skkn rèn luyện năng lực đánh giá TPVC cho học sinh THPT - Pdf 32

RÈN LUYỆN NĂNG LỰC ĐÁNH GIÁ TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Năng lực đọc văn, hiểu văn, đánh giá văn học là những năng lực rất quan
trọng trong hoạt động tiếp nhận TPVC. Dạy học văn trong nhà trường không chỉ
dừng lại ở khâu cảm thụ, những rung động thẩm mĩ, trực cảm nghệ thuật mà phải
biết hướng HS chuyển từ tiếp nhận cảm tính sang tiếp nhận lí tính. Bằng những
hiểu biết về văn học, người học có thể lí giải, đánh giá, nhận định giá trị mà TPVC
mang lại. Khâu đánh giá TP thể hiện rõ nhất, đầy đủ nhất năng lực tiếp nhận văn
học.
Vấn đề năng lực văn học nói chung và năng lực đánh giá TPVC nói riêng đã
được quan tâm từ lâu. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có công trình nào đi sâu
nghiên cứu một cách chuyên biệt về năng lực này, đặc biệt là năng lực đánh giá
TPVC. Vì vậy, chúng tôi cho rằng vấn đề về năng lực văn học nói chung và năng
lực đánh giá TPVC nói riêng đang còn là một ẩn số cần tiếp tục nghiên cứu về lí
luận và ứng dụng vào thực tiễn dạy học ở trường THPT.
Phương pháp dạy học văn truyền thống đã bộc lộ nhiều hạn chế, mà hạn chế
lớn nhất đó là chưa phát huy được những khả năng, cũng như khai thác những
tiềm năng ở người học. Quan điểm dạy học coi HS là bạn đọc sáng tạo đã trả lại
đúng vị trí người học trong hoạt động dạy học văn. Dạy học văn trong nhà trường
ngoài nhiệm vụ giáo dục nhận thức, rèn luyện, bồi dưỡng về đạo đức, nhân cách, lí
tưởng, tình yêu quê hương, gia đình, tình yêu đất nước…còn một nhiệm vụ quan
trọng là rèn luyện và phát triển năng lực đọc văn, hiểu văn, năng lực đánh giá
TPVC cho HS. Đây là mục tiêu trọng yếu trong dạy học văn ở nhà trường PT để
HS dần dần hình thành phẩm chất và năng lực của một bạn đọc đích thực, bạn đọc
có văn hóa. Muốn vậy, vấn đề đổi mới PPDH là vấn đề sống còn, nhằm vực dậy
chất lượng dạy học bộ môn văn vốn đã chịu nhiều “búa rìu” từ công luận. Điểm
mới của đổi mới phương pháp là đưa HS vào trung tâm của hoạt động dạy học.
GV giữ vai trò thiết kế, điều khiển hoạt động học của HS còn HS phải là người
chủ động tìm kiếm, phát hiện và thu nhận tri thức. Đây là bước tiến quan trọng
trong việc chuyển người học từ tư cách đối tượng thụ động sang tư cách chủ thể

khích thích sự sáng tạo của HS.


