số phận tinh thần của con người trong tác phẩm của nam cao - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ THANH TRÚC

SỐ PHẬN TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI
TRONG TÁC PHẨM CỦA NAM CAO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
Mã số: 5. 04.01

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH LÊ NGỌC TRÀ

TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2004



LỜI CẢM ƠN
Luận văn được thực hiện và hoàn thành tại Trường Đại Học Sư Phạm Tp. Hồ Chí
Minh dưới sự hướng dẫn tận tình của GS.TSKH. Lê Ngọc Trà. Thầy không những hướng
dẫn và truyền cho tôi những kinh nghiệm quí báu trong nghiên cứu khoa học mà còn động
viên khuyến khích tôi vượt qua những khó khăn trở ngại trong chuyên môn. Tôi xin bày tỏ
lòng kính trọng, lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Thầy.
Tôi xin chân thành cảm ơn quí Thầy Cô trong hội đồng đã dành thời gian đọc kỹ và
đóng góp nhiều ý kiến quí báu cho bản luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại học Sư Phạm Tp. HCM, Phòng
Khoa học Công nghệ sau Đại Học, quí Thầy Cô Khoa Ngữ Văn đã nhiệt tình giảng dạy và
tạo nhiều điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành tốt đẹp chương trình cao học và luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Cao Đẳng Sư Phạm Bến Tre, gia đình và bạn bè
gần xa đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi an tâm học tập và nghiên


T
0

2. Giới hạn của đề tài ....................................................................................................... 6
T
0

T
0

3. Lịch sử vấn đề ............................................................................................................... 6
T
0

T
0

4. Đóng góp của luận văn .............................................................................................. 16
T
0

T
0

5. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................... 17
T
0

T


1.1.2. Cái đói, miếng ăn là nỗi ám ảnh khôn cùng trong thế giới tinh thần con người 22
T
0

T
0

1.1.3. Thế giới tinh thần con người và nỗi đau âm ỉ bên trong ................................... 24
T
0

T
0

1.2. Thế giới tinh thần con người của các nhân vật trong tác phẩm Nam Cao. ....... 27
T
0

T
0

1.2.1. Thế giới tinh thần của người trí thức ................................................................. 27
T
0

T
0

1.2.2. Thế giới tinh thần của người nông dân .............................................................. 39

0

T
0

2.2. Số phận tình thần - những biểu hiện trong tác phẩm của Nam Cao ................. 51
T
0

T
0

2.2.1. Nam Cao khắc họa số phận tinh thần của con người ........................................ 51
T
0

T
0

2.2.2. Người trí thức - dấu hiệu về số phận tinh thần .................................................. 52
T
0

T
0

2.2.3. Người nông dân -ý thức về thân phận ............................................................... 69
T
0



T
0

T
0

T
0


DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài
So với các loại hình nghệ thuật khác, văn học nghệ thuật với đặc thù riêng của mình,
quan tâm và thể hiện con người ở nhiều góc độ hơn, đụng chạm đến cuộc sống nhiều hơn.
Nó là hoạt động đa dạng, đa chiều, nhiều màu sắc, nhiều tầng lớp, bao quát lẫn vĩ mô và vi
mô, cả sự tỉnh táo và mê si. Văn học là nhân học hay văn học là câu chuyện về cuộc đời, về
cõi nhân sinh là vậy.
Văn học tìm tòi, khám phá những bí ẩn, những băn khoăn về cuộc đời, về con người
để cho con người nghiền ngẫm. Muôn đời, con người và đời người vẫn là vấn đề văn học
quan tâm hàng đầu. “Lịch sử văn học chính là lịch sử tâm hồn nhân loại. . . nhiệm vụ chủ
yếu và lâu dài của văn học trong việc phản ánh hiện thực vẫn là mô tả một số phận con
người, khắc họa các tính cách con người.” [64, 45].
Tuy nhiên, tương ứng với mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn văn học khác nhau vấn đề con
người được đặt ra trong văn học cũng khác nhau. Nó tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử xã hội
cụ thể. Chẳng hạn như văn học Trung đại Việt Nam thường nghiêng về quan tâm vấn đề con
người xã hội, con người cộng đồng. Còn văn học hiện đại Việt Nam lại có sự chuyển hướng
sâu sắc, phần nào đã quan tâm đến con người cá nhân.
Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 đã miêu tả sâu sắc đời sống vật chất cũng
như tinh thần của con người cá nhân, con người cụ thể. Một số nhà văn đã đi sâu vào khám

