1
Nội dung: Vấn đề con người trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng
cộng sản” – Ý nghĩa và giá trị hiện thực của nó đối với việc xây dựng và
phát triển con người ở nước ta hiện nay.
Những năm giữa thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
nhất cơ bản đã hoàn thành ở châu Âu. Cuộc cách mạng đó đã thúc đẩy
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển. Tuy nhiên, sự phát triển
mạnh mẽ của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa làm cho giai cấp tư sản
và giai cấp vô sản ngày càng mâu thuẫn gay gắt với nhau. Và những cuộc đấu
tranh của giai cấp vô sản trong những năm 40 của thế kỷ XIX cho thấy vai trò
và sức mạnh của giai cấp công nhân ngày càng lớn. Tuy nhiên, các cuộc đấu
tranh đó cơ bản đều thất bại, nhưng ý thức chính trị của giai cấp công nhân đã
được xác định. Đó là ý thức giành chính quyền, ý thức xoá bỏ chế độ tư hữu.
Cùng với quá trình đấu tranh đó làm xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng
rất đa dạng và phức tạp. Trong đó, tư tưởng về chủ nghĩa xã hội không tưởng
của Xanh-xi-Mông, Phuriê và Ô-oen ảnh hưởng nhiều nhất đến phong trào
công nhân và nó trở thành một trong những tiền đề lý luận hình thành nên học
thuyết Mác sau này. Mặc dù tư tưởng của các ông có điểm tiến bộ là mong
muốn xây dựng một xã hội công bằng, bác ái, mọi người đều có quyền bình
đẳng như nhau, nhưng còn nhiều điểm hạn chế: không giải thích được bản
chất thối nát của chế độ tư bản chủ nghĩa đương thời; chưa vạch ra được quy
luật vận động phát triển của xã hội, nhất là từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội; chưa nhận thấy vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Họ
cho rằng con đường đi tới chế độ công bằng, bình đẳng, bác ái không phải là
cách mạng xã hội, mà là con đường giáo dục, nêu gương… những hạn chế
này không những không đáp ứng được yêu cầu cuộc đấu tranh của giai cấp
công nhân mà còn kìm hãm phong trào ấy. Sự lớn mạnh của giai cấp công
2
3
1872 và 1883. Tác phẩm này được dịch dựa vào bản tiếng Nga bộ Toàn tập
C.Mác và Ph. Ăng-ghen, tập 4, do Nhà xuất bản sách chính trị quốc gia Liên
xô xuất bản tại Mátxcơva năm 1955. Ngoài phần chính văn, Hội đồng xuất
bản còn in kèm theo phần chú thích và các bản chỉ dẫn do Viện nghiên cứu
chủ nghĩa Mác – Lênin Liên xô trước đây biên soạn.
Việc tuyên bố Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đánh dấu sự ra đời của
một học thuyết cách mạng – Học thuyết Mác. Lần đầu tiên trong lịch sử loài
người thực hiện được cuộc cách mạng tư tưởng với đỉnh cao của trí tuệ, khám
phá và hệ thống hoá những quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Sự ra đời “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” đáp ứng những đòi hỏi về tư
tưởng, lý luận và thực tiễn của phong trào công nhân. Đây là cương lĩnh đầu
tiên của chủ nghĩa cộng sản khoa học, đồng thời là sự thể hiện của học thuyết
triết học mới của chủ nghĩa Mác – chủ nghĩa duy vật triết học triệt để, phép
biện chứng cách mạng, quan niệm duy vật biện chứng về lịch sử. Tuyên ngôn
của Đảng cộng sản đã trình bày toàn bộ những cơ sở của chủ nghĩa Mác, đánh
dấu sự hoàn thành giai đoạn khởi thảo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, trên cơ sở phân tích bản chất
của chủ nghĩa tư bản là một xã hội dựa trên sự áp bức, bóc lột đối với người
lao động, bằng phương pháp duy vật biện chứng, C.Mác và Ph. Ăngghen đã
đánh giá một cách khách quan và toàn diện vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư
bản, một giai đoạn phát triển tất yếu của loài người. Các ông cũng nêu lên
tính tất yếu của quá trình vận động, phát sinh, phát triển và diệt vong của chủ
nghĩa tư bản. Đồng thời phát hiện ra được sứ mệnh lịch sử thế giới của giai
cấp vô sản là thủ tiêu giai cấp tư sản và xã hội tư bản, xây dựng một xã hội
mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
5
như là một sinh vật thụ động, chỉ biết thờ phụng chúa, khát khao hạnh phúc
mơ hồ, viển vông trong tuyệt vọng.