Đánh giá TP là khâu hết sức quan trọng, không thể thiếu của cảm thụ văn
chương. Tuy nhiên, việc hiểu và đánh giá đúng giá trị của TP không phải là dễ,
nhất là đối với HS THPT. Vì vậy, việc vận dụng những tư tưởng, quan điểm đổi
mới dạy học văn vào thiết kế, tổ chức giờ học trên lớp là việc làm vô cùng cần
thiết, góp phần nâng cao năng lực văn học cho học sinh THPT.
Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Rèn luyện năng lực đánh giá
TPVC cho học sinh THPT” để nghiên cứu là cần thiết và thiết thực, đáp ứng được
yêu cầu, đòi hỏi nâng cao năng lực tiếp nhận văn chương cho HS THPT, phù hợp
với định hướng đổi mới PPDH, góp phần đào tạo nên các thế hệ HS là những bạn
đọc đích thực, bạn đọc sáng tạo, những người đọc có văn hóa trong tương lai.
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận
1.1. Tiền đề lí luận dạy học văn về sự phát triển năng lực văn học cho HS
THPT
* Về sự phát triển năng lực văn của HS THPT
“Mặc dù sự phát triển của HS về trí tuệ và văn học có quy luật khác nhau
nhưng mối quan hệ giữa hai mặt đó sâu sắc và hiển nhiên”[14, tr. 66]. Do sự phát
triển không đồng đều cho nên HS trong cùng một độ tuổi có thể có những trình độ
phát triển văn học khác nhau. Tuy nhiên, ngoài những sự khác biệt ấy, HS cùng
lứa tuổi cũng tương đối giống nhau về đặc điểm tâm sinh lý, về trình độ nhận thức
và nhiều cái chung khác. Vì vậy, có thể nói đến những đặc điểm về sự phát triển
năng lực văn học của HS ở độ tuổi THPT.
Thời kì tuổi đầu thanh niên là thời kì nảy nở về mặt tinh thần và thể lực, trí
tuệ phát triển, thế giới quan hình thành một cách rõ rệt. Các em có khả năng tư
duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo. HS có nhu cầu đánh giá,
và có khả năng đánh giá sâu sắc những vấn đề gặp phải từ cuộc sống. Tuy nhiên,
một nhược điểm dễ nhận thấy ở lứa tuổi này là thường có xu hướng cường điệu

“Tác phẩm văn học là một đối tượng nhận thức đặc thù…Muốn chiếm lĩnh
nó không thể vận dụng những năng lực hoạt động nhận thức chung mà cần đến
những năng lực đặc thù qua hoạt động thẩm mĩ vốn là một loại hoạt động nhận
thức phát triển ở mức cao hơn những hình thức hoạt động nhận thức bằng thực


tiễn hay hoạt động nhận thức bằng lí luận”[10, tr.211]. GS. Phan Trọng Luận là
người đã đề cập đến năng lực tiếp nhận văn học HS. Năng lực tiếp nhận TPVC là
một hệ thống gồm nhiều năng lực.
- Năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật
- Năng lực nhận biết loại thể để định hướng hoạt động tiếp nhận
- Năng lực tái hiện hình tượng
- Năng lực liên tưởng
- Năng lực cảm thụ cụ thể kết hợp với năng lực khái quát hóa các chi tiết
trong chỉnh thể TP
- Năng lực cảm xúc thẩm mĩ
- Năng lực tự nhận thức.
1.2. Năng lực đánh giá TPVC trong hệ thống năng lực của HS
Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê: đánh giá là nhận định về giá trị .
Đánh giá là một hoạt động nhận thức, một cơ chế tâm lí quan trọng trong quá
trình tiếp cận và lĩnh hội các khách thể của hiện thực như là những giá trị. Việc
đánh giá được hiểu là một hành động lí tính mà nhờ đó con người thực hiện việc
chọn lựa giữa các khách thể để xếp một bộ phận của chúng vào các giá trị. Hoạt
động đánh giá diễn ra ở nhiều cấp độ. Ở mức độ cao đó là sự đánh giá các sự vật,
hiện tượng xã hội hoàn toàn mới mẻ mà bản thân cá nhân vừa mới sáng tạo ra
được, hoặc vừa mới được các chủ thể khác sáng tạo ra. Trong trường hợp này thì
hoạt động sáng tạo và tính tích cực của cá nhân nổi lên hàng đầu.
Đánh giá là một hoạt động nhận thức phức tạp của tư duy. Cũng như đối với
nhận thức, mọi yếu tố tâm lí đều tham gia vào hoạt động đánh giá. Xét cho cùng
hoạt động đánh giá vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan về đối