3. Lịch sử vấn đề
Nam Cao xuất hiện trên văn đàn muộn. Khi ông bước vào làng văn, các trào lưu văn
học đã định hình và phát triển, những cây bút tên tuổi đã được khẳng định, có chỗ đứng
vững vàng. Thoạt đầu, tài năng Nam Cao chưa được các nhà chuyên môn quan tâm. Nhưng
đến thập niên 60 của thế kỷ XX trở đi, hầu hết các nhà nghiên cứu lớn đều đi vào khám phá
thế giới tác phẩm của ông. Và họ đã phát hiện ra ở đó những giá trị sâu sắc và biết bao điều
bất ngờ, đầy thú vị. Sáng tác của Nam Cao có dung lượng không lớn, không đồ sộ nhưng nó
có một sức chứa, sức khái quát rất rộng. Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận xét rất chính xác và
tinh tế : “... Ở Nam Cao có hiện tượng đề tài hẹp mà tư tưởng rộng, chủ đề lớn.” [36, 205].
Trong phạm vi giới hạn của đề tài luận văn, chúng tôi chỉ trình bày những ý kiến nổi
bật của các công trình nghiên cứu, phê bình quan trọng có liên quan đến vấn đề : Số phận
tinh thần của con người trong tác phẩm của Nam Cao .
3.1. Những ý kiến liên quan đến vấn đề số phận tinh thần của con người trong tác
phẩm của Nam Cao


Thử sống trong văn Nam Cao là một bài viết ngắn nhưng Nguyễn Lương Ngọc đã
đặt vấn đề trực tiếp về quan niệm con người trong tác phẩm của Nam Cao. Tác giả cho rằng:
“Mối quan tâm tiêu biểu của anh là làm sao cho con người được gần người hơn. Theo tôi
có hai mặt:
- Mỗi con người vượt thắng phần con trong mình để đạt được tính người hài hoa trong
con người.
- Mỗi con người gần hơn với những người khác bằng sự cảm thông chia sẻ. . . Ở mặt
thứ nhất, Nam Cao chọn con đường cực kỳ khó khăn, luôn dừng giữa tính nhân đạo và sự
nhục mạ con người, phơi lên mặt giấy sự chao đảo tính người và tính vật.” [47, 251].
Nguyễn Lương Ngọc phát hiện ra nỗi ám ảnh trong những trang viết của Nam Cao là
cuộc đấu tranh gay gắt giữa phần con và phần người trong một con người, con người phải
sống làm sao cho xứng đáng là CON NGƯỜI. Và để cho con người không rơi vào trạng thái
cô đơn, tuyệt vọng thì giữa con người với con người phải có mối giao cảm để cảm thông và
chia sẻ cùng nhau. Cũng như đa số các nhà nghiên cứu khác, Nguyễn Lương Ngọc cũng

Nam Cao đặt ra không chỉ dừng lại ở những nhu cầu, đòi hỏi vật chất mà cái cốt yếu là đời
sống tinh thần bên trong của con người. Con người phải được sống đúng nghĩa với ý nghĩa
cao quý của CON NGƯỜI: “Cũng trên vấn đề quyền sống của con người Nam Cao đẩy sâu
hơn vào phạm vi đời sống tinh thần, ..” [1,13]. Để vươn tới khát vọng được sống, đạt được
ước nguyện, quyền làm người, con người trong tác phẩm Nam Cao không chỉ phải đối mặt
với những khó khăn, thách thức của xã hội mà họ còn phải không ngừng đấu tranh, đối diện
với chính mình để vượt qua những cái thú tính, cái bản năng luôn luôn lấn át nhân cách,
nhân tính con người một cách rất khó khăn đến đau đớn, xót xa. “Ý thức tự phê phán của
nhân vật thực chất là sự phê phán hoàn cảnh. Quá trình này diễn ra không quyết liệt bằng
hành động, không nhằm thẳng vào những nhân vật phản diện mà hướng vào bên trong và
cuộc đấu tranh với bản thân diễn ra da diết, xót xa đến đau đớn.” [16, 49]. Nỗi đau của
cuộc sống con người được Nam Cao phơi bày ra trên trang giấy dường như với một thái độ
rất lạnh lùng: “Có khi ngòi bút của Nam Cao như một con dao trích lạnh lùng lách sâu vào
cơ thể bệnh tật của xã hội, phơi bày ra không tiếc thương trên trang giấy những ung nhọt
tấy đau đang hủy hoại hoặc thầm lặng, hoặc gấp rút cuộc sống con người.” [39, 32].
Nhưng thật ra nhà văn vô cùng băn khoăn, trăn trở và cảm thông với thân phận con người
trong cuộc chiến không cân sức ấy. Trong cuộc giằng co, giành giật phần NGƯỜI ác liệt
này, con người đã thất bại thê thảm. Con người cứ chết mòn dần, bị hủy hoại một cách gấp
rút, ào ạt hoặc thầm lặng.