Đến thời kỳ phục hưng và cận đại, sự phát triển to lớn của sản xuất và
khoa học đã chứng minh sức mạnh vĩ đại của con ngngười. Vì vậy, thời này ở
Italia, đã dấy lên khẩu hiệu “con ngưngười hãy thờ phụng chính bản thân
mình, chiêm ngưỡng cái đẹp của chính mình”. Hình ảnh bức tượng “người
khổng lồ” của nhà điêu khắc Mikenlan Giêlô trở thành biểu tượng của con
người thời phục hưng và cận đại. Đó là con người tràn đầy sức sống và hoài
bão tự do. Giờ đây, không phải quan hệ giữa chúa và thế giới mà chính là vấn
đề quan hệ giữa con người và thế giới trở thành trung tâm của các quan niệm
triết học. Nhiều nhà tư tưởng đã ý thức được sự cần thiết phải xây dựng một
“triết học thực tiễn, nhờ đó con người hiểu biết sức mạnh…của tất cả các sự
vật khác xung quanh ta cũng thấu đáo như những công việc của những người
thợ thủ công, bằng cách đó, chúng ta có thể sử dụng chúng trong các hoạt
động của mình, đồng thời biến thành những chủ nhân và chúa tể của giới tự
nhiên”1. Triết học Tây Âu thời kỳ này phản ánh rõ cuộc đấu tranh của giai cấp
tư sản nhằm giải thoát con người khỏi cuộc sống đen tối mà các tôn giáo thời
trung cổ áp đặt cho họ. Vì thế từ thời phục hưng, các tư tưởng nhân đạo đặc
biệt được quan tâm, phát triển. Hơn nữa, với nhiều khám phá trong lĩnh vực
tâm sinh lý học, các triết gia thế kỷ XV – XVIII ngày càng nhận thấy vai trò
của thể xác con người đối với việc phát triển trí tuệ và nhân cách. Tuy nhiên,
ở đây con người mới được đề cập chủ yếu ở khía cạnh cá thể, còn bản chất xã
hội của con người chưa được đề cao.
Khi mà trên thực tế người ta bất lực, không thể giải phóng khỏi sự áp
bức, bóc lột, bất công thì các tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng đã xuất
hiện. Mặc dù, các tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng có bước phát triển
1
. C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, Sự thật, Hà Nội, 1995, tập 4, tr 612.
. C.Mác và Ph. Ăngghen: Sđd, tập 4, tr 617.
4
. C.Mác và Ph. Ăngghen: Sđd, tập 4, tr 640.
2
3
7
Như vậy, lòng khao khát tự do, bình đẳng về tài sản, công lý và cộng
bằng xã hội, ước mơ về xã hội không có bóc lột và lao động cưỡng bức và
không có cảnh nghèo khổ là đặc điểm của nhiều tư tưởng về nhân quyền xuất
hiện từ lâu trong lịch sử. Nhưng chỉ đến khi C.Mác và Ph. Ăngghen xuất hiện,
hai ông mới làm một cuộc cách mạng sâu sắc trong lịch sử với việc phát hiện
ra xu thế phát triển khách quan của đời sống xã hội, giải đáp một cách khoa
học những vấn đề mà các nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng nêu ra nhưng
chưa giải đáp nổi. C,Mác và Ph. Ăngghen trải qua một quá trình nghiên cứu,
thử nghiệm đầy khó khăn, gian khổ. Hành trình tư tưởng đó được ghi nhận
trong hàng loạt các tác phẩm: “Lời tựa cuốn Phê phán triết học pháp quyền
của Hê-ghen”, “Bản thảo kinh tế-triết học 1844”, “Tình cảnh giai cấp công
nhân Anh”, “Sự khốn cùng của triết học”, “Nguyên lý của chủ nghĩa cộng
sản”… cho đến đầu năm 1848, sự ra đời của Tuyên ngôn của Đảng cộng sản
đánh dấu sự hình thành cơ bản tư tưởng đó.