Nhìn chung, trong hệ thống năng lực văn học, mỗi năng lực có một chức
năng riêng, tuy nhiên, nó không tồn tại độc lập, riêng biệt mà có sự tương hỗ,
tương tác lẫn nhau trong hoạt động tiếp nhận văn học. Vì vậy, Phát triển năng lực
đánh giá TPVC gắn liền với việc phát triển và hoàn thiện hệ thống năng lực văn
học cho HS. Các năng lực trong cấu trúc năng lực văn học có quan hệ hữu cơ, biện
chứng. Vì vậy, rèn luyện năng lực đánh giá TPVC cho HS cũng gắn liền với sự
hình thành và phát triển toàn diện hệ thống năng lực văn học của HS.
2. Cơ sở thực tiễn


2.1. Thực trạng dạy học TPVC ở trường THPT theo hướng rèn luyện năng lực
đánh giá cho HS
Với hình thức dự giờ, trao đổi, xem vở, giáo án, tôi đã có cái nhìn khá
khách quan, sát thực tế về tình hình rèn luyện năng lực đáng giá TPVC cho HS
của GV và năng lực đánh giá TPVC của HS hiện nay ở Trường THPT Sông Ray:
chúng tôi nhận thấy rằng đa số GV đều nhận thức được sự cần thiết của việc rèn
luyện năng lực đánh giá TPVC cho HS. Vì, hầu hết GV đều cho rằng năng lực
đánh giá TP là một tiêu chuẩn phát triển về năng lực văn của HS. Bản thân mỗi
GV đứng lớp đều mong muốn dành một khoảng thời gian thoả đáng từ 5 –10 phút
để hướng dẫn HS đánh giá. Đây là tín hiệu đáng mừng cho thấy sự quan tâm của
GV về việc nâng cao chất lượng dạy học văn ở THPT.
Tuy nhiên, qua kết quả khảo sát, chúng tôi cũng nhận thấy GV chọn công
đoạn cho học sinh đánh giá TP chủ yếu ở khâu tổng kết bài học mà chưa hướng
dẫn HS đánh giá trong quá trình tìm hiểu, phân tích văn bản , nhằm góp phần phát
triển năng lực văn học của HS.
Theo chúng tôi, GV cần tăng cường hơn nữa việc định hướng, hướng dẫn HS
đánh giá TP nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn văn ở THPT.
2.2.. Một số nhận xét, đánh giá thực trạng
Về phía GV:
- GV chưa định hướng những tiêu chuẩn để hướng dẫn cho HS đánh giá

Hoạt động nhận thức là một quá trình. Từ nhận thức đến nhận định giá trị
cũng là một quá trình. Công việc đọc văn, hiểu văn cũng có qui luật tương tự. Để
có những đánh giá xác đáng, thấu đáo không chỉ đòi hỏi người tiếp nhận có những
hiểu biết tường tận TP, mà còn có những hiểu biết về tác giả, về thời đại TP ra đời,
về trào lưu mà tác giả sáng tác, những TP của cùng tác giả, những TP của những
tác giả cùng thời. Chúng ta không đòi hỏi quá nhiều ở trình độ nhận thức và hiểu
biết của HS nhưng chúng ta có quyền để trông mong, chờ đợi những kiến giải từ
họ trong tiếp nhận và đánh giá TP. Chúng tôi cho rằng cần phối hợp nhiều hoạt
động trong giờ học ở lớp hoặc ở nhà nhằm phát triển năng lực đánh giá cho HS.
Theo chúng tôi, GV cần rèn luyện cho HS những hoạt động sau:
- Hoạt động đọc có kèm bình luận
Đọc TP là khâu quan trọng trong quá trình tiếp nhận, là hoạt động đặc thù
của nhận thức văn học, là sự giao tiếp giữa bạn đọc - HS với tác giả. GS. Phan


