SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT HỒNG BÀNG
Sáng kiến kinh nghiệm
Đề tài
RÈN LUYỆN KHẢ NĂNG CẢM THỤ VĂN HỌC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Họ tên giáo viên: ĐỖ THỊ HỒNG NHUNG
Tổ: Ngữ văn
Năm học: 2012 – 2013
Trang 1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị Trường THPT Hồng Bàng
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN LUYỆN KHẢ NĂNG CẢM THỤ VĂN HỌC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Người thực hiện: Đỗ Thị Hồng Nhung
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục:………………………….
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn
- Lĩnh vực khác: ............................................
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Ngữ văn
Số năm có kinh nghiệm: 12
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 12 năm gần đây:
1. Phong cách giảng dạy của giáo viên bộ môn văn- Tiếng việt bậc THPT.
2. Chuyên đề: Một vài suy nghĩ khi phân tích thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
3. Tiết dạy nghị luận xã hội.
Trang 3
RÈN LUYỆN KHẢ NĂNG CẢM THỤ VĂN HỌC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
I.
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Nghề dạy học là nghề cao quý. Người giáo viên một khi chọn nghề dạy học là đã thể hiện
lòng yêu nghề. Người dạy học là kỹ sư xây đắp tâm hồn qua mỗi môn được dạy trong nhà
trường. Mỗi môn học thì việc dạy và học có đặc thù riêng của nó. Môn văn cũng không ngoại lệ.
Không giống với bộ môn khác trong nhà trường, môn văn có một đặc trưng riêng, để cảm thụ
được nó người học phải có một khả năng tư duy trừu tượng cao, người học văn không chỉ đơn
thuần nắm được nội dung tác phẩm mà phải rung cảm trước nó, có như vậy mới chiếm lĩnh hết
cái hay, cái đẹp của tác phẩm, mới yêu thích môn văn. Hơn nữa, thực tế theo nhu cầu của cuộc
sống hiện nay đại đa số học sinh rất thờ ơ với môn văn, không hứng thú, học chống đối, chỉ chú
tâm đến các môn tự nhiên do cơn lốc của cơ chế thị trường, học sinh yêu thích văn chương ngày
một ít đi vì theo các em chọn lựa các môn tự nhiên dễ học và cho rằng dễ tìm trường thi, có cơ
hội tìm được việc làm, còn theo văn chương đã ít trường thi lại còn khó xin được việc. Ngoài ra
khối thi D, C các ngành không phong phú bằng khi thi các khối A, B…
Là một giáo viên dạy môn Ngữ văn trong trường THPT và đa số dạy lớp 12, tôi đã từng
giật mình và nhận thấy một thực tế đáng buồn khi học sinh hỏi: “ Cô ơi, học môn ngữ văn để
văn ở hai lớp: 12A1 (lớp chọn khá của trường) và 12A12 (lớp yếu nhất của trường), khi tôi ra
hai dạng câu hỏi: tái tạo và cảm thụ tác phẩm thì kết quả trả lời của học sinh như sau:
Trả lời
Câu hỏi tái tạo
Câu hỏi cảm thụ
IV.
Đúng
Tương đối đúng
Chưa đạt
A1
A12
A1
A12
A1
A12
30
10
10
01
hoạt… “thuần nông” như thế. Tác phẩm lại viết trong thảm cảnh nạn đói năm 1945 của
nước ta nên trước măt ta hiện lên cảnh “ tối sầm vì đói khát ấy”.
1.2/ Đọc văn bản: đây là một thao tác không thể thiếu trong giờ đọc văn, vì đọc giúp người học
sẽ tiếp nhận tác phẩm: đọc kĩ cả tác phẩm, đọc lướt, đọc sáng tạo… khi học sinh đọc diễn cảm là
đã nắm bắt được giá trị nội dung tư tưởng, thẩm mỹ và phong cách nghệ thuật của tác phẩm.
Đồng thời học sinh có thể liên tưởng, tưởng tượng và thâm nhập vào nhân vật, vào tác phẩm, tư
tưởng của nhà văn.
Ví dụ1 : cho học sinh đọc đoạn trích trong tác phẩm “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu
Quang Vũ (SGK lớp 12, tập 2), khi trong vai vợ Trương Ba thì ở màn đối thoại đầu vợ Trương
Ba nói với giọng trách móc, đau khổ; nhưng đến màn kết thì nói với giọng trữ tình, đầy yêu
thương khi Trương Ba rời khỏi xác hàng thịt để được là chính mình với những hình ảnh đẹp
trong lòng người thân.
