SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: TRƯỜNG THCS & THPT BÀU HÀM
Mã số:
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ PHƯƠNG PHÁP
KHI TIẾN HÀNH MỘT SỐ THÍ NGHIỆM HÓA
HỌC Ở THCS
Người thực hiện: Lê Quốc Thông
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Năm nhận bằng: 2000
- Chuyên ngành đào tạo: Hóa học
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Hóa, lí
Số năm có kinh nghiệm: 13
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
+ Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 8 giải tốt một số bài tập định lượng
+ Một số kinh nghiệm khi sử dụng microsoft power point trong thiết kế giáo án
điện tử môn hóa”
+ Xây dựng graph vào hướng dẫn học sinh giải bài tập hóa hóc thcs
+ Một số điểm cần lưu ý khi tiến hành một số thí nghiệm hóa học ở lớp 8, 9
+ Một số kinh nghiệm giúp học sinh THCS giải tốt bài tập tính theo phương
trình hóa học
BM02- LLKHSKKN
LLKHSKKN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ
PHƯƠNG PHÁP KHI TIẾN HÀNH MỘT SỐ THÍ
NGHIỆM HÓA HỌC Ở THCS
A/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay, đứng trước một thế kỷ đang phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt, thì trong
quá trình dạy và học môn hóa học, ngoài việc lĩnh hội những kiến thức học sinh
còn được tận tay thực hiện các thí nghiệm qua các tiết học và các bài thực hành. Do
BM03
-
TMSKKNđó việc vận dụng các thí nghiệm vào nội dung tiết học chính là yếu tố quan trọng
giúp cho học sinh hiểu bài sâu hơn và bài giảng thành công hơn.
1. Thuận lợi:
- Được sự quan tâm giúp đỡ của Ban Giám Hiệu nhà trường đến việc giảng
dạy bộ môn.
- Nhà trường đã được trang bị đầy đủ sách giáo khoa và sách giáo viên cho
các giáo viên.
- Giáo viên dạy hoá học đã được tập huấn thay sách giáo khoa mới do Sở
Giáo Dục tổ chức.
- Trường đã được cung cấp tương đối đầy đủ dụng cụ thí nghiệm và hoá chất.
- Trường đã có phòng thí nghiệm thực hành riêng, và có giáo viên chuyên
trách thí nghiệm nên rất thuận tiện trong việc thực hành thí nghiệm
- Trong các tiết học có thí nghiệm hay trong các giờ thực hành thí nghiệm
học sinh hứng thú học tập
2/ Khó khăn
- Do trường nằm trên địa bàn xã đặc biệt khó khăn và học sinh là con em
dân tộc trên 80% nên việc tiếp thu bài của học sinh còn nhiều khó khăn .
- Trình độ tiếp thu của học sinh không đồng đều
- Nhiều học sinh không có sách giáo khoa
- Trong quá trình làm thí nghiệm hay thí nghiệm thực hành, thì đối với học
sinh khối 8 lần đầu tiếp xúc với thí nghiệm hay táy máy tự làm thí nghiệm không
đường kính ống nghiệm, cầm ống nghiệm hơi nghiêng rồi luồng máng đến tận đáy
của ống nghiệm mới đổ hoá chất vào. Sau đó dựng đứng ống nghiệm và đập nhẹ
vào thành ống cho hoá chất rơi xuống đáy ống nghiệm.
- Không đổ hoá chất lỏng quá ¼ ống nghiệm, khi pha chế dung dịch chỉ
pha chế lượng vừa đủ. Các em thường lấy hoá chất rất nhiều khi làm thí nghiệm vì
các em nghĩ lấy hoá chất càng nhiều thì phản ứng xảy ra càng nhanh, nhưng khi
giáo viên nhắc nhở các em thường đổ ngược hoá chất vào lại bình chứa thì không
đúng nguyên tắc đảm bảo an toàn. Do đó khi yêu cầu học sinh lấy hoá chất để cho
vào ống nghiệm giáo viên cần phải nói rõ lấy một lượng là bao nhiêu để tránh lãng
phí. (Ví dụ: Đối với chất lỏng là bao nhiêu ml, với chất rắn lấy lượng bằng hạt ngô,
hay mấy thìa…).
