A. PHẦN MỞ ĐẦU
Nhiều thập kỉ qua, về phương diện chỉ đạo chuyên môn của cơ quan giáo dục,
việc dạy học lí luận văn học ở THPT hầu như bị bỏ quên. Ở nhà trường, việc giảng
dạy lí luận văn học của giáo viên có thể nói là rất tùy tiện, chắp vá, thiếu sự thống nhất
về mục đích, nội dung, phương pháp. Các kì thi tốt nghiệp THPT trước đây thường
vắng bóng các đề bài lí luận văn học cho nên vai trò của bộ môn lí luận văn học lại
càng bị coi nhẹ một cách nghiêm trọng. Giáo viên giảng dạy lí luận văn học (đúng
như chương trình đã quy định) thì hầu như công việc này vẫn còn mang tính hình
thức. Tính mục đích không được xác định thì hiệu suất nhất định là rất thấp.
I. Lí do chọn đề tài:
Cùng với dịch vụ phim ảnh , video , là nạn phát hành sách đen và làn sóng sách
báo phim ảnh nước ngoài tràn vào. Để cho học sinh, nhất là học sinh sắp ra trường
phổ thông có khả năng tự đề kháng , ta không thể tự bằng lòng với lối giảng văn
chương thiên về thưởng thức rung cảm. Muốn vậy phải vũ trang cho học sinh một vốn
liếng lí luận cần thiết. Dĩ nhiên có những vấn đề dạy những gì và dạy như thế nào cho
có hiệu quả nhưng không thể không giảng dạy lí luận văn học cho học sinh một cách
cẩn thận đến nơi đến chốn.
Việc giảng dạy lí luận văn học trong nhà trường phổ thông đang đặt ra nhiều
vấn đề phải suy nghĩ, trong đó có việc đòi hỏi một sự đổi mới về phương pháp, về
chương trình, về sách giáo khoa Ngữ văn và một sự bổ túc kiến thức lý luận văn học
cho giáo viên để có thể khắc phục được những khuynh hướng không đúng còn phổ
biến trong nhà trường.
II. Mục tiêu nghiên cứu:
Ngày nay một nhận thức chính xác về vai trò của kiến thức lí luận văn học
trong vốn văn hóa học sinh và một quan điểm thực tiễn cần có của việc dạy văn ngay
trong đời sống văn hóa xã hội là thật sự cần thiết.
Bài viết này mong muốn đóng góp ý kiến nhỏ trong việc giảng dạy lí luận văn học
ở bộ môn Ngữ văn trong nhà trường THPT.
III. Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh trường THPT Long Khánh- Thị xã Long Khánh- Tỉnh Đồng Nai.
IV. Phương pháp nghiên cứu:
nguyên liệu của nền văn học” (Lại Nguyên Ân)
Kiến thức lí luận văn học mang tính chất tổng kết, khám phá những vấn đề cốt
lõi, bản chất của văn học. Chính vì thế nắm kiến thức cơ bản của lí luận văn học
giúp người học tập, nghiên cứu văn học tự trang bị cho mình một bảo bối, cẩm
nang để chủ động, tự tin trong mọi tình huống, có thể giải mã, cắt nghĩa hàng trăm,
hàng ngàn hiện tượng tác giả, tác phẩm văn học từ cổ chí kim, từ đông sang tây.
Bước đi nhanh hay chậm,mạnh hay yếu, hay hay dở trong việc tiếp nhận kiến
thức lí luận văn học của học sinh đều tùy thuộc vào phương pháp dạy của giáo
viên. Giáo viên cần nắm vững nội dung cơ bản, định hướng đó để không choáng
ngợp và sa lầy trong giảng dạy.
II . Cơ sở thực tiễn:
Trong nhiều năm trước đây, phân môn lí luận văn học tuy có được nhắc đến
trong chương trình môn Văn nhưng sách giáo khoa chỉ có một vài giờ tổng kết cuối
chương trình. Nhiều giáo viên vẫn gọi môn lí luận văn học là bộ phận “chìm” của
chương trình văn học THPT. Dù chương trình có nêu một vài điều quy định thì trong
thực tế giáo viên vẫn coi nhẹ hoặc bỏ qua. Và phân môn lí luận văn học thực sự không
có một vị trí đáng kể trong chương trình cũ.