Trọng Luận cho rằng: “Con đường đi vào tác phẩm nhất thiết phải từ đọc, gắn liền
với việc đọc”. Chính hoạt động đọc đã rút ngắn khoảng cách giữa HS và tác giả.
Đọc là cơ hội để HS dấn thân vào thế giới nghệ thuật của TP, là bước khởi đầu
quan trọng để nắm bắt được ý đồ của người sáng tạo. Qua đọc, thế giới hình
tượng, những cảm xúc, suy tư được sống dậy và hiện lên trong tâm tưởng của HS,
người đọc “Có thể đối thoại với tác giả để cố gắng đi tới tận cùng cái mà người
sản sinh ra văn bản gửi gắm vào câu, chữ, hình ảnh”[12, tr. 88]. Cùng với đọc, GV
yêu cầu HS đưa ra những nhận xét, bình luận ban đầu về TP.
VD1: Em có nhận xét gì về bà cụ Tứ trong đoạn bà tâm sự với người vợ nhặt
trong tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân.
VD2: Xứ Huế hiện lên như thế nào qua bốn câu thơ đầu? Em có nhận xét gì
về tình cảm của Hàn Mặc Tử với vùng đất cố đô.
Trong dạy học TPVC, GV cần chú ý nhiều đến hoạt động đọc, nhưng không
chỉ đọc đơn thuần mà đọc phải gắn với bình luận. Đọc có kèm bình luận góp phần
khắc sâu những cảm nhận ban đầu của HS về TP. Vì vậy, trong dạy học TPVC,

Hoạt động tiếp nhận TPVC không chỉ dừng lại ở cấp độ hiểu biết, mà còn
phải biết suy ngẫm, bộc lộ, trải nghiệm. TP nếu thực sự được sống trong tâm hồn
bạn đọc thì nhu cầu được bộc lộ, được thể hiện là sự thôi thúc bên trong. GV tạo
mọi điều kiện để HS được bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc về TP, về nhân vật, về quan
điểm nghệ thuật của TG. Các hình thức để cho HS nhận thức, bộc lộ: viết cảm
nhận, trực tiếp phát biểu về TP, đóng vai, viết lại TP theo quan điểm riêng của
HS… Tuy vậy, GV cũng cần có định hướng, điều chỉnh kịp thời những cách hiểu
còn lệch lạc, gán ghép thiên lệch đối với TP, đồng thời khuyến khích, động viên,
tuyên dương những ý kiến mang sắc thái riêng mà bản thân các em có sự gia công,
suy nghĩ.
VD1: Điều gì làm em suy nghĩ sau khi học xong TP Chí Phèo của Nam Cao.
VD2: Bà cụ Tứ trong TP Vợ nhặt để lại cho em ấn tượng gì? Hãy trình bày
những cảm nhận của em về bà cụ Tứ.
Với những đề bài yêu cầu nhận thức, bộc lộ, GV có thể yêu cầu HS làm bài ở
nhà vì đây là dạng đề mở. Tuy nhiên, GV cũng nên tổ chức cho HS phát biểu tại
lớp để HS có cơ hội trao đổi, bàn luận.


- Hoạt động trao đổi, đối thoại
Trong dạy học, GV tổ chức trao đổi, đối thoại để HS thể hiện ý kiến, quan
điểm của cá nhân về TP. Các em được trao đổi, bàn bạc, luận giải với nhau, hoặc
đối thoại với GV. Chính hoạt động trao đổi, đối thoại là điều kiện bật lên ý nghĩa
TP. Cũng qua hoạt động này, GV có điều kiện hiểu HS hơn, điều chỉnh kịp thời
những cách hiểu, những kiến giải chưa đúng về TP, đồng thời GV có điều kiện
mở rộng hiểu biết cho HS về TP. Điểm nổi bật của hoạt động này là sự dân chủ,
bình đẳng, là điều kiện giúp HS tự tin hơn trong học tập và cuộc sống.
VD1: Nhân vật nào để lại cho em ấn tượng nhất trong Chữ người tử tù của
Nguyễn Tuân. (Đây là đề bài mà HS sẽ có nhiều lựa chọn khác nhau, điều quan
trọng cho HS đối thoại để hiểu tại sao nhân vật đó gây ấn tượng với các em).
VD2: Có ý kiến cho rằng văn hoá Kinh Bắc quyết định sự thành công của bài