Ví dụ 2: đọc bài thơ “ Sóng”, Xuân Quỳnh (SGK lớp 12, tập 1); ba khổ thơ đầu đọc nhanh,
mạnh, ào ạt như những cơn sóng biển bởi đó là những cơn sóng lòng của người con gái đang
yêu; đến khổ thơ cuối, đọc giọng chậm rãi, chiêm nghiệm cuộc đời.
Trang 5
Vì vậy, việc đọc đúng, diễn cảm sẽ giúp học sinh cảm nhận được những hình tượng trong
tác phẩm, thời đại của tác phẩm, tư tưởng của nhà văn.
1.3/ Tìm hiểu văn bản:
Bên cạnh việc phân tích nội dung và nghệ thuật của văn bản bằng phương pháp thuyết
giảng cũ thì tôi không bàn đến nữa, tuy nhiên việc để học sinh yêu thích và cảm thụ được tác
phẩm thì theo tôi rất cần một số thao tác sau trong quá trình tìm hiểu văn bản:
- Bằng con đường đàm thoại, gợi mở, giáo viên tạo ra cho lớp học một không khí tự do tư tưởng,
tự do bộc lộ nhận thức của mình., giờ học có không khí tâm tình, trao đổi thân mật về những vấn
đề trong cuộc sống do nhà văn nêu lên, mối liên hệ giữa nhà văn, giáo viên, học sinh được hình
thành ngay trong lớp học. Qua hệ thống câu hỏi gợi mở của giáo viên và phản hồi của học sinh
sẽ giúp khả năng cảm thụ của học sinh được phát huy. Những câu hỏi không chỉ thể hiện việc
khai thác giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm mà còn thể hiện logic kiến thức, tiến trình
- Lời giảng bình của giáo viên có vai trò rất quan trọng trong việc phát huy khả năng cảm thụ tác
phẩm của học sinh. Thực tế cho thấy giáo viên nào bình giỏi thì giờ dạy sẽ gây hứng thú và
mang màu sắc cảm xúc văn học rõ rệt, giờ giảng văn thành công thì không thể thiếu lời bình của
Trang 6
giáo viên, chứng tỏ giáo viên hiểu tác phẩm đến mức nhuần nhuyễn biến thành rung động cảm
xúc, tình cảm chủ quan và gây truyền cảm cho người học.
Ví dụ: Sau câu nói nửa đùa nửa thật của Tràng (Vợ nhặt, Kim Lân), thị theo Tràng về thật.
Tràng lo lắm… nhưng “Chậc, kệ”. Phải nói là Tràng liều, đang đứng bên bờ vực thẳm của cái
đói mà còn dám đèo bòng . Cái từ ấy đã thể hiện được tình người của Tràng, nếu vị trí như
Tràng thì phải làm sao đây?... “xấu người nhưng đẹp nết”, đúng là “lá rách đùm lá nát”…
2/ Giáo dục kĩ năng sống:
“ Văn học là nhân học”, bản thân nó chứa đựng những nội dung cơ bản của việc giáo dục
kĩ năng sống, giúp học sinh có năng lực ngôn ngữ để học tập, giao tiếp, nhận thức về xã hội và
con người; giúp học sinh làm giàu cảm xúc, thẩm mỹ và hoàn thiện nhân cách. Đặc biệt là học
sinh Trung học phổ thông, đối tượng học sinh đã tương đối vững về kiến thức, có hiểu biết và kĩ
năng sống cho bản thân, cơ bản hình thành giá trị về nhân cách. Giáo dục kĩ năng sống qua tác
phẩm văn học giúp học sinh có nhận thức tư tưởng đúng đắn, nuôi dưỡng ước mơ, lí tưởng, biết
sống và phấn đấu không chỉ cho bản thân mà còn cho mọi người và xã hội.
Ví dụ1 :
“ Thông điệp nhân ngày thế giới phóng chống AIDS, 1-12-2003”, Cô- Phi An- nan, giáo dục
học sinh kĩ năng sống:
- Nhận thức được : đại dịch HIV/AIDS là một hiểm họa mang tình toàn cầu nên việc
phòng chống AIDS là vấn đề có ý nghĩa bức thiết và tầm quan trọng đặc biệt, là trách nhiệm của
mỗi người, mỗi quốc gia.