Như vậy, Hà Minh Đức đã đề cập đến khát vọng sống, quyền làm người của con người
- trong đó có đời sống tinh thần bên trong của con người trong sáng tác của Nam Cao.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh khẳng định Nam Cao là một nhà văn giàu lòng
nhân đạo của nền văn học hiện đại Việt Nam: “Với quan điểm nhân đạo sâu sắc của mình,
có thể nói trong văn học ta đầu thế kỷ XX, hơn bất kỳ một nhà văn nào khác, Nam Cao đã
đặt ra trực diện vấn đề kiếp người, vấn đề thân phận con người, vấn đề con người bị tha
hoá, không được sống như bản tính của mình, theo những nhu cầu lành mạnh của mình.”
[39, 170]. Đó là khát vọng được làm người của con người luôn luôn cháy bỏng, khát vọng
được sống lương thiện xứng đáng với tư cách là một con người. Trong chuyên luận Nam

hãy cứu lấy những nhân cách đang bị hủy diệt, những linh hồn đang héo hắt chết mòn chết
mỏi vì miếng cơm, manh áo.” [35, 285] và “. . .nghĩa là đang đi dần đến cái chết thê thảm
về tinh thần - Nam Cao gọi là "chết khi đang sống”.” [36, 228]. Lương tâm anh trí thức
luôn luôn ray rứt, tự vấn về số phận của mình : “Anh ta luôn băn khoăn về chân lý ở đời:
thế nào là sống, thế nào là chết, thế nào là thiện, thế nào là ác, thế nào là công lý thế nào là
công bằng xã hội, thế nào là tình yêu chân chính, thế nào là hạnh phúc. . .” [36, 225]. Song
cuối cùng những anh trí thức cũng rơi vào con đường cùng bế tắc, không lối thoát, tuyệt
vọng đến chết mòn.
Mặc dù không chủ tâm tìm hiểu số phận tinh thần của con người trong tác phẩm Nam
Cao nhưng Nguyễn Đăng Mạnh đã chạm đến quy luật nội tại của số phận tinh thần của con
người - đó là “những linh hồn đang héo hắt, chết mòn chết mỏi.”.
Phong Lê dành rất nhiều tâm sức nghiên cứu Nam Cao. Theo ông, nếu nền văn học
hiện đại Việt Nam mà không có Nam Cao thì sẽ là một khiếm khuyết lớn. Nhiều công trình
lớn về Nam Cao của ông đã khẳng định điều đó. Tác giả nhấn mạnh cuộc sống trong trang
văn Nam Cao đầy những thăng trầm, biến động: “Đó là cuộc sống gần như bất động mà
đầy những biến động.” [30, 458]. Cuộc sống trong tác phẩm của Nam Cao không phải là sự
sao chụp hiện thực cuộc sống một cách giản đơn mà đó là cuộc sống đa thanh, nhiều chiều,
muôn màu, muôn vẻ đầy sinh động: “Đọc Nam Cao ta có dịp phanh phui, soi đi lật lại đến
tận đáy sâu sự thật, và qua đó chiêm nghiệm sự đa dạng, đa thanh của cuộc đời.” [31, 502].
Cuộc sống ấy được thể hiện cụ thể, rõ nét : “. . .trong số phận những anh viết văn, những
ông giáo khổ, những cặp vợ chồng nghèo, những bạn láng giềng, cùng những người thân kẻ
sơ không ngớt vật lộn với cái sự sống mòn và chết mòn muôn thuở trong cảnh sống tinh
thần và vật chất của con người.” [31,528].
Trong chuyên luận Nam Cao - người kết thúc vẻ vang trào lưu văn học hiện thực,
Phong Lê một lần nữa khẳng định sự hủy diệt ghê gớm của cái đói: “Mặc cho sự giằng níu,
sự trì kéo, sự cầm cự, sự chống trả, cái đói cứ lôi tuột con người vào cửa tử của nó, không
cần phân bua, đôi hồi, mặc cả.” [31, 475]. Đứng trước cái đói, cả người trí thức và người


nông dân đều dễ dàng sa vào sự sa đọa về nhân cách. Có những cái chết âm thầm để chống