Trong lần cải cách sau này, lí luận văn học tuy chỉ mới được dành một tỉ lệ quá
nhỏ (1/10-1/12) trong quỹ thời gian, nhưng dù sao bước đầu đã được chú ý hơn và
được dành một vị trí nhất định. Theo quy định của chương trình thì khối lượng khái
niệm lí luận văn học cung cấp cho học sinh không phải là ít:
Ở lớp 10: Cần hình thành khái niệm của nội dung và hình thức trong văn bản văn
học; ý nghĩa quan trọng của nội dung và hình thức trong văn bản văn học.
2
- Các khái niệm của nội dung trong văn bản văn học: đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm
hứng nghệ thuật.
- Các khái niệm của hình thức trong văn bản văn học: ngôn từ, kết cấu, thể loại
Ở lớp 11 với nội dung: Một số thể loại văn học: thơ, truyện, kịch, văn nghị luận:
nữa của chương trình lí luận văn học THPT là sự kết cấu song song với chương trình
văn học sử các khối lớp. Như vậy, dung lượng kiến thức lí luận được xây dựng, hình
thành từ hai nguồn:
+ Một là qua những tiết dạy ổn định cho mỗi lớp (4 tiết/năm)
+ Hai là qua lối giảng giải, cắt nghĩa của giáo viên thông qua những bài học đọc văn,
lịch sử văn học.
Cấu tạo chương trình theo tinh thần trên sẽ qui định nội dung và phương pháp giảng
dạy lí luận văn học ở THPT một cách linh hoạt.
3
III. Thực trạng :
Khó khăn trong việc giảng dạy lí luận văn học như nhiều giáo viên THPT
thường quen suy nghĩ là: ở học sinh vốn kiến thức văn học chưa đủ cơ sở , dữ kiện
cho việc hình thành khái niệm . Nhận định này lâu nay vẫn được coi là một sự thật ,
một chân lí hiển nhiên . Nhưng khi cần trao đổi lại thì nhận định trên có lẽ không có lí
lẽ vững vàng. Ta cứ hình dung cho đến khi bước vào lớp 10 , một học sinh đã được
học văn học 9 năm ở THCS .Các em học về văn học dân gian , văn học cổ điển , văn
học cận hiện đại Việt Nam, chương trình văn học nước ngoài chiếm tỉ lệ không phải
quá nhỏ . Đó là chưa kể trong hoàn cảnh thông tin văn hóa ngày nay , vốn hiểu biết
văn học của học sinh được tích lũy không phải là quá ít ỏi . Tuổi thơ là tuổi say mê
tiểu thuyết , truyện, nhất là truyện cổ dân gian . Cho nên chúng ta có thể khẳng định
một cách chắc chắn rằng với một học sinh lớp 10, vốn liếng văn học có thể là nguồn
trữ liệu đầy đủ cho việc hình thành những khái niệm : Văn học là gì? Tác phẩm văn
học là gì? Đặc điểm các loại thể văn văn ?... Vấn đề là giáo viên THPT trước khi bắt
tay vào dạy học sinh , cần có một cái nhìn mở rộng về chương trình những năm học
trước. Mặt khác giáo viên biết khơi dậy , đánh thức vốn kiến thức tiềm ẩn ở các em.
Một cách suy nghĩ như vậy sẽ làm cho chúng ta yên tâm vào bài lí luận văn học đầu
tiên ở lớp 10 THPT . Thực tế trình độ văn hóa của học sinh không quá thấp như nhiều
móc các chi tiết, các sự kiện trong tác phẩm và thống kê theo lối sơ đồ đặc điểm của
nhân vật văn học. Linh hồn của tác phẩm , chi tiết máu thịt của các nhân vật bị tước
bỏ để rút ra những tư tưởng trần trụi, khô khan. Phong cách tác phẩm, tác giả không
được chú ý, mọi phong cách đều bị cào bằng .