Mục tiêu quan trọng hàng đầu C.Mác và Ph. Ăngghen đề cập trong tác
phẩm là sau khi giành được chính quyền, giai cấp công nhân phải từng bước
xoá bỏ chế độ tư hữu, vì theo các ông chính đây là nguồn gốc của mọi áp bức
bất công. “Những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một
luận điểm duy nhất này là: xoá bỏ chế độ tư hữu” 5 hay “Cách mạng cộng sản
chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với những quan hệ sở hữu kế thừa của
sản, thứ tự do bóc lột sức lao động của người khác để hình thành một xã hội
mới mà ở đó mọi người được tự do, bình đẳng, tự do định đoạt số phận của
mình và đây cũng chính là điều kiện, là mục tiêu cao cả nhất cho sự phát
chung của xã hội. Do vậy, phải “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai
cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát
triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi
người”10. Ở đây, vấn đề giải phóng con người theo C.Mác và Ph. Ăngghen
không chỉ dừng lại ở việc xoá bỏ áp bức, bóc lột, thiết lập những quan hệ tự
do, công bằng giữa người với người, mang lại những cơ sở vật chất và tinh
thần bảo đảm cuộc sống con người, mà xa hơn và nhân văn hơn là giáo dục và
. C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, Sự thật, Hà Nội, 1995, tập 4, tr 626
. C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, Sự thật, Hà Nội, 1995, tập 4, tr 617.
10
. C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, Sự thật, Hà Nội, 1995, tập 4, tr 628.
8
9
9
tạo ra các điều kiện thuận lợi cho mỗi người có thể phát triển toàn diện những
khả năng của mình. Để đạt tới mục tiêu cao cả đó, C.Mác và Ph. Ăngghen đã
sử dụng đến phương thức đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, thậm chí còn
phải thực hiện một sự chuyên chính nhất định để bảo vệ mục tiêu giải phóng
xã hội, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Đó là một thứ bạo lực tiến
bộ, cách mạng mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Chính điều chân lý thiêng
liêng cao cả đó mà C.Mác và Ph. Ăngghen mạnh dạn tuyên bố: “Những người
cộng sản coi là điều đáng khinh bỉ, nếu giấu giếm những quan điểm và ý định
của mình. Họ công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được
bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện hành”11.
chính trị độc lập của mình, thì khi đó cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản mới
chuyển từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo.
C.Mác và Ph. Ăngghen khẳng định: Trong cuộc đấu tranh của mình, chống
quyền lực liên hợp của các giai cấp có của, giai cấp vô sản chỉ khi được tổ
chức thành một chính đảng độc lập đối lập với tất cả các chính đảng cũ do các
giai cấp của nó lập nên, thì mới có thể hành động với tư cách là một giai cấp.
Nhờ có sự tiếp cận lịch sử – lôgíc đó, C.Mác và Ph. Ăngghen đã chăm
lo đến những điều kiện, nhân tố để giai cấp vô sản có khả năng đương đầu với
giai cấp tư sản để thực hiện mục tiêu độc lập, tự do thực sự cho con người. Đó
là giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức phải đoàn kết lại, phải chuyển kiểu
đấu tranh từ tự phát thành tự giác và nhất thiết phải có lý luận tiền phong soi
đường và phải có bộ phận tiên tiến nhất của giai cấp cách mạng lãnh đạo.
Theo C.Mác và Ph. Ăngghen: “Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ
phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận
luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên, về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại
của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả
của phong trào vô sản”13. Như vậy, giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân bị
áp bức dưới sự soi sáng của chủ nghĩa Mác và sự tiên phong của Đảng cộng
sản thực hiện một cuộc đấu tranh sống còn với những cản trở cuối cùng trong
12
13
. C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, Sự thật, Hà Nội, 1995, tập 4, tr 610.
. C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, Sự thật, Hà Nội, 1995, tập 4, tr 614-615.