- Khi mở các nút lọ hoá chất phải đặt ngửa nút lên bàn. Học sinh có thói
quen khi mở các nút lọ hay dùng xong các ống nhỏ giọt các em thường đặt đại lên
trên bàn. Do đó giáo viên phải nhắc nhở các em vì để như vậy khi đậy nút lọ lại
hoặc dùng ống nhỏ giọt lấy hoá chất sẽ làm cho hoá chất trong lọ không đảm bảo
độ tinh khiết.
- Khi rót hoá chất cần chú ý hướng nhãn hoá chất lên phía trên để tránh
hoá chất có thể chảy theo thành lọ làm hỏng nhãn.
- Đối với các thí nghiệm tạo thành chất độc hại thì phải tiến hành ở cuối
chiều gió, phòng học phải thông thoáng.
1.2. Sử dụng đồ dùng thí nghiệm:
- Chuẩn bị trước các đồ dùng thí nghiệm cần thiết cho bài thực hành. Sử
dụng, khai thác tối đa các dụng cụ, hoá chất đã có. Bên cạnh đó có các thí nghiệm
giáo viên có thể sử dụng các dụng cụ gọn nhẹ, đơn giản, dùng lượng hoá chất nhỏ
và phải đảm bảo an toàn cho học sinh.
- Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh cẩn thận khi sử dụng đồ dùng thí
nghiệm như: ống nghiệm, cốc thuỷ tinh, đèn cồn, giá đỡ, kẹp…
Ví dụ: Khi sử dụng kẹp gỗ cần chú ý cho ống nghiệm vào cặp rồi chỉ nên
nắm chắc phần nhánh dài và dùng ngón tay cái đặt nhẹ lên nhánh ngắn, không
dùng bàn tay nắm cả hai nhánh của kẹp gỗ.
học sinh biết các kĩ thuật bảo hiểm để tạo sự tự tin, chủ động cho các em khi làm
thí nghiệm, kể cả khi có các sự cố xảy ra. Giáo viên cũng nên hướng dẫn học sinh
biết được các chất có thể dùng để sơ cứu khi làm thí nghiệm mà bị thương nằm ở vị
trí nào trong phòng thí nghiệm .
2.1. Khi bị thương:
- Khi bị đứt tay chảy máu dùng bông thấm máu, sau đó dùng bông bôi
thuốc sát trùng vào vết thương như: cồn 90
o
, dung dịch thuốc tím loãng, hoặc dùng
dung dịch FeCl
3
để cầm máu sau đó băng lại.
2.2. Khi bị bỏng:
- Bị bỏng bởi vật nóng cần đắp ngay bông tẩm dung dịch thuốc tím loãng
vào vết bỏng.
- Bị bỏng do axit thì phải dội nước rửa nhiều lần sau đó rửa lại bằng dung
dịch NaHCO
3
không được rửa bằng xà phòng.
- Bị bỏng do kiềm đặc ta cũng dội nước rửa nhiều lần sau đó rửa lại bằng
dung dịch axit axêtic loãng hay giấm.
2.3. Hít phải khí độc:
- Khi bị ngộ độc vì các chất khí cần ngưng ngay thí nghiệm, mở ngay các
cửa, đưa nạn nhân ra chỗ thoáng gió, cần xoa mặt và đầu người bị ngộ độc bằng
nước lã.
- Nếu ngộ độc do hít phải khí clo, brôm…cần cho nạn nhân nằm ở chỗ
thoáng, nới dây thắt lưng, cho thở không khí có một lượng nhỏ amoniăc hoặc có thể
dùng hỗn hợp cồn 90
o
với amoniăc.
có lẫn tạp chất.
- Nếu hoà tan một lựơng lớn chất tan trong bình cầu thì ta nên lắc tròn.
- Nếu hoà tan trong ống nghiệm thì nên lắc ngang, không lắc dọc ống nghiệm
- Đa số chất rắn khi đun nóng sẽ tan nhanh hơn. Vì vậy khi hoà tan các chất
rắn ta có thể đun nóng.