chi tiết, một hình ảnh, một từ ngữ, một nhân vật, một tình huống, một sự kiện…
nào đó trong TP. Với dạng bài tập ngắn, GV có thể yêu cầu HS thực hiện tại lớp,
hay bất kì thời gian nào trong tiết dạy (tính cơ động về thời gian). Với loại bài tập
này, GV có thể nắm bắt được cách hiểu, ý kiến đánh giá của HS về TP. GV nên
tránh đặt ra đề bài mà nội dung đã được thảo luận kĩ, để hạn chế thái độ học tập
thụ động, lười suy nghĩ của HS.
- Viết bài viết định kì
Đây là loại bài tập bắt buộc GV và HS phải thực hiện theo đúng phân phối
chương trình. Bài tập mang tính tổng hợp này là điều kiện phát huy năng lực đánh
giá cũng là cơ sở để nắm bắt năng lực đánh giá TPVC cũng như năng lực tạo lập
văn bản của HS. Với lợi thế về thời gian thực hiện (đối với bài viết tại lớp được
phân phối 2 tiết; bài viết ở nhà thuận lợi hơn về thời gian), giáo viên cần phải chọn
lựa thật kĩ đề tài. Đề bài đòi hỏi phải kích thích tư duy, kích thích sự sáng tạo, khả
năng đánh giá TP, tránh sự sao chép của HS. Tuy nhiên, để đánh giá đúng năng
lực, trình độ của HS, đề bài không được đánh đố.
- Viết nhật kí học văn
Với dạng bài tập này, GV có thể yêu cầu HS nêu cảm nhận, suy nghĩ, hoặc ý
kiến đánh giá về một vấn đề bất kì mà các em có ấn tượng nhất (tốt, hoặc không
tốt), nội dung đề bài có thể khai thác tốt năng lực đánh giá ở HS. Dạng bài tập này
vừa là sản phẩm của riêng các em, vừa phải trình nộp cho GV. GV phải kiểm tra


sổ nhật kí văn học theo đúng quy định đã đề ra, nhưng cần tế nhị giữ kín những
bộc bạch riêng tư của các em (GV có thể trao đổi riêng với HS nếu thấy cần thiết).
Chúng tôi cho rằng, những trang nhật kí không chỉ thể hiện năng lực văn mà còn
thể hiện được nhân cách, tâm hồn, tình cảm của các em. Tuy nhiên, GV phải thận
trọng với kiểu bài tập này, nếu không các em dễ rơi vào lối làm việc hình thức, đối
phó.
Trên đây, chúng tôi đưa ra một số hoạt động và một số bài tập nhằm hướng
HS chủ động vào hoạt động học, góp phần nâng cao năng lực đánh giá TPVC của