1) Về phía học sinh :
Trong quá trìng giảng dạy, khi điều tra kiến thức học sinh, bản thân tôi nhận
thấy:
- Nhiều học sinh để giấy trắng trước một số câu hỏi về khái niệm thông thường như :
Trữ tình , kết cấu , truyện , thơ ca.
- Có nhiều em hiểu sai một số khái niệm như : “Phú là loại thơ trình bày có tính chất
vui và lí thú, “ Hình tượng là nói lên ước mơ của nhân dân” và nhiều khi các em suy
diễn một cách phiến diện về một từ ngữ như “ Trữ tình” là nói “tình yêu nam nữ”, “Tự
sự” là nói lên “sự kiện của mình”, “ Tình tiết là chuyện kể một cách rôm rả về các tình
tiết từ đáy lòng mọi người” .
- Có khi các em bám vào một bài cụ thể để trả lời cho nên càng sai lạc hơn . Ví dụ :
“Tứ tuyệt là loại thơ nói cỏ cây hoa lá trên rừng và đồng bằng” .
Trên đây chỉ là điều tra ban đầu , nếu khảo sát nhiều đối tượng học sinh THPT
ở nhiều địa phương , chắc hẳn chúng ta không thể không suy nghĩ hơn về thực trạng
giảng dạy lí luận văn học ở nhà trường phổ thông nhiều năm qua và không thể đặt lại
từ đầu những câu hỏi rất cơ bản : Liệu có thể dạy lí luận văn học cho học sinh THPT
được không ? Lí luận văn học có ý nghĩa gì với việc giảng dạy văn học ở THPT ?
2) Về việc giảng dạy của giáo viên:
Đã có nhiều tiếng than phiền, chê trách từ các cơ quan chỉ đạo giáo dục. Một
vài nhà nghiên cứu, giáo sư và nhà văn cũng đã tỏ ý lo ngại cho việc dạy văn: “Dạy
văn mà như dạy chính trị”, “Dạy thơ mà không gây được “chấn động” gì trong lòng
học sinh”, “Cần trả lại bản chất thẩm mĩ cho văn học”….
Xuân Diệu đã có lần chê lối phân tích văn chương làm cho “chim không bay, cá
không lượn”, tác phẩm chỉ còn là cái xác chết. Nhà văn Tvacđốpki tại Đại hội lần thứ
III của các nhà giáo Liên Xô đã phàn nàn rằng tác phẩm của nhà văn vào tay nhà giáo
trở thành “thứ canh nhạt nhẽo” .
phần khắc phục được khuynh hướng giảng dạy nói trên, làm cho việc giảng dạy và
học văn được trả lại bản chất thẩm mĩ vốn có của nó:
Không thể coi nhẹ những tình cảm thẩm mĩ - đó là con đường để một học sinh
cũng như mọi người tự hoàn thiện, tự biến đổi con người bộ phận thành con người
hoàn thiện. Đã lâu lắm trong chương trình phổ thông thường quá thiên về phương diện
xã hội của văn học. Bản chất thẩm mĩ của văn học thường bị coi nhẹ.
Ngược lại, đã có một số không ít giáo viên chỉ chú ý rung cảm mà coi nhẹ
cung cấp những hiểu biết cho học sinh. Nhiều người không thấy văn học cũng là một
khoa học. Văn học trong nhà trường lại là một môn học nữa. Mọi thiên lệch nào cũng
làm cho cách nhìn nhận văn học bị méo mó và phiến diện.
IV. Các biện pháp giải quyết vấn đề:
1) Căn cứ vào nguyên tắc dạy học lý luận văn học ở THPT.
Bản dự thảo chương trình môn Ngữ văn đã lưu ý giáo viên về việc giảng dạy lý
luận văn học ở THPT : “Phương pháp dạy lý thuyết văn học vẫn là chủ yếu thông
qua tác giả, tác phẩm, thông qua lịch sử văn học mà cung cấp những khái niệm cơ
bản”. Phương pháp này đã được thực hiện ở cấp THCS, vẫn tiếp tục thực hiện ở
THPT với yêu cầu cao hơn và hệ thống hóa… Cần làm sao cho học sinh có thể vận
dụng những tri thức ấy vào sự phân tích, đánh giá tác phẩm, tác giả, vào sự tìm hiểu
các trào lưu, các trường phái, các quy luật phát triển trong tiến trình lịch sử văn học
Việt Nam.