Pha chế dung dịch, làm chất chỉ thị
Ví dụ : Pha chế dung dịch hồ tinh bột:
Muốn pha chế 200ml dung dịch hồ tinh bột thì ta lấy 0,5g tinh bột đã
nghiền thật nhỏ cho vào khoảng 50ml nước lạnh làm thành bột loãng. Vừa khuấy
đều vừa đổ từ từ bột loãng đó vào khoảng 150 ml nước đun sôi ta sẽ được hồ tinh
bột.
Ví dụ : Pha chế dung dịch nước vôi trong:
Hoà tan vôi tôi vào nước do độ tan của vôi tôi rất nhỏ nên ta có thể tiến hành
pha như sau : cho một ít vôi tôi vào bình cầu, đổ nước cho đầy đến gần cổ bình để
diện tích tiếp xúc giữa chất lỏng với không khí là nhỏ nhất . Đậy nút kín và để lắng
hỗn hợp trong vài giờ trở lên sau đó ta lọc lấy phần nước trong
Chú ý cần phải đậy nút thật kín vì nước vôi trong tác dụng với khí
cacbonđioxit có trong không khí.
Ví dụ: Cách làm chất chỉ thị từ hoa dâm bụt
Nếu không có các chất chỉ thị trên đây để thử môi trường axit, bazơ ta
có thể chế lấy chất chỉ thị rất đơn giản, dễ dàng sử dụng như sau :
+ Thái nhỏ cánh hoa dâm bụt tươi hoặc đã khô, ngâm vào cồn trong một lọ có
nút mài. Càng nhiều cánh hoa, chất chỉ thị càng đặc.
+ Đậy nút kín, ngâm sau vài ngày.
+ Dung dịch có màu tím càng ngày càng đậm.
+ Khi cần sau 2 giờ có thể dùng làm chất chỉ thị axit, bazơ.
+ Khi dùng chúng ta chắt dung dịch ra.
+ Chất chỉ thị này trong môi trường axit sẽ có màu hồng (đỏ). Trong môi trường
trung tính không có màu (tím). Trong môi trường kiềm có màu xanh nhưng
trong đậy kín để lâu ngày thì khi lấy phần dung dịch phía trên để tiến hành thí
nghiệm sục khí CO
2
thì vẫn không thấy có hiện tượng nước vôi trong bị vẩn đục,
nhưng để thí nghiệm vẫn thành công, thì ta chỉ cần trước khi tiến hành thí
nghiệmlắc nhẹ bình rồi rồi mới lấy nước vôi trong ra để sục khí CO
2
, vì để lâu ngày
Ca(OH)
2
bị lắng xuống đáy bình. Để thí nghiệm dễ thành công hơn ta nên sử dụng
nước vôi trong vừa mới pha chế .
4/ Những yêu cầu sư phạm đối với thực hành thí nghiệm hoá học.
4.1. Tăng cường đảm bảo an toàn trong thí nghiệm.
- Để đảm bảo an toàn về sức khoẻ và tính mạng của học sinh. Trước hết
giáo viên cần loại bỏ các thí nghiệm có sử dụng các chất độc hại như: thuỷ ngân,…
Các thí nghiệm có tạo ra sản phẩm là các chất độc hại như: khí clo, khí
sunfurơ,…cần phải thực hiện trong hệ thống thiết bị kín an toàn. Các thí nghiệm
đốt cháy một số chất để tạo hỗn hợp nổ với oxi của không khí thì phải thử độ tinh
khiết của chất đó như đốt khí hiđro, khí axêtilen…
- Đối với các thí nghiệm có sử dụng dung dịch axit, dung dịch kiềm giáo
viên cần nhắc nhở học sinh cẩn thận khi thí nghiệm để hoá chất không rơi vào
người.
4.2. Phải đảm bảo thành công trong thí nghiệm:
- Kết quả của thí nghiệm sẽ tác động trực tiếp đến chất lượng dạy- học và
củng cố niềm tin của học sinh vào khoa học. Muốn đảm bảo kết quả thí nghiệm
trước hết giáo viên phải nắm vững kĩ thuật tiến hành thí nghiệm, trước khi tiến
hành thí nghiệm biểu diễn, giáo viên cần thực hiện trước khi lên lớp nhiều lần. Các
(hoặc KMnO
4
) tạo khí Clo bay lên, khí Clo làm
mất màu mẩu giấy màu ẩm. Khử lượng Clo dư bằng cách cho cả ống nghiệm vào
chậu nước, rồi mở từ từ nút cao su ra. Khí Clo sẽ tan trong nước.