chỗ Nam Cao có cái nhìn thấu suốt vào con người, “Hai mươi chương của truyện kết thành
lịch sử của một tâm tư khắc khoải, giãy giụa, không có lối ra.” [39, 487].
Từ góc độ thi pháp không gian nghệ thuật, Đỗ Đức Hiểu cho rằng có hai không gian
tồn tại trong Sống mòn là không gian hiện thực và không gian tâm tưởng - đời sống tinh
thần của nhân vật. Bên cạnh những vụn vặt của đời thường hàng ngày là những lớp sóng
bên trong của đời sống nội tâm nhân vật: “Thứ phơi bày ra ánh sáng nhiều khía cạnh phức
tạp đời sống bên trong của con người mình: ý nghĩa cuộc sống, tình trạng tâm hồn hiện nay,
tình yêu vợ và ghen, tình yêu ước vọng, xử thế với bạn, với mọi người xung quanh, cả chiến
tranh đang đe dọa tiêu diệt loài người.” [39, 490]. Thứ lật đi lật lại chính mình “. . .Như
vậy, Thứ được soi rọi từ nhiều điểm nhìn: Thứ đối thoại với số phận, với bản thân, với xã
hội để nhận thức bản thân mình.” [39, 492].
Bằng cách đi vào tìm hiểu thi pháp không gian nghệ thuật, Đỗ Đức Hiểu chỉ ra những
biến động, đổi thay bên trong của thế giới tinh thần con người được Nam Cao miêu tả trong
kiệt tác Sống mòn.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu cảm nhận được vẻ lạnh lùng, thờ ơ của ngòi bút Nam
Cao, nhưng chính bút pháp đó lại có sức ngân vang, xót xa lòng người đọc: “Nam Cao có
biệt tài trước những biểu hiện tâm lý mang tính nhân cách, ông diễn tả nó dưới cái vẻ dửng
dưng hơi khôi hài làm trào nước mắt.” [39, 136]. Thật vậy, theo nhà văn, cả một đời cầm
bút Nam Cao luôn luôn kiếm tìm, săn đuổi nhân cách con người một cách ráo riết, nên văn
của ông có sức ám ảnh ghê gớm, nó là tấm gương để người đọc soi rọi lại tâm hồn mình:
“. . . Văn chương Nam Cao làm người ta “ mệt” vì thế, vì những dòng văn xuôi của ông như
một sợi dây thừng cứ bện chặt lấy chúng ta không cho phép một ai trong chúng ta rời khỏi
chính mình, quay lưng lại với phần lương tâm, nhân cách của chính mình hoặc tự nhìn mình
bằng con mắt bông phèng hoặc nửa vời để có thể sống vô trách nhiệm, buông thả.” [39,
136].
Trong Đi tìm ẩn số nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo, Đỗ Lai Thúy đã chỉ ra: “Bi
kịch của sự tự ý thức được cái bế tắc của thân phận xã hội, của một kẻ bị ra ngoài hệ thống
giá trị.” [47, 419]. Đó chính là nỗi ám ảnh khôn cùng đối với một con người không được xã

tinh thần, góp phần tạo nên hình ảnh một cuộc sống mòn bế tắc, ngột ngạt khá điển hình đối
với tất cả sáng tác trước cách mạng của ông.” [61, 223]. Trong hệ thống kiểu thời gian
nghệ thuật, theo tác giả, Nam Cao đã chọn kiểu thời gian hiện thực để khám phá đời sống
bên trong của con người: “Biết dừng lại ở thời điểm hiện tại của các sự kiện, khám phá tính
chất phong phú, đa dạng của nó, điều đó gắn liền với sở trường bút pháp Nam Cao - khám
phá thế giới bên trong, thế giới tâm hồn của nhân vật. . .” [61, 223]. Và không gian nghệ
thuật trong tác phẩm Nam Cao cũng góp phần phản ánh hiện thực của đời sống tinh thần