11
lịch sử để giả phóng toàn ven con người. Đó là sự vận động, phát triển hợp
quy luật, đúng tiến trình phát triển lịch sử của nhân loại. “Giai cấp tư sản sản
12
nhuận cá nhân, đặc biệt người phụ nữ bị coi như một công cụ sản xuất. “Gia
đình tư sản hiện nay dựa trên cơ sở nào? Dựa trên tư bản, trên lợi nhuận cá
nhân…Đối với người tư sản, vợ hắn chẳng qua chỉ là một công cụ sản xuất”17.
Gia đình là tế bào của xã hội, vì vậy muốn có một xã hội phát triển văn minh
thì các mối quan hệ gia đình phải được tạo lập trên cơ sở bình đẳng, đó cũng
là một đặc trưng của xã hội tương lai. Còn trên phạm vi quốc tế, để xây dựng
mối quan hệ bình đẳng giữa các dân tộc cũng phải xuất phát từ điều kiện “xoá
bỏ nạn người bóc lột người” để tiến tới xoá bỏ “nạn dân tộc này bóc lột dân
tộc khác”. Bởi, nguyên nhân của sự bất bình đẳng, áp bức của dân tộc này đối
với dân tộc khác nằm trong chính sự bất bình đẳng, đối kháng lợi ích của nội
bộ mỗi dân tộc. Chính vì thế mà “Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong
nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc đồng thời cũng
mất theo”18.
Như vậy, thông qua Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C.Mác và Ph.
Ăngghen nhằm hướng tới mục đích giải phóng triệt để con người, tạo mọi
điều kiện để con người được sống tự do, bình đẳng, được phát triển toàn diện
cá nhân. Đây chính là giá trị cao nhất và tập trung nhất của tác phẩm. Và đây
cũng là ước mơ, là khát vọng từ ngàn đời nay của các thế hệ con người trong
lịch sử phát triển của nhân loại. Tuy nhiên, điều khác biệt căn bản ở đây là
quan điểm xem xét, đánh giá con người, giải phóng con người, cũng như chủ
trương xây dựng con người mới trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản không
phải là sự ban tặng của thượng đế hay một lực lượng siêu nhiên nào đó, mà
trước hết là kết quả có tính quy luật của tiến trình vận động xã hội, cùng với
nó là kết quả của cuộc đấu tranh không mệt mỏi của con người chống các thế
lực áp bức, bóc lột, chống lại các giai cấp phản động, chinh phục thiên nhiên
và bảo về môi trường sống. Nằm trong quy luật chung ấy, chính sự phát triển
nghĩa tư bản nên các nhu cầu cơ bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động đang được đáp ứng ở mức độ nhất định, làm cho con người dễ chịu hơn
với xã hội tư bản. Hai là từ ngay trong lòng chế độ xã hội chủ nghĩa, mô hình
chủ nghĩa xã hội hiện thực bị sụp đổ do nhiều nguyên nhân, trong đó có vấn
đề con người phát triển triển một cách tự do, tuỳ tiện, dẫn đến tư tưởng hoài
nghi khả năng giải phóng con người của chủ nghĩa xã hội. Lợi dụng sự thoái
14
trào của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa bá quyền, nước lớn áp đặt các giá trị văn
hoá, giá trị người theo ý đồ của họ. Thêm nữa, các nhân tố tạo nên sức mạnh
để giải phóng và phát triển con người trong thời điểm hiện nay có sự sa sút
sức chiến đấu, đó là sự phân hoá giai cấp công nhân, vai trò lãnh đạo của
Đảng cộng sản bị mờ nhạt, suy yếu…Đây chính là một trong những trở ngại
trực tiếp trong quá trình tiến tới giải phóng triệt để con người.
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản ra đời cách đây hơn 160 năm. Lúc đó
chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới chỉ được dựng lên một khuôn hình
dựa theo suy luận lôgíc khoa học, chứ chưa trở thành hiện thực. Cho nên, hình
ảnh con người cộng sản chủ nghĩa chưa được cụ thể và hoàn chỉnh. Sự phát
triển của chủ nghĩa xã hội qua từng giai đoạn và ở mỗi quốc gia dân tộc cũng
khác nhau. Do vậy, tìm một mô hình con người xã hội chủ nghĩa, cộng sản
chủ nghĩa cho mỗi nước đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là công
việc của Đảng cộng sản ở từng nước.
