua giờ học văn
+ Ý nghĩa hình tượng rừng xà nu.
+ Hình tượng nhân vật Tnú và câu chuyện bi tráng về cuộc đời anh thể
hiện cho chân lí : dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách
mạng, đấu tranh vũ trang là con đường tất yếu để tự giải phóng.
+ Chất sử thi thể hiện qua cốt truyện, bút pháp xây dựng nhân vật, giọng
điệu và vẻ đẹp ngôn ngữ của tác phẩm,…
khủng bố và tàn sát những người dân làng đi nuôi giấu cán bộ cách
mạng“Chúng treo cổ anh Sút trên cây vả đầu làng , giết bà Nhan, chặt
đầu cột tóc treo đầu súng…) . Dù đã chứng kiến những cái chết bi thảm
của những người dân yêu nước ấy nhưng Tnú cũng không sợ. Cậu là đứa
trẻ hăng nhất trong đám trẻ xung phong vào rừng tiếp tế cho cộng sản với ý
26
Giáo viên : Lữ Thị Nhung – THPT Trấn Biên