Các thí nghiệm thực hành phải gắn với thực tiễn cuộc sống và sản xuất, qua đó
giúp cho học sinh nắm được kiến thức hứng thú hơn, sâu sắc hơn, kích thích học
sinh vận dụng những điều đã học để giải thích một số hiện tượng trong thực tiễn
vào cuộc sống, góp phần giáo dục hướng nghiệp thông qua môn học.
Ví dụ : Hiện tượng sắt để lâu trong không khí bị gỉ do tính chất hoá học của sắt
tác dụng với oxi tạo ra oxit sắt có màu nâu đỏ chính là lớp gỉ bọc bên ngoài.
Ví dụ: Cacbon có tính hấp phụ mạnh là có khả năng giữ trên bề mặt của nó các
chất khí, chất hơi… do vậy người ta thường dùng tính chất này để giải thích cho
hiện tượng khi nấu cơm bị khê thì người ta thường bỏ than gỗ vào nồi cơm để mất
mùi khê.
Ví dụ : Do khí hiđro có tính chất nhẹ hơn không khí nên khí hidro có thể được
bơm vào bong bóng thả trong các ngày lễ hội, bơm vào khí cầu…
4.5. Những thí nghiệm thực hành giáo viên cần chú ý:
Do nhu cầu của chương trình dạy theo phương pháp mới và góp phần phát
huy tính tích cực, phát huy trí tuệ của học sinh. Giáo viên cần phải lựa chọn thí
nghiệm có nội dung và phương pháp tiến hành đáp ứng với yêu cầu cơ bản của
chương trình. Sau đây là các dạng thí nghiệm thực hành cần được quan tâm:
a. Thí nghiệm nghiên cứu về tính chất vật lí của các chất:
Qua các thí nghiệm của học sinh làm hoặc của giáo viên biểu diễn. Học
sinh có thể rút ra được tính chất vật lí của chất đó.
Ví dụ : Tính chất vật lí của axit sunfuric.
Giáo viên cho học sinh quan sát lọ đựng dung dịch axit sunfuric đặc. Sau đó
lấy một cốc thuỷ tinh đựng 10ml nước, cho từ từ dung dịch axit sunfuric đặc vào
t
SO
2
( k)
Chú ý : khi cho lưu huỳnh vào lọ oxi phải đậy nút kín vì SO
2
rất độc.
2. Tác dụng với photpho.
Cho vào muôi sắt một lượng photpho đỏ bằng
hạt đậu xanh rồi đặt lên ngọn lửa đèn cồn .
Yêu cầu học sinh quan sát và nhận xét?
(Photpho cháy với ngọn lửa xanh mờ)
Đưa nhanh Photpho đang cháy vào lọ đựng
khí oxi.
Học sinh quan sát và nhận xét hiện tượng?
( Photpho cháy mạnh trong oxi với ngọn lửa sáng chói,
tạo ra khói dày đặc bám vào thành lọ dưới dạng bột).
Giáo viên giới thiệu chất sinh ra là điphotpho pentaoxit (P
2
O
5
).
Học sinh rút ra được tính chất và viết được phương trình hoá học .
4P
( r )
+ 5O
2
3Fe
(r )
+ 2 O
2
( k)
0
t
Fe
3
O
4
( r)
Chú ý : dưới đáy lọ đựng oxi nên để ít nước hoặc
cát để tránh dây sắt cháy rớt xuống nóng làm bể lọ.
c. Thí nghiệm điều chế các chất
Ví dụ : Điều chế khí oxi
Cho một lượng thuốc tím KMnO
4
vào ống nghiệm với chiều cao chừng 2cm.
Đậy miệng ống nghiệm bằng nút cao su có ống dẫn khí, lắp ống nghiệm nằm ngang
và miệng ống nghiệm hơi chúc xuống.
Trước khi đậy nút cao su cần cho vào trong ống nghiệm (ngay miệng ống
nghiệm) một ít bông để hạn chế bụi thuốc tím bay sang ống dẫn khí khi phản ứng
hoá học xảy ra.