con người : “. . .Còn trong sáng tác của Nam Cao, không gian thường khơi gợi những dằn
vặt khổ đau, những giày vò, ân hận, bế tắc của con người.” [61, 239].
Mặt khác, trong Nam Cao - nhà văn hiện thực xuất sắc - nhà nhân đạo chủ nghĩa
lớn, Trần Đăng Suyền cũng nhận xét: “Từ những chuyện vụn vặt đời thường, Nam Cao đã
thật sự động chạm đến vấn đề có tính chất nhân bản, đặt ra những vấn đề sâu sắc về cuộc
sống, về thân phận con người, về vấn đề cải tạo xã hội, về tương lai của dân tộc và nhân
loại.”[ 61, 246]. Mặc dù cũng viết về hiện thực như các nhà văn cùng thời, nhưng ngòi bút
Nam Cao lại mang tính hướng nội: “Ông đã hướng ngòi bút của mình vào việc khám phá
con người trong con người, miêu tả và phân tích mọi chiều sâu, mọi chuyển biển trong thế
giới tâm hồn của nhân vật.” [61, 247]. Trần Đăng Suyền đã chỉ ra sự quan tâm đặc biệt đến
đời sống tinh thần của Nam Cao trong sáng tác: “Trước cách mạng không có nhà văn nào
có cách nhìn sâu sắc, có tầm triết lý, tổng hợp, khái quát cao về tình trạng chết mòn của con
người như nhà văn lớn Nam Cao.” [61, 254]. Hình ảnh con người chết mòn không phải
hiếm, nó nhan nhản đó đây trong trang sách Nam Cao: “Không chỉ Thứ, cuộc đời nhiều
nhân vật khác trong tác phẩm Nam Cao cứ trôi đi theo cái kiếp sống mòn vật vờ ấy.” [61,
238]. Ngoài ra, theo ông, Nam Cao là một nhà hiện thực xuất sắc vì: “cái gốc nền tảng của
chủ nghĩa hiện thực Nam Cao là chủ nghĩa nhân đạo.” [61, 238].
Trong Văn học Việt Nam 1900 - 1945, Hà Văn Đức quan tâm cả đề tài nông dân lẫn
đề tài trí thức trong những sáng tác của Nam Cao. Nhưng tác giả đặc biệt chú ý đến những
biến động trong đời sống tinh thần của người trí thức mà Nam Cao đặt ra: “Tiếp xúc với
những thực tế khắc nghiệt, trải qua những cuộc vật lộn kiếm sống, con người trí thức tiểu tư

trong tư thế chông chênh giữa lằn ranh tốt - xấu, thiện - ác. . . đi theo quy luật và chịu sự tác
động của hoàn cảnh : “Nhân vật luôn đứng giữa giáp ranh giữa thiện - ác, hiền - dữ, luôn
luôn ở thế giằng co, chống chọi giữa cái bên trong mình và cái nghịch cảnh ở bên ngoài;
luôn luôn ở trạng thái hối hận, nuối tiếc và cô đơn.” [47, 148]. Riêng về nhân vật trí thức,
loại nhân vật thích hợp nhất cho ngòi bút Nam Cao thể hiện tính hướng nội: “Cái chất văn
Nam Cao đọng lại ở những trang viết về người trí thức chính là sự day dứt, trăn trở bên
trong mà ông đã diễn tả, đã làm toát lên được.” [47, 148].
Đinh Trí Dũng quan niệm Bi kịch tự ý thức - nét độc đáo trong cảm hứng nhân đạo
của Nam Cao. Theo ông văn học hiện thực trước cách mạng không phải chỉ có nhân vật của
Nam Cao mới đặt ra vấn đề tự ý thức. “Các nhân vật tiểu tư sản trong truyện ngắn Thạch
Lam, Nguyên Hồng, Bùi Hiển. . .cũng có những phút giây suy tư dằn vặt đầy cảm động,
nhưng chưa có ai đưa được vấn đề tự ý thức của nhân vật lên đến mức sâu sắc, thường trực,
nhất quán như ở ngòi bút Nam Cao.” [47, 151].
3.2. Nhận định chung


Sáng tác của Nam Cao là một mảnh đất phì nhiêu, màu mỡ thu hút được sự chú ý của
rất nhiều nhà nghiên cứu. Hơn nửa thế kỷ qua, các nhà nghiên cứu đã dành nhiều tâm sức để
khai phá, phát hiện ra cái hay, cái đẹp và cái độc đáo trong tác phẩm Nam Cao. Nhìn chung
ý kiến của các nhà nghiên cứu trên xoay quanh một số vấn đề:
- Chủ nghĩa hiện thực sâu sắc, đặc biệt là hiện thực bên trong của đời sống tinh thần
con người trong tác phẩm Nam Cao.
- Quan niệm về con người của Nam Cao.
- Bi kịch tinh thần không lối thoát của con người, họ phải luôn luôn đấu tranh với
chính bản thân mình.
- Những sáng tác của Nam Cao đạt tới chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Những nhận định trên ít nhiều có liên quan đến vấn đề số phận tinh thần của con người
trong tác phẩm Nam Cao. Tuy nhiên chưa có nhà nghiên cứu nào trực tiếp và đi sâu vào
nghiên cứu vấn đề này mà chỉ nhắc đến vấn đề số phận tinh thần dưới những góc nhìn, khía
cạnh khác. Chẳng hạn như thông qua vấn đề chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa nhân đạo hay

sáng rõ vấn đề đang quan tâm. Trong trường hợp cần thiết, chúng tôi sử dụng phương pháp
thống kê để xác định tần số xuất hiện của số phận tinh thần con người trong tác phẩn Nam
Cao.