Việc giảng dạy lý luận văn học không thể chỉ quy vào một số lý luận có tính
chất lý thuyết thuần túy. Cách giảng dạy đó đã vô tình cướp mất nội dung cụ thể, sinh
động của các khái niệm và học sinh sẽ khó mà tiếp thu được. Gắn liền việc học tập các
khái niệm lý luận văn học với việc nghiên cứu các sáng tác và sự kiện văn học là một
nguyên tắc quan trọng ở bất cứ một cấp học sinh nào, vì học sinh không thể nắm được
6
đặc trưng của văn học ngoài những dẫn chứng cụ thể về các bài văn, tác phẩm,
khuynh hướng…
hợp minh họa bằng dẫn chứng . Giáo viên minh họa và tự học sinh minh họa để khái
niệm được củng cố vững chắc hơn , có máu thịt hơn.
Chẳng hạn : Với câu hỏi : Nhận diện phong cách của những tác giả lớn được
học trong chương trình (Hồ Chí Minh, Tố Hữu …) giáo viên có thể minh họa và
hướng dẫn học sinh minh họa:
Phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh : độc đáo, đa dạng, mỗi thể loại văn học đều
có phong cách riêng, hấp dẫn.
- Văn chính luận: thường ngắn gọn, tư duy sắc sảo, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép,
bằng chứng đầy sức thuyết phục, giàu tính luận chiến và đa dạng về bút pháp.
7
- Truyện và kí: rất hiện đại, thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào
phúng, có sự sắc bén, thâm thúy của phương Đông, vừa có cái hài hước, hóm hỉnh của
phương Tây.
- Thơ ca:
+ Những bài thơ tuyên truyền lời lẽ giản dị, mộc mạc mang màu sắc dân gian hiện đại,
dễ thuộc, dễ nhớ, có sức tác động lớn.
+Thơ NT hàm súc, có sự kết hợp độc đáo giữa bút pháp cổ điển và hiện đại, chất trữ
tình và tính chiến đấu.
Phong cách thơ Tố Hữu:
Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình – chính trị :
- Tố Hữu là một thi sĩ – chiến sĩ. Ông làm thơ với mục đích phục vụ cách mạng,
khai thác cảm hứng đời sống chính trị.
- Thơ Tố Hữu là thơ của lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của một tâm hồn
cách mạng.
Thơ Tố Hữu thiên về khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn:
- Khuynh hướng sử thi:
+ Cái tôi: Cái tôi chiến sĩ, về sau trở thành cái tôi nhân danh cộng đồng, nhân danh
Từ một bài văn, bài thơ cụ thể , từ những hiện tượng văn học cụ thể , giáo viên
giúp học sinh đi đến một kết luận có tính khái quát về văn học .
- Ở lớp 10 : Khái niệm sử thi , nhân vật anh hùng ca chỉ được học sinh lĩnh hội thông
qua các bài giảng về sử thi Đăm San , về Iliat , Ôđixê …Thông qua việc giảng dạy văn
học dân gian và văn học cổ điển Việt Nam , giáo viên sẽ kết hợp giảng lí thuyết về thể
loại văn học dân gian và văn học cổ điển , các thủ pháp thường được sử dụng trong
sáng tác văn học dân gian và cổ điển(so sánh,ẩn dụ,hoán dụ,ước lệ, tượng trưng, điển
cố…)
- Ở lớp 11 : Thông qua việc giảng dạy văn học từ đầu thế kỷ XX – 1945, giáo viên sẽ
giảng về thơ cách luật và thơ tự do , thơ mới (1937-1945) ,tiểu thuyết cổ điển và tiểu
thuyết hiện đại , phân biệt tiểu thuyết, truyện vừa , truyện ngắn…
- Ở lớp 12 : cùng với việc dạy học văn học hiện đại Việt Nam và thế giới, giáo viên sẽ
giảng sâu hơn về các thể loại Việt Nam hiện đại (thơ, tiểu thuyết , kịch , các thế kí)
khái niệm phong cách và các kiểu sáng tác hiện thực, lãng mạn và những khái niệm
liên quan đến những vấn đề lịch sử văn học gần đây…
Ví dụ:
Từ việc phân tích “ Hồi trống Cổ Thành”, giáo viên giúp học sinh hiểu được phần
nào đặc điểm của tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc.