Trên cơ sở nhận thức sâu sắc tư tưởng về giải phóng và phát triển con
người của C.Mác và Ph. Ăngghen trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản nói
riêng và học thuyết Mác – Lênin nói chung, trong suốt quá trình lãnh đạo
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, cũng như công cuộc đổi mới, xây dựng và
phát triển đất nước hiện nay, Đảng ta luôn xác định vấn đề con người là gốc
rễ, cội nguồn của mọi công việc; vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự
định những quan điểm cơ bản về con người và phát huy vai trò nhân tố con
người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đại hội xác
định, con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của phát triển kinh tế – xã
hội.
Xác định con người là động lực phát triển kinh tế – xã hội, Đại hội chỉ
rõ: “nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng
19. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,Nxb CTQG, H,1996,
tr21.
19
16
kinh tế nhanh và bền vững”20, “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại
đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí
thức do Đảng lãnh đạo kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội
phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của xã
hội”21, “Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt
Nam; coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và
động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”22.
Xác định con người là mục tiêu của phát triển kinh tế – xã hội, trên cơ
sở nhất quán những nội dung cụ thể được trình bày trong Nghị quyết Trung
ương 5 khoá VIII, Đại hội IX xác định: “Mọi hoạt động văn hoá nhằm xây
dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ,
đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan
dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia
đình, cộng đồng và xã hội, kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, phát
huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”23.
Như vậy, Đại hội IX bổ sung, làm rõ thêm về con người phát triển toàn
Đảng ta xác định, tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia
và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà
nước và toàn dân, trong đó quân đội và công an nhân dân là lực lượng nòng
cốt. Vì vậy, việc xây dựng quân đội nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ
nói riêng có ý nghiã hết sức quan trọng cả trước mắt và lâu dài. Tại Đại hội
VI Đảng ta xác định: “Xây dựng quân đội nhân dân chính quy ngày càng hiện
đại có chất lượng tổng hợp ngày càng cao, có tổ chức hợp lý, cân đối, gọn và
mạnh, có kỷ luật chặt chẽ, có trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức chiến đấu
cao”27.
Đến Đại hội VII và Đại hội VIII, Đảng ta tiếp tục xác định: “Xây dựng
các lực lượng vũ trang nhân dân có chất lượng ngày càng cao, xây dựng quân
đội nhân dân cách mạng chính quy, từng bước hiện đại, tinh nhuệ, với cơ cấu
tổ chức và quân số hợp lý, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến
đấu”28 , “xây dựng lực lượng quân đội và công an nhân dân cách mạng, chính
quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”29.
27. ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb CTQG, HN, 1986, tr 38.
25
26
28. ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb CTQG, HN, 1991, tr 85-86
29. ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, HN, 1996, tr 119.
30. ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, HN, 2001, tr 40-41 và 118.
27
28
29
34. ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, HN, 2006, tr 108-109.
31
33
19
Nhất quán với các quan điểm trên đây, căn cứ vào yêu cầu của sự
nghiệp đổi mới đất nước trong điều kiện mới, tại Đại hội X Đảng ta tiếp tục
khẳng định: “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững
mạnh toàn diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ
nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, anh ninh kinh tế, anh ninh tư tưởng văn hoá
và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định
chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt
động chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ”34.
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đặt ra, Đại hội X xác định các nhiệm
vụ và giải pháp cơ bản sau đây:
Một là, tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi
dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, công chức và cho toàn dân,
có nội dung phù hợp với từng đói tượng và đưa vào chương trình chính khoá
trong các nhà trường theo cấp học, bậc học.
Hai là, kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường sức mạnh
quốc phòng và an ninh trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng của đất nước.
Ba là, xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân cách mạng,
chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
Bốn là, xây dựng, bổ sung cơ chế lãnh đạo của Đảng và quản lý của
Nhà nước đối với hoạt động quốc phòng, an ninh.
Những quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp về quốc phòng và an ninh nói