Dùng đèn cồn hơ dọc ống nghiệm sau đó
CaCl
2(dd)
+ H
2
O
(lỏng )
(trắng) (không màu)
Qua tính chất này học sinh rút ra được CaO được dùng để khử chua đất trồng
trọt, xử lí chất thải công nghiệp.
5/ Một số điểm cần lưu ý khi tiến hành thí nghiệm hoá học ở trường THCS
Trong dạy học hoá học ở trường THCS, người ta phân loại các thí nghiệm hoá
học như sau: thí nghiệm biểu diễn của giáo viên và thí nghiệm do học sinh tự làm.
5.1. Thí nghiệm biểu diễn:
- Là cơ sở cụ thể hoá những khái niệm về chất và phản ứng hoá học.
Trong các thí nghiệm biểu diễn giáo viên là người thực hiện các thao tác, điều
khiển các quá trình biến đổi của chất, học sinh chỉ theo dõi, quan sát và nhận xét
các quá trình đó.
- Thí nghiệm biểu diễn có thể tiến hành bằng hai phương pháp chính:
phương pháp minh hoạ và phương pháp nghiên cứu. Trong đó phương pháp nghiên
cứu có giá trị tích cực, có tác dụng kích thích, tạo được hứng thú học tập cho học
sinh.
- Các thí nghiệm giáo viên biểu diễn thường là các thí nghiệm nguy hiểm,
khó thực hiện, hoá chất khan hiếm, đắt tiền, các phản ứng xảy ra có chất độc, do đó
khi giáo viên biểu diễn thì học sinh quan sát để rút ra nhận xét.
Ví dụ: Tính háo nước của axit sunfuric đặc.
Cho 6g đường cát trắng vào đáy cốc thuỷ tinh rồi
cho từ từ 5ml dung dịch H
2
thời gian, dụng cụ, hoá chất hơn. Giáo viên có thể sử dụng một số kĩ năng, kĩ xảo
trong quá trình tiến hành.
Ví dụ : Nhận biết tính chất vật lí “ Khí Hiđro nhẹ hơn không khí”
Theo như SGV hướng dẫn giáo viên dùng quả bong bóng bay để chứng
minh. Theo tôi nếu sử dụng quả bong bóng đã bơm sẵn khí hiđro thì: một là giáo
viên phải điều chế khí hiđro và dẫn vào quả bong bóng, hai là giáo viên phải mua
sẵn quả bong bóng bay nhưng nếu để lâu (qua ngày) bong bóng sẽ bị xẹp dần, dẫn
đến giáo viên phải mua quả bong bóng khác không đảm bảo kinh tế.
Để đơn giản dụng cụ chỉ cần ống nghiệm có nhánh, ống nhỏ giọt gắn vào
nút cao su, ống dẫn khí có đầu vuốt hơi nhọn.
Pha dung dịch nước xà phòng đặc vào chén sứ. Nhúng đầu ống dẫn khí vào
dung dịch nước xà phòng đặc, bong bóng xuất hiện ở đầu ống dẫn khí và lớn dần.
Sau đó chỉ cần gõ nhẹ vào ống dẫn, bong bóng sẽ bay lên. Ở thí nghiệm này khi
tiến hành biểu diễn giáo viên có thể gặp tình huống không tạo ra được bong bóng ở
đầu ống dẫn hoặc bong bóng tạo ra chưa kịp bay lên đã bể. Do đó khi tiến hành thí
nghiệm giáo viên cần lưu ý nhúng đầu ống dẫn vào nước xà phòng phải nhắc lên
ngay, để miệng ống hơi nghiêng lên phía trên. Trong dung dịch nước xà phòng đặc
hoà thêm một vài giọt glixêrin để tạo cho bong bóng có độ bền hơn.
Ví dụ: Tính chất khí hiđro tác dụng với oxi ( đốt khí hiđro và quan sát ngọn
lửa)
Khi đã điều chế hiđro bằng cách cho Zn vào dung dịch axit HCl. Nối ống dẫn
khí hiđro bằng nút cao su có gắn ống thuỷ tinh vuốt nhọn.
Giáo viên tiến hành thử độ tinh khiết của khí hiđro rồi mới đốt khí hidro.