khách quan trong tiếp nhận của người đọc, tạo cơ sở để GV định hướng, quy tụ sự
cảm thụ, đánh giá của HS nhằm đạt được hiệu quả tiếp nhận trong sự thống nhất
và phù hợp với nội dung, ý nghĩa khách quan của TP.
Tính thống nhất trong tiếp nhận, đánh giá văn học có cơ sở từ những yếu tố
khách quan thuộc bản chất của văn chương. Mặt khác, hoạt động tiếp nhận TPVC
còn mang đậm dấu ấn chủ quan của người thưởng thức tạo nên tính đa dạng trong
cảm thụ, đánh giá văn học.
Tính chủ quan – phẩm chất trong tiếp nhận thể hiện cá tính sáng tạo, ở sự cảm
thụ xa gần, nông sâu khác nhau của bạn đọc phát triển về văn học trước một hiện
tượng văn học. Trước một chi tiết, một hình ảnh, một sự kiện, một nhân vật…
người đọc ý kiến khác nhau, đôi khi trái chiều nhưng vẫn phù hợp với hình tượng
khách quan, nội dung khách quan của TP. Ngay cả tác giả sáng tác với bạn đọc
không phải lúc nào cũng có sự thống nhất trong cảm thụ và đánh giá TP. Điều này
tạo nên sự phong phú, đa dạng trong hiệu quả tiếp nhận văn chương. N. Đ.
Moldavskaia khẳng định rằng: chúng ta có thể nói mà không sợ lập dị rằng trong
cảm thụ hình tượng nghệ thuật càng chủ quan bao nhiêu thì càng sâu sắc và càng
đầy đủ bấy nhiêu.
Dĩ nhiên, sự đa dạng mang màu sắc chủ quan của người đọc trong tiếp nhận
phải bắt nguồn từ những thành tố cấu thành văn bản. Mọi sự đọc thoát ly văn bản,
khước từ những yếu tố liên quan đến văn bản như: hoàn cảnh xã hội ,thị hiếu thẩm
mĩ thời đại, quan điểm nghệ thuật của tác giả… đều dễ rơi vào sự tiếp nhận tuỳ
tiện, áp đặt, dung tục làm giảm sút hiệu quả tiếp nhận. Vì vậy, GV cũng cần coi


trọng định hướng, điều chỉnh những đánh giá chủ quan, tuỳ tiện, lệch lạc trong tiếp
nhận của HS.
Với đối tượng HS THPT, tiếp nhận TPVC vừa phải đảm bảo nguyên tắc khách
quan, vừa phát huy tính chủ quan trong tiếp nhận. Để việc đọc văn của các em
không phải thuần túy là sự lặp lại mà phải trên cơ sở của sự kế thừa và phát huy.
GV chính là người hướng dẫn, dìu dắt nhằm tạo được hiệu quả thống nhất trong sự

+ Đánh giá được những đóng góp của tác giả trong tiến trình phát triển văn
học dân tộc.
VD: Đọc Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, chúng ta cần đặt TP trong chủ đề về cảm
hứng yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu như: Chạy giặc, Ngóng gió đông, Thơ
điếu Phan Tòng, Thơ điếu nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh…Hơn nữa đặt TP vào trong
dòng văn học yêu nước lúc bấy giờ như: thơ Nguyễn Quang Bích, Bùi Hữu Nghĩa
và những bài thơ châm biếm, đả kích của Nguyễn Khuyến, Tú Xương để đánh giá
đóng góp của Nguyễn Đình Chiểu về nội dung, nghệ thuật, về tư tưởng… khẳng
định vị trí của ông trong dòng văn học yêu nước, chống Pháp.
* Hướng dẫn thực hiện biện pháp
- Cho HS sưu tầm những tư liệu theo yêu cầu và sự chỉ dẫn của GV. Để
nguồn tư liệu thêm phong phú, HS không những tìm sách từ thư viện mà còn tra
cứu thông tin trên mạng internet (lưu ý số lượng những nội dung học tập vừa phải,
phù hợp với nội dung dạy học và thời gian học của HS).
VD: Tìm hiểu bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ, GV yêu cầu HS tìm hiểu những nội
dung sau:
+ Hoàn cảnh và tâm trạng của Hàn Mặc Tử khi sáng tác bài thơ này? Mối tình
đơn phương của tác giả với Hoàng Cúc là điều kiện duy nhất để tìm hiểu bài thơ
không?
+ Tác giả đã từng chịu ảnh hưởng của những trào lưu nghệ thuật nào, có
chuyển hoá vào TP không?
HS tra cứu sách và những thông tin về Hàn Mặc Tử, về bài thơ Đây thôn Vỹ
Dạ trên mạng góp phần làm rõ nội dung tư tưởng và nghệ thuật của TP.
- HS tự tìm hiểu, đưa ra ý kiến, nhận định về những đóng góp của TG cho sự
phát triển văn học.