6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Dẫn nhập và Kết luận, luận văn gồm 3 chương và phần tài liệu tham khảo.
Chương 1: Con người và thế giới tinh thần trong sáng tác của Nam Cao.
Chương 2: Vấn đề số phận tinh thần trong tác phẩm Nam Cao.
Chương 3: Chủ nghĩa hiện thực tâm lý và vấn đề số phận tinh thần của nhân vật.


CHƯƠNG 1: CON NGƯỜI VÀ THẾ GIỚI TINH THẦN TRONG
SÁNG TÁC CỦA NAM CAO
1.1. Cảnh sống tinh thần con người trong tác phẩm Nam Cao
1.1.1. Bản thân thế giới tinh thần của con người cũng là một hiện thực
Đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam có một sự chuyển mình rất lớn. Đó là một cuộc
canh tân văn học trên nhiều phương diện, đặc biệt là quan niệm về con người đã có nhiều
thay đổi thật sâu sắc dựa trên những tiền đề của quá trình chuyển dần từ vô ngã sang hữu
ngã của văn chương hậu kỳ Trung đại cùng với thực trạng đời sống xã hội và sự tác động
mạnh mẽ của văn học Phương Tây. Các nhà văn kế thừa, phát huy và tiếp thu những tinh
hoa văn học dân tộc và văn học Phương Tây để tiếp tục đi sâu vào khám phá thế giới tinh
thần con người. Họ không chỉ dừng lại ở việc “phản ánh con người chỉ thông qua mô tả lịch
sử” mà còn dò sâu vào mọi ngóc ngách trong tâm hồn con người. Các cây bút không ngại
sục sạo tìm kiếm những điều bí ẩn ở bên trong con người, thể hiện khát vọng chinh phục,
khám phá con người để hiểu người và hiểu chính mình như nhà văn lớn Dostoevski khát
khao “Con người là một điều bí ẩn, cần khám phá con người . . . Tôi tìm hiểu điều bí ẩn ấy
vì tôi muốn trở thành con người.” [64, 57].
Văn học hạ kỳ Trung đại đã có sự vượt thoát ra ngoài những khuôn khổ, quy phạm của
bản thân nó. Bên cạnh những tác phẩm truyện Nôm khuyết danh bình dân sớm đặt ra vấn đề
đòi hỏi về hạnh phúc cá nhân và quyền sống con người thì văn học bác học cũng quan tâm

đầu mùa, Dưới bóng hoàng lan, Hai đứa trẻ, Ngày mới, Cô hàng xén . . .Và tuy không là
thành viên của Tự lực văn đoàn nhưng thuộc trào lưu văn học lãng mạn, Nguyễn Tuân lại
gửi gắm nỗi khát khao cháy bỏng và niềm say mê cuộc sống luôn luôn xê dịch, hướng ngòi
bút vươn tới cái đẹp đạt tận độ, tận mỹ, hướng con người đến cái thiện lương trong:
Nguyễn, Xác ngọc lam, Vang bóng một thời, Thiếu quê hương. . . Còn các nhà văn hiện
thực thường thiên về miêu tả hiện thực đời sống xã hội. Trong trang viết của họ, con người
phải luôn luôn đối mặt, đấu tranh với thiên tai, dịch họa và tầng lớp thống trị nửa phong
kiến - thực dân mục nát, tàn bạo. Sưu thuế, mất mùa, sự áp bức bóc lột và những tập tục cổ
hủ là nỗi ám ảnh ghê gớm đối với những con người thấp cổ bé miệng. Tiêu biểu như những
sáng tác Việc làng, Làm no, Tắt đèn. . .(Ngô Tất Tố), Đồng hào có ma, Bước đường
cùng. . .(Nguyễn Công Hoan). Trong khi chủ yếu Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan khắc
họa bức tranh đời sống nông thôn trì trệ, ảm đạm chứa đựng sự nheo nhóc, cái đói giéo giắt,
những tục lệ lưu cửu hàng bao đời, những cái vụn vặt, manh mún của xã hội làng xã. . .và
tiếng trống thúc giục sưu thuế riết róng thì Vũ Trọng Phụng lại vẽ nên một bức tranh đời
sống thành thị đầy rẫy những điều “vô nghĩa lý” và “chó đểu”. Đó là những Số đỏ, Giông