Khi thử độ tinh khiết của khí hiđro giáo viên phải khéo léo trong cách đặt
ống nghiệm để đốt hiđro ta sẽ nghe được tiếng nổ khác nhau:
+ Nếu để miệng ống nghiệm hơi chúc xuống và đưa miệng ống nghiệm
đến gần ngọn lửa thì nghe tiếng nổ nhỏ.
+ Nếu để ống nghiệm thẳng đứng, miệng ống nghiệm úp xuống và đưa
miệng ống nghiệm đến gần ngọn lửa thì nghe tiếng nổ lớn.
Sau đó giáo viên tiến hành đốt khí hiđro để học sinh quan sát và biết là khí
sinh tiến hành thí nghiệm nghiên cứu bài mới, giáo viên cần phải hướng dẫn kĩ các
bước tiến hành thí nghiệm, cụ thể rõ ràng, hướng dẫn tới đâu học sinh tiến hành tới
đó để không bị nhầm lẫn hoá chất .
Ví dụ : Thí nghiệm cho dung dịch NaOH tác dụng với dung dịch axit HCl
Các bước tiến hành:
+ GV yêu cầu: Lấy 1 - 2ml dung dịch NaOH cho vào ống nghiệm (học sinh tiến
hành làm)
+ GV yêu cầu: Để dễ quan sát có phản ứng hoá học xảy ra ta nhỏ 1 giọt
phenolphtalêin vào ống nghiệm đựng dung dịch NaOH (học sinh tiến hành làm và
quan sát màu của dung dịch ).
+ GV yêu cầu: Thêm vào ống nghiệm 1 - 2ml dung dịch HCl (học sinh tiến hành
và quan sát )
Qua thí nghiệm học sinh tự rút ra được kết luận: Dung dịch NaOH đã phản
ứng với dung dịch HCl .
Học sinh viết phương trình phản ứng:
NaOH (dd) + HCl(dd) NaCl (dd) +H
2
O (lỏng).
- Thực tiễn chỉ ra rằng, tiến hành thí nghiệm bằng phương pháp nghiên cứu sẽ
kích thích hơn hoạt động tích cực của học sinh trong giờ học hoá học, đồng thời tạo
điều kiện phát triển kĩ năng làm việc độc lập của học sinh.
- Khi học sinh tự thí nghiệm để nghiên cứu bài mới thường hay có các tình
huống xảy ra, làm cho thời gian thí nghiệm kéo dài, kéo theo không đủ thời gian
cho tiết học. Do đó giáo viên cần lựa chọn thí nghiệm để học sinh làm. Có một số
thí nghiệm dễ tiến hành nhưng trong quá trình phản ứng lại xảy ra hơi chậm. Vậy
khi gặp các thí nghiệm đó giáo viên nên làm cách nào mà vẫn đảm bảo thời gian
cho một tiết dạy. Sau đây tôi xin giới thiệu một số thí nghiệm sau:
Ví dụ : Tính chất “Sắt tác dụng với dung dịch axit HCl”
Đây là một thí nghiệm mà khi phản ứng xảy ra hiển nhiên sẽ tạo ra khí
nghiệm của các em đang làm bị vỡ. Khi gặp tình huống này giáo viên không nên la
mắng học sinh, mà phải giải thích cho học sinh biết tại sao ống nghiệm của các em
đang làm lại bị vỡ.
Giáo viên có thể giải thích: Là do trước khi nung ống nghiệm đựng KMnO
4
các em chưa hơ nóng đều ống nghiệm mà đã tập trung ngọn lửa nơi có KMnO
4
, do
đó thuỷ tinh giãn nở đột ngột nên bị vỡ (nứt ). Có thể là do khi đun các em để ống
nghiệm chạm vào tim đèn cồn…
Như vậy giáo viên vừa giải quyết được tình huống mà vừa khắc sâu cho
học sinh kĩ năng khi thực hành.
b. Thí nghiệm thực hành :
Mục đích và yêu cầu khi tiến hành thí nghiệm thực hành ở trường
THCS :
- Mục đích cơ bản của loại thí nghiệm này là củng cố những kiến thức mà
học sinh đã lĩnh hội trong các giờ học trước, qua tiết thực hành học sinh quan sát
hiện tượng phản ứng xảy ra, dẫn đến học sinh khắc sâu kiến thức hơn, rèn luyện kĩ
năng, kĩ xảo và kĩ thuật tiến hành thí nghiệm .