- Vì sao tiểu thuyết Minh – Thanh được gọi là tiểu thuyết chương hồi?
+ Câu chuyện dài không thể kể hết một lần nên phải chia thành từng “quyển”, có dung
lượng vừa đủ kể một số lần.
+ Trước mỗi lần kể, nghệ nhân phải đặt tên đề mục để giới thiệu nội dung chính với
thính giả .
- Một số đặc điểm khác về nội dung cũng như hình thức của tiểu thuyết cổ Trung
Quốc :
+ Cốt truyện phải li kì, hấp dẫn , chứa đựng nhiều tình huống khẩn trương , gây hồi
hộp , chờ đợi .
+ Nhân vật được khắc họa bằng những ngôn ngữ và hành động có tính đặc trưng.
+ Khuynh hướng tư tưởng trong tác phẩm không phải chỉ là quan điểm riêng của tác
giả mà còn là sản phẩm có tính chất lịch sử , tập thể … (Ví dụ: Khuynh hướng “ca
dạy học cũng như giảng dạy lí luận văn học . Dĩ nhiên sự thay đổi về phương pháp
cũng tùy thuộc vào sự thay đổi quan niệm về vị trí của lí luận văn học trong chương
trình môn văn ở nhà trường phổ thông hiện nay. Có điều dù sử dụng phương pháp nào
thì yêu cầu kết hợp chặt chẽ kiến thức cụ thể với kiến thức khái quát là điều có tính
nguyên tắc không thể thiếu trong giảng dạy lí luận văn học ở phổ thông.
c) Dạy lí luận văn học ở phổ thông qua những bài văn viết về văn:
Nên lấy những bài văn hay , có giá trị của các nhà văn nói về văn để phân tích và
từ đó hình thành những kiến thức về lí luận văn học. Cách dạy này sẽ bớt khô khan mà
hứng thú hấp dẫn hơn. Phải thừa nhận là những bài về văn do chính nhà văn lớn viết
ra thường vừa có giá trị lí luận , vừa có giá trị văn chương. Các nhà văn là những
người am hiểu văn chương bằng chính máu thịt của mình , lại có lối viết văn hay nên
những bài viết đó có nhiều ý nghĩa về lí luận và dễ gây hứng thú cho học sinh .
Ví dụ : Khi giảng về giá trị văn học (Tiết 98, 99-lớp 12 chương trình chuẩn)
Giá trị hiện thực của văn chương: Giáo viên có thể dẫn dắt câu nói của Thạch
Lam : “Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố
cáo, vừa thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong
sạch và phong phú hơn”, qua đó cho thấy: tác phẩm văn chương có giá trị hiện thực
khi nó phản ánh được bản chất hiện thực, nó đặt ra và giải quyết những vấn đề của
hiện thực để góp phần cải tạo hiện thực. Sau đó, giáo viên liên hệ thực tế, Thạch Lam
viết tác phẩm với quan điểm như thế, nhờ đó tác phẩm của ông đến nay vẫn còn giá trị
hiện thực.
Giáo viên minh họa, bổ sung thêm: Trong một bức thư luận bàn về văn chương,
Nguyễn Văn Siêu có viết: “ Văn chương có loại đáng thờ và loại không đáng thờ. Loại
không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú
ở con người”. Ý kiến của Nguyễn Văn Siêu là ý kiến tiến bộ, vì ông đề cao văn
chương góp phần cải tạo hiện thực, góp phần đấu tranh bảo vệ con người. Tuy nhiên,
ở đây giáo viên cần nhấn mạnh cho học sinh thấy không chỉ chú ý tác dụng xã hội của
văn chương mà cần chú ý đầy đủ đến đặc trưng và chức năng của văn chương (ví dụ
giá trị thẩm mĩ…)
10
văn .Từ đó củng cố thêm hiểu biết của học sinh về các khái niệm lí luận văn học , vừa
rèn lối viết văn lí luận giàu cảm xúc của hình ảnh .