tố, Trúng số độc đắc, Hồ sê líu hồ líu sê sàng. . . (Vũ Trọng Phụng). Riêng Nam Cao âm
thầm đi theo một hướng khác. Ông gác vấn đề đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh xã hội sang
một phía, dành sức mạnh ngòi bút xoáy sâu vào thế giới tinh thần con người. Ông dẫn dắt
người đọc đi vào khám phá thế giới tinh thần con người - một miền đất lạ mà quen, vừa
mênh mông sâu thẳm vừa nhỏ bé mong manh. . . tất cả cứ ẩn hiện, bàng bạc trong trang viết
của ông.
Là người đứng trong hàng ngũ của trào lưu hiện thực, Nam Cao quan niệm văn
chương phải là “sự thực ở đời” nhưng đó không phải là sự thực giản đơn của bề mặt đời
sống xã hội, mà bên cạnh việc thể hiện cái hiện thực xã hội hiển nhiên ấy, nhà văn còn
muốn phơi bày trên trang giấy được cái hiện thực đời sống bên trong con người. Nói cách
khác thế giới tinh thần con người cũng là một hiện thực mà nhà văn muốn chiếm lĩnh và gửi
gắm vào tác phẩm của mình.
Từ trước đến nay, người ta hay nói về tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao là "nghệ

thiết nhất của đời sống vật chất là cái ăn, vấn đề này không phải là chuyện riêng, nỗi băn
khoăn của một người, một dân tộc mà là vấn đề cả nhân loại quan tâm. Chính nhu cầu vật
chất này đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần con người, tạo nên những vết hằn
không thể xóa nhòa trong thế giới tinh thần của con người.
1.1.2. Cái đói, miếng ăn là nỗi ám ảnh khôn cùng trong thế giới tinh thần con
người
Cái đói và miếng ăn là một nỗi ám ảnh đau đớn đối với nhân dân ta hàng bao thế kỷ.
Song trong thực tế, sự thật nỗi đau ấy chưa được phản ánh nhiều trong văn học Trung đại.
Đến đầu thế kỷ XX, cái đói càng hoành hành dữ dội và bi thảm, là nỗi ám ảnh thường trực
trong tâm thức con người đã thôi thúc nhiều ngòi bút quan tâm. Xuất hiện xu hướng văn
chương của những người đói trong văn học Việt Nam trước cách mạng tháng Tám: Ngô Tất
Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng. . . và Nam Cao cũng thuộc xu
hướng này. Các nhà văn miêu tả thực trạng cái đói rất chân thực, sâu sắc và độc đáo. Ngô
Tất Tố miêu tả cách “Làm no” - người ta nghĩ ra cách ăn đủ thứ trên đời. Đến khi không
còn gì có thể ăn được, người ta sáng chế ra món ăn mới: đất sét nấu với những con cá con
vó được. Hay Thằng ăn cắp (Nguyễn Công Hoan) để lấp đầy cái dạ dày trống rỗng đang
kêu lên sùng sục, hắn đã cố quỵt 2 xu bún riêu để rồi phải chịu một trận đòn nhừ tử. Cái đói
cũng len lỏi trong những trang viết phê phán, lên án xã hội lúc bấy giờ: Tắt đèn (Ngô Tất
Tố), Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), chủ yếu là miêu tả con người đấu tranh với
các thế lực thống trị để giành lấy miếng cơm manh áo. Nhưng có thể nói so với những cây
bút tên tuổi trên, Nam Cao vẫn là nhà văn viết về cái đói và miếng ăn nhiều hơn, sâu sắc
hơn. Ông không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cái đói mà còn đề cập đến “miếng ăn là miếng
nhục”. Miếng ăn thách thức ghê gớm đối với nhân cách con người, đẩy con người đến hai
cực trái ngược nhau, hoặc mất cả nhân cách, nhân tính như con vật trong Một bữa no,
Quên điều độ, Trẻ con không biết ăn thịt chó, Tư cách mõ, Đòn chồng, Trẻ con không
biết đói . . . hoặc trở thành người chí thiện như Lão Hạc . . .Trong tác phẩm của Nam Cao,


trước cái đói con người quay lại đấu tranh với chính bản thân mình, chống trả cái bản năng
đang kéo phần Người xuống dốc, đến bờ vực thẳm. Chẳng hạn thằng kẻ trộm bực bội với