- Thấy rõ sức thuyết phục mạnh mẽ của bản thông điệp, tầm nhìn, tầm suy nghĩ sâu rộng
của tác giả.
- Tự nhận thức về tính chất nóng bỏng của cuộc chiến phòng chống AIDS hiện nay trên
thế giới, từ đó xác định được của mỗi cá nhân khi tham gia vào cuộc chiến đấu này.
- Thấy được một số đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm.
Môn học ngữ văn có khả năng kì diệu trong việc giáo dục nhân cách con người, không
chỉ cho học sinh những bài học sống, những trải nghiệm, mà môn học còn tự hình thành những
kĩ năng sống rất cần thiết. Từ đó học sinh sẽ yêu thích và hứng thú hơn với những tác phẩm văn
học vì học sinh thực sự được trải nghiệm, tự nhận thức tình cảm, thái độ đúng đắn, hình thành
hành vi, thói quen tốt. Học sinh có kĩ năng ra quyết định, lựa chọn con đường đi đúng đắn trước
ngưỡng của tương lai.
3/ Liên hệ thực tế:
Khi giáo viên truyền thụ kiến thức giáo điều, xa rời thực tế khiến các em không hứng thú
học tập. Vì vậy, phương pháp liên hệ thực tế của giáo viên sẽ giúp học sinh tư duy, nhận thức,
lựa chọn sáng tạo, trau dồi cho mình những tình cảm, đạo đức phù hợp với xã hội mình đang
sống, giúp các em hứng thú, say mê học tập, sẽ góp phần làm nên thành công lớn trong giờ dạy
văn.
Ví dụ 1: Khi dạy bài “ Một người Hà Nội”, Nguyễn Khải.
Qua việc dạy con của bà Hiền, GV có thể cho học sinh nhận xét về cách dạy con và liên hệ với
gia đình mình.
- Bà Hiền dạy con từ những cái nhỏ nhất: ngồi ăn, cầm bát, cầm đũa, múc canh.. Em có suy nghĩ
như thế nào?
HS tự do phát biểu, GV nhấn mạnh: đây không phải là chuyện nhỏ mà là văn hóa sống, không
được sống tùy tiện, buông tuồng.
- Bà Hiền dạy con phải có lòng tự trọng. Em suy nghĩ như thế nào về lòng tự trọng?
HS tự do phát biểu, GV nhấn mạnh: con người sống phải có lòng tự trọng dù trong bất kì hoàn
cảnh nào, bởi lòng tự trọng không cho phép con người ta sống ích kỉ, hèn nhát.
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Chiếc thuyền ngoài xa”, Nguyễn Minh Châu
GV có thể hỏi:
- Qua cảnh người đàn ông đánh vợ, em có suy nghĩ gì về hành động đó?
HS tự do phát biểu, GV nhấn mạnh: đây là hiện tượng chúng ta có thể gặp trong cuộc sống, con
người không chỉ chịu bạo lực về thể xác mà còn chịu bạo lực về tinh thần, cuộc sống và tính
cách của những đứa con rồi sẽ ra sao?
- Em có suy nghĩ gì về hình ảnh người đàn bà hàng chài?
A1
A12
A1
A12
A1
A12
40
34
27
08
08
11
06
18
02
05
05
12
Trang 10
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Đơn vị Trường THPT Hồng Bàng
Xuân Lộc , ngày
tháng
năm 2013
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2012-2013
–––––––––––––––––
Tên sáng kiến kinh nghiệm: Rèn luyện khả năng cảm thụ văn học cho học sinh THPT
Họ và tên tác giả: Đỗ Thị Hồng Nhung, Chức vụ: Phó Chủ tịch Công Đoàn
Đơn vị: Trường THPT Hồng Bàng
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác)
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn
- Phương pháp giáo dục
-
Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại đơn vị
có hiệu quả
3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Tốt
Khá
Đạt
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ đi
vào cuộc sống:
Tốt
Khá
Đạt
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong
phạm vi rộng:
Tốt
Khá
Đạt
Trang 11
Sau khi duyệt xét SKKN, Phiếu này được đánh dấu X đầy đủ các ô tương ứng, có ký tên
xác nhận và chịu trách nhiệm của người có thẩm quyền, đóng dấu của đơn vị và đóng kèm vào
cuối mỗi bản sáng kiến kinh nghiệm.
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
(Ký tên và ghi rõ họ tên)