Ví dụ : Một vài đề bài gắn với lí luận văn học :
Vì sao có thể nói văn học chân chính có khả năng nhân đạo hóa con người ? Liên
hệ với thực tiễn văn học.
Có nhận xét cho rằng : “ Nhân vật trong tác phẩm nhiều khi thật hơn cả con người
thật”
Hãy phân tích ý kiến trên.
Buy – phông , nhà văn Pháp nổi tiếng có viết : “ Phong cách chính là người”
Anh(chị) hiều ý kiến trên như thế nào ?
Lê Quí Đôn cho rằng : “ Thơ phát khởi từ trong lòng người ta” , còn Ngô Thì
Nhậm thì nhấn mạnh : “ Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần” .
Từ những ý kiến trên, anh chị hãy nêu vai trò của tình cảm trong thơ
11
V.Thực nghiệm sư phạm :
- Trường thực nghiệm : THPT Long Khánh – Đồng Nai
- Bài thực hiện: Nội dung và hình thức của văn bản văn học (tiết 91- lớp 10 chương
trình chuẩn)
- Hình thức thực nghiệm : Học sinh làm bài tập 1,2 SGK trang 130
- Lớp thực nghiệm : 10A2, sĩ số 38 học sinh , hiện diện làm bài 38/38
- Lớp đối chứng :10A5, sĩ số 38 học sinh , hiện diện làm bài 38/38
Bảng kết quả thực nghiệm :
Lớp thực nghiệm (10A2)
Lớp đối chứng (10A5)
Tần số (f)
%
Tần số (f)
C. KẾT LUẬN
I.Bài học kinh nghiệm :
“ Dạy văn là dạy người” - câu châm ngôn cũ nhưng đã trở thành chân lí của mọi
thời . Đặt vấn đề dạy lí luận văn học cho học sinh, giáo viên không bao giờ có thể coi
nhẹ nhân tố chủ thể - đó là học sinh . Mối quan hệ giữa văn và người ấy sẽ định hướng
cho giáo viên phương thức giảng dạy lí luận văn học trong nhà trường. Đồng thời còn
giúp giáo viên ý thức được đầy đủ yêu cầu rèn luyện kỹ năng cho học sinh qua phân
môn này gắn liền với việc hình thành , phát triển nhân cách , trí tuệ , năng lực và cá
tinh con người học sinh.
Tài năng sư phạm của giáo viên là biết lựa chọn phương pháp tối ưu tùy theo đặc
điểm đối tượng , tài liệu giảng dạy và điều kiện dạy học cụ thể. Đặc điểm của chương
trình lí luận văn học của học sinh THPT đòi hỏi giáo viên phải biết phối hợp các
phương pháp trên một cách linh hoạt để tận dụng được mặt mạnh và mặt yếu của từng
phương pháp , để việc giảng dạy lí luận văn học khỏi trừu tượng , khô khan và phù
phiếm. Tuy nhiên có một yêu cầu rất quan trọng trước khi bắt tay vào giảng dạy là
giáo viên phải nắm vững hệ thống khái niệm lí luận văn học cần hình thành cho học
sinh qua mỗi lớp học để có thể liên kết một cách chặt chẽ , chủ động với các bài học
và bài tập văn trong cả năm học.
Nội dung lí luận văn học cần hình thành qua :
+ Những bài học về tác phẩm văn học (giảng văn về các loại thể).
+ Bài giảng khái quát về văn học dân gian , về các giai đoạn văn học.
+ Bài giảng về tác giả.
+ Bài giảng về khuynh hướng trào lưu văn học .
12
- Đề văn hàng tháng gắn với lí luận văn học cần hình thành trong năm học.
Nếu không chương trình hóa , kế hoạch hóa cụ thể thì mọi ý định tốt đẹp về mục đích
và phương pháp sẽ trở thành vô hiệu hóa và việc giảng dạy lí luận văn học lại trở về
lối tùy tiện , được chăng hay chớ .