nuôi bà của mình bằng ngày hai bữa cơm nghèo của người đi ở: “Thứ không ao ước gì hơn
là có thể nuôi bà y mỗi ngày hai bữa cơm của bà Hà bây giờ.” [1, tập 2, 150]. Vậy mà Thứ
cũng không thực hiện nổi. Y thấy mình không làm chủ được bản thân, y cảm nhận được sự
công phá của sức sống mòn - chết ngay trong lúc sống, “chết ngay trong lúc sống mới thật
là nhục nhã.” [1, tập 2, 318].
1.1.3. Thế giới tinh thần con người và nỗi đau âm ỉ bên trong
Nếu như Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan. . .quan tâm thể hiện những
tập tục cổ hủ trong việc cưới xin - ma chay thì Nam Cao cũng viết về những hiện tượng ấy
nhưng với ông tả không phải chỉ để tả. Cảnh đám cưới chạy tang được miêu tả rất sinh
động, chân thực trong Một cảnh rước dâu chạy tang của Nguyễn Tuân hay ở Cô giáo
Minh của Nguyễn Công Hoan. Đám cưới chạy tang ràng buột người con gái với “chữ hiếu”
và cả nỗi chua chát với những toan tính thiệt hơn của người trong cuộc. Nguyễn Tuân đưa ra
một triết lý mỉa mai: “Cái khổ của người này thường là cái sướng của người khác.” - Một
cảnh rước dâu chạy tang. [16, tập 1, 249]. Còn Nam Cao miêu tả đám cưới chạy đói và
chạy nợ. Trong Một đám cưới, tác giả chỉ dành ít dòng ngắn ngủi để miêu tả cảnh đón dâu
buồn bã: “Cả bọn đi lủi thủi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lặng lẽ, dắt
díu nhau đi tìm chỗ ngủ.” [1, tập 1, 234]. Phần lớn những trang còn lại ông thể hiện tâm
trạng của người cha trước ngày con gái đi lấy chồng, nghĩ đến cảnh cửa nhà tan tác, thương
con xé lòng nhưng ông đành bất lực vì không có con đường nào khác hơn; là tất cả gia cảnh
và tâm sự của người cha nói với con trước ngày cưới cứ mải miết chảy trong trí Dần “trong
khi đưa đẩy cái chổi cùn trên mặt cái sân con.” [1, tập 1, 227]. Người đi cưới dâu, gia cảnh
cũng chẳng hơn gì. Vâng, bà mẹ chồng ấy cũng toan tính thế nào cho con mình sớm thành
gia thất nhưng không tạo cho ông thông gia một áp lực hay cái nhìn thiếu thiện cảm mà trái
lại đầy cảm thông và chia sẻ bởi cùng phận nghèo. Một đám cưới không phải nói đến sum
vầy hạnh phúc, không mở ra một tương lai rạng rỡ mà là những giọt nước mắt bất hạnh
đọng lại trước cảnh gia đình phân ly, trước một tương lai ảm đạm và mù mịt.
Đám tang nếu rơi vào tay Tô Hoài, Ngô Tất Tố sẽ trở thành câu chuyện phong tục thú
vị hoặc rơi vào tay Vũ Trọng Phụng sẽ trở thành một trò hoạt kê cười ra nước mắt như

sinh hoa lẽ thường. Con người phải từ giã cõi đời khi không còn khả năng đấu tranh, đối
mặt với phần Người trong mỗi con người và không còn chút hy vọng nào để bám víu ở đời.
Họ đã nhắm mắt trong tâm trạng giằng níu, khủng hoảng trầm trọng của đời sống tinh thần.
Lão Hạc chọn cái chết để giữ lại mảnh vườn cho con, để giữ gìn phẩm cách con người. Lão
chết một cách dữ dội bằng bả chó để chuộc lỗi với con chó Vàng. Bởi ngay sau khi lừa con
Vàng, Lão ân hận vô cùng: “Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó,
nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó!” [1, tập 1, 201]. Bà cái đĩ, anh đĩ Chuột chết vì miếng ăn,
sống cực lòng quá. Lang Rận chết vì y cũng là người có chút chữ nghĩa nên “y nghĩ đến cái


Trích đoạn Người trí thức đòi hỏi, tìm kiểm số phận tinh thần Sự cô đơn, bất lực của người trí thức Con người khát khao được sống và sáng tạo Con người bị từ choi quyền làm ngườ Bước đầu tự thức nhận về mình
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status