VD: Chúng ta quen thuộc với những nhận định về nhà thơ Xuân Diệu như:
“Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, “ông hoàng của thơ tình”… Với bài
thơ Vội vàng, em có nhận định gì về nhà thơ (một câu ngắn gọn nhất)?

chọn lựa ngôn từ, sự phong phú về nội dung ý nghĩa TP.
* Yêu cầu của biện pháp
- Phải bám sát văn bản, lấy sự hiểu biết chỉnh thể TP làm cơ sở của mọi sự
đánh giá.
- Đọc kĩ văn bản, nắm bắt được thể loại, cốt truyện, bố cục, nhân vật, sự
kiện, tình huống, hình tượng, ngôn từ, chủ đề TP. Từ những hiểu biết trên, HS có
sự nhận thức, đánh giá đúng đắn về nội dung và hình thức của TP.
- Trong quá trình dạy học, HS phát hiện và ghi lại từ ngữ “đắt”, lời nói hay,
các biện pháp nghệ thuật, những khoảng trống, khoảng trắng, những tình huống
truyện độc đáo, sáng tạo … đồng thời, cũng phát hiện những hạn chế về nội dung
tư tưởng và hình thức nghệ thuật của TP.
* Hướng dẫn thực hiện biện pháp
- GV cho HS đọc, đọc diễn cảm toàn bộ văn bản, hoặc những đoạn quan
trọng theo định hướng của thầy, yêu cầu HS nêu những cảm nhận ban đầu về TP.
Với những văn bản thơ, GV tổ chức đọc diễn cảm tìm ra mạch cảm xúc của bài
thơ; còn TP truyện cũng phải chú ý đến hoạt động đọc, ngoài việc đọc ở nhà, GV
lựa chọn những đoạn quan trọng, những câu văn hay, tình cảm đẹp tạo cảm xúc
khi tìm hiểu TP. VD: tìm hiểu Vợ nhặt GV nên cho HS đọc các đoạn như: Tràng
gặp gỡ người phụ nữ nghèo trong những chuyến đẩy xe bò, cảnh Tràng đưa người
phụ nữ nghèo về nhà mình, tâm sự của mẹ chồng nàng dâu, một ngày mới trong
gia đình của Tràng.
- Cho HS phân chia bố cục, sau đó GV định hướng, tổ chức cho HS phát
hiện, lí giải các chi tiết, hình tượng, biện pháp nghệ thuật quan trọng để khái quát
nên nội dung và nghệ thuật TP. Trong quá trình tìm hiểu , GV yêu cầu HS đánh
giá hiệu quả diễn đạt trong từng đoạn, từng phần.
VD: Từ ngữ nào trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng thể hiện rõ vẻ đẹp
hào hoa, lãng mạn của người lính Tây Tiến? Hãy nêu một vài cảm nhận về từ ngữ
đó, chi tiết đó.