14
GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM
Tiết 91: Lí luận văn học :
NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA VĂN BẢN VĂN HỌC
A. Mức độ cần đạt :
- Nắm vững các khái niệm về nội dung và hình thức văn bản văn học
- Biết vận dụng những tri thức đó để tìm hiểu văn bản văn học
B. Trọng tâm kiến thức, kỹ năng :
1. Kiến thức :
- Các khái niệm về nội dung văn bản văn học : đề tài , chủ đề , tư tưởng của
văn bản, cảm hứng nghệ thuật
- Các khái niệm về hình thức của văn bản văn bản : ngôn từ , kết cấu , thể
loại.
2. Kĩ năng :
- Xác định được các khái niệm về nội dung và hình thức văn bản văn học khi
đọc một truyện ngắn hay một bài thơ ngắn.
- Cảm nhận có chiều sâu văn bản văn học.
C. Tiến trình dạy học :
1. Ổn định lớp :
2. Kiểm tra :
a) Bài cũ :
- Tiêu chí để nhận diện một văn bản văn học ?
- Khi tiếp cận một văn bản văn học , cần chú ý đến các tầng , lớp nào ?
b) Chuẩn bị bài mới : Giáo viên kiểm tra vở soạn của học sinh.
3. Bài mới:
15
Nguyễn Du ?
Số phận người phụ nữ trong xã hội phong
kiến suy tàn thế kỷ XVIII.
GV: Nêu khái niệm chủ đề ?
(Chủ đề không phụ thuộc vào khuôn khổ văn
bản mà thể hiện ý định của tác giả)
GV: Đọc và nêu chủ đề của bài thơ “ Sông núi
nước Nam” ( Lý Thường Kiệt)
Khẳng định chủ quyền của một quốc gia độc
lập
GV: Chủ đề của “ Truyện Kiều” ?
16
Nội dung bài học
I. Tìm hiểu chung
1. Các khái niệm của nội dung và
hình thức trong văn bản văn học:
a) Các khái niệm của nội dung
trong văn bản văn học.
a1. Đề tài : là lĩnh vực đời sống
được nhà văn nhận thức , lựa chọn ,
khái quát , bình giá và thể hiện
trong văn bản.
a2. Chủ đề : là vấn đề cơ bản được
nêu ra trong văn bản . Chủ đề thể
hiện điều quan tâm cũng như chiều
sâu nhận thức của nhà văn đối với
Ngôn từ là yếu tố đầu tiên của văn bản văn học .
a3. Tư tưởng : là sự lí giải đối với
chủ đề , là nhận thức của tác giả
muốn gửi đến người đọc.
a4 . Cảm hứng nghệ thuật : là tình
cảm chủ đạo của văn bản
b. Các khái niệm của hình thức
trong văn bản văn học:
b1. Ngôn từ :
Các chi tiết , sự việc , nhân vật…
tạo nên nhờ lớp ngôn từ . Ngôn từ
hiện diện trong câu , trong hình ảnh
, trong giọng điệu của văn bản .
GV: Nhận xét về cách sử dụng ngôn từ của
Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” ?Cho ví dụ.
Ngôn ngữ bình dân kết hợp với ngôn ngữ
bác học
GV: Hồ Xuân Hương được mệnh danh là gì? Lí
giải vì sao ?
“Bà chúa thơ Nôm”, vì cách dùng từ Nôm tài
tình
b2. Kết cấu : là sự sắp xếp , tổ chức
17
Nôm, ngâm khúc , thơ trữ tình và ca dao ,
dân ca để sáng tạo ra một truyện Nôm giàu
chất tiểu thuyết và trữ tình bậc nhất trong văn
học Việt Nam
GV: Trình bày ý nghĩa của nội dung và hình
thức văn bản văn học.
* Hình thức : Học sinh cùng bàn trao đổi để ttrả
lời và giáo viên chuẩn hóa lại kiến thức.
GV: Cho ví dụ về những văn bản văn học đạt
được sự thống nhất cao giữa nội dung và nghệ
thuật?