- Để các thí nghiệm trong bài thực hành được thành công, thì học sinh phải
chuẩn bị trước mục đích của bài thực hành từ ở nhà. Bên cạnh đó giáo viên lựa
chọn một số em ham thích bộ môn hoá học và lập ra nhóm “Yêu hoá học” để phụ
với giáo viên trong việc chuẩn bị đồ dùng thí nghiệm và tập làm trước một số thí
nghiệm đơn giản để hướng dẫn lại cho các bạn.
- Giáo viên cũng cần phải xác định nội dung và phương pháp thực hiện giờ
thực hành sao cho phù hợp với đặc điểm nội dung và thời gian quy định của tiết
học. Các thí nghiệm được học sinh tiến hành phải đơn giản, đảm bảo an toàn cho
học sinh.
Giải thích và nêu kết luận.
Viết phương trình hoá học
1…
2….
…… …… …….
-Giáo viên hướng dẫn đại diện các nhóm rửa sạch dụng cụ thí nghiệm, sắp
xếp ngăn nắp các hoá chất và dụng cụ vào nơi qui định.
- Giáo viên cho học sinh thu dọn vệ sinh và trả các hoá chất về chỗ cũ.
- Giáo viên nhận xét buổi thực hành, đánh giá cách tiến hành thí nghiệm của
một số nhóm.
C/ HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI:
- Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy để hình thành và phát triển kĩ năng làm thí
nghiệm cho học sinh không phải chỉ một đến hai tiết dạy mà là trong suốt quá trình
dạy – học.
- Qua các tiết dạy có đồ dùng thí nghiệm, giáo viên phải luôn nhắc nhở,
hướng dẫn cho học sinh một số thao tác cơ bản để tạo thành thói quen cho các em.
- Qua theo dõi học sinh tiến hành thí nghiệm, từ các buổi mới làm quen với
thí nghiệm cho đến hết học kì I . Tôi nhận thấy một số kết quả sau:
* Ở lớp 8 :
+ Qua bài thực hành số 1: Do mới được tiếp xúc với các chất hoá học và
mới được làm thí nghiệm ,mặc dù đã được giáo viên hướng dẫn , như cách lấy hoá
chất, các thao tác khí thí nghiệm, rửa các dụng cụ của các em còn lúng túng.
+ Qua bài thực hành số 2 : do được nhắc nhở nhiều lần trong quá trình và
thí nghiệm nên thao tác thí nghiệm có nhanh nhẹn hơn, biết cách để các dụng cụ
sao cho thuận tiện khi làm.
+ Qua bài thực hành số 3: Các em có kĩ năng làm thí nghiệm, thao tác F/ TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Thí nghiệm thực hành lí luận dạy học hóa học- Tác giả Nguyễn Cương,
Dương Xuân Trinh, Trần Trọng Dương – Nhà xuất bản giáo dục -1880.
- Phương pháp tiến hành thí nghiệm hóa học ở trường THCS- Tác giả Trần
Quốc Đắc – Nhà xuất bản giáo dục - 2005.
- Phương pháp giáo dục tích cực lấy học sinh làm trung tâm -Tác giả GS
Nguyễn Kỳ– Nhà xuất bản giáo dục - 1995.
- SGK hóa học 8 và 9
- Sách giáo viên hóa học 8 và 9 NGƯỜI THỰC HIỆN
Lê Quốc Thông
Nhận xét của hội đồng thẩm định SKKN
1. Đạt hay không đạt :
2. Xếp loại :
3. Nhận xét sáng kiến kinh nghiệm :
- Phương pháp giáo dục - Lĩnh vực khác:
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị Trong Ngành
1. Tính mới
- Có giải pháp hoàn toàn mới
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có
2. Hiệu quả
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại
đơn vị có hiệu quả
3. Khả năng áp dụng
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Tốt Khá Đạt
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và
dễ đi vào cuộc sống: Tốt Khá Đạt
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả
trong phạm vi rộng: Tốt Khá Đạt
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký tên, ghi rõ họ tên và đóng dấu)