- Phát hiện sự chuyển biến trong nhận thức của bạn đọc - HS về lẽ sống, về
hành vi, về nhân sinh quan, thế giới quan và nhu cầu tự bộc lộ, tự điều chỉnh mình.
* Hướng dẫn thực hiện biện pháp
- Cho HS nêu cảm nghĩ hoặc rút ra bài học cho bản thân sau khi tiếp nhận
TP.
VD: Bài học lớn nhất của em sau khi học xong bài thơ Vội vàng của Xuân
Diệu?
Dạng câu hỏi này giúp HS tự do thể hiện suy nghĩ, quan điểm của bản thân.
Những suy nghĩ riêng tư của HS cần được tôn trọng, kể cả những ý kiến trái chiều
nhưng phù hợp với khuôn khổ của TP, khuyến khích những luận giải mới mẻ,
sáng tạo.
- Từ TP đã học, GV cho HS viết lại TP theo quan điểm của các em (viết lại
phần đầu hoặc phần cuối TP; viết lại một số sự kiện, chi tiết…) và giải thích tại
sao lại viết như vậy; viết kịch bản hoặc sáng tác thơ… Dù hình thức nào nhưng
phải liên quan đến TP và phù hợp với năng lực của HS.
VD: Nếu có một kết thúc khác cho truyện ngắn Chí phèo của Nam Cao thì
em dự kiến sẽ kết thúc như thế nào? Hãy viết lại, và giải thích cho kết thúc đó.
HS có điều kiện suy nghĩ và thể hiện sức sáng tạo, GV phải khích thích tố
chất sáng tạo ở HS, chọn những kết thúc hay, bất ngờ để nêu trước tập thể.
.
Tóm lại, ở trên, chúng tôi đã đề xuất một số biện pháp tổ chức hoạt động dạy
học TP góp phần rèn luyện năng lực đánh giá TPVC cho HS THPT. Mỗi biện
pháp Những đề xuất trên có tính định hướng hoạt động dạy học TPVC cho GV.
Tuy nhiên, trong quá trình rèn luyện năng lực đánh giá, GV có thể linh động trong
tổ chức hoạt động để đạt hiệu quả tối ưu.

III. HIỆU QUẢ ĐỀ TÀI
Trong thời gian tiến hành thực nghiệm ở những lớp mà tôi đảm nhiệm, tôi

TPVC theo hướng hoạt động sẽ góp phần phát triển năng lực văn chương cho HS
THPT.
Từ cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, tôi đã mạnh dạn đề xuất một số biện
pháp, định hướng hoạt động dạy học nhằm rèn luyện năng lực đánh giá TPVC cho
HS THPT. Mỗi biện pháp, tôi đề ra mục đích, yêu cầu và hướng dẫn thực hiện cụ


thể. Tôi đưa ra nhiều hoạt động cho HS thực hiện trước, trong và sau bài học, để
HS chủ động tìm kiếm, phát hiện kiến thức. Các biện pháp được chúng tôi đề xuất
góp phần tăng cường hiểu biết kĩ hơn, sâu sắc hơn về TP, là điều kiện cần thiết để
HS đánh giá TPVC.
Rèn luyện năng lực đánh giá TPVC cho HS THPT là việc làm cấp thiết và có
ý nghĩa. Phát triển toàn diện năng lực văn học của HS không thể không quan tâm
đến yêu cầu này. Đây là một đề tài hấp dẫn, có tính khoa học và thực tiễn cao.
Trong khuôn khổ của một sáng kiến, tôi chưa thể giải quyết trọn ven mọi vấn đề
của đề tài. Hi vọng với một công trình nghiên cứu khác, tôi có đủ điều kiện và thời
gian sẽ giải quyết đề tài một cách sâu sắc, toàn diện hơn, góp phần ứng dụng vào
dạy học Ngữ văn trong trường PT.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. A. G. Côvaliôp (1971), Tâm lí học cá nhân, NXB Giáo dục, Hà Nội.
2. Nguyễn Thanh Hùng ( 2002), Đọc và tiếp nhận văn chương, NXB Giáo dục, Hà
Nội.
3. A. N. Lêônchiep (1989), Hoạt động – ý thức – nhân cách, NXB Giáo dục, Hà
Nội.
4. Phan Trọng Luận (1978), Con đường nâng cao hiệu quả dạy học văn, NXB
Giáo dục; Hà Nội .
5. Phan Trọng Luận (1983), Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học, NXB Giáo dục,
Hà Nội.
6. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên) (2008), Ngữ văn 11, Tập 1-2, NXB Giáo Dục,
Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status