Truyện Kiều , Chinh Phụ Ngâm , Cung oán
ngâm …
GV: Những chức năng chủ yếu của văn học ?
18
c. Ý nghĩa quan trọng của nội dung
và hình thức văn bản văn học
- Văn bản văn học phải có sự thống
nhất giữa nội dung và hình thức
thống nhất nội dung tư tưởng cao
đẹp và hình thức nghệ thuật hoàn
mĩ.
- Văn bản văn học có những chức
năng chủ yếu :
Tác dụng của những chức năng này?
Chính những chức năng này : Nhận thức ,
giáo dục , thẩm mĩ , giao tiếp …đã tạo nên
+ “ Tắt đèn” : Miêu tả cuộc sống
nông thôn trong những ngày sưu
thuế , nông dân bị bóc lột đủ đường
buộc phải vùng lên phản kháng .
+ “Bước đường cùng” miêu tả cuộc
sống hàng ngày lầm than cơ cực
của nông dân : Bị địa chủ áp bức
bóc lột, cho vay nặng lãi để cướp
đất, cướp lúa, bị đẩy vào bước
đường cùng phải đứng lên chống
lại
2/130:
- Công lao khó nhọc của người mẹ
khi chăm sóc cây trái trong
vườn(quả bí , bầu có dáng giọt mồ
hôi mặn- mồ hôi của người trồng:
tượng trưng cho công sức của mẹ)
- Nhà thơ ví mình như quả mẹ
trồng nên cố gắng để không phụ
lòng kỳ vọng của mẹ. Sự lo lắng
sâu sắc là biểu hiện của ý thức trách
nhiệm phải đền đáp công ơn dạy
dỗ.
học .
- Ý nghĩa quan trọng của nội dung và hình thức
văn bản văn học.
b. Dặn dò :
- Học bài .
Phần mềm
Phim ảnh
Năm học 2012- 2013
21
Hiện vật khác
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
-----oOo----I. THÔNG TIN VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: CHÂU THỊ HỒNG HOA
2. Ngày tháng năm sinh: 28-9-1979
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: KP6 – P.Xuân An – TX Long Khánh – Đồng Nai
5. Điện thoại:
- Cơ quan : 0613877245
- Nhà riêng :0613783410
6. Chức vụ: không.
7. Đơn vị công tác: Trường THPT Long Khánh.
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân Ngữ Văn
- Năm nhận bằng: 2001
- Bồi dưỡng học sinh giỏi Khối 10 – Năm học 2012-2013
- Chủ nhiệm lớp 10D1
II. Thành tích đạt được trong các năm qua
- Nhiệm vụ được giao trong các năm học: 2007 – 2008, 2008 – 2009, 2009 - 2010, 2010 – 2011,
2001 – 2012 giảng dạy Ngữ văn THPT, đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá.
- Kết quả:
+ Đạt giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh năm học 2007-2008
+ Đạt kết quả giảng dạy cao: Tỉ lệ 99,5% từ trung bình trở lên.
+ Bồi dưỡng học sinh giỏi Khối 10 năm học 2012-2013 đạt 4 giải ( 2 giải 3 , 2 giải khuyến khích )
- Tích cực học tập để nâng cao trình độ chuyên môn : Thi đậu Cao học ngành Văn học nước ngoài
của trường Đại học sư phạm Huế năm 2013.
III. Kết quả khen thưởng
- Đạt danh hiệu lao động tiên tiến năm 2007, 2008, 2009, 2010, 2011.
- Đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ sở năm 2008.
Thủ trưởng đơn vị cấp trên
Long Khánh ngày 24 tháng 5 năm 2013
nhận xét và xác nhận
Người viết thành tích
Châu Thị Hồng Hoa
23
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
Trường THPT Long Khánh
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Có giải pháp hoàn toàn mới
-
Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có
2. Hiệu quả:
-
Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu
quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng trong toàn
ngành có hiệu quả cao
-
Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có
hiệu quả
3. Khả năng áp dụng :
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Tốt
Khá
Đạt
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ đi vào
cuộc sống: