BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN HOÀNG YẾN
CON NGƯỜI THA HÓA TRONG VĂN HỌC HIỆN THỰC
PHÊ PHÁN GIAI ĐOẠN 1930 - 1945
LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
TP. Hồ Chí Minh - 2001
The linked image cannot be displayed. The file may have been moved, renamed, or deleted. Verify that the link points to the correct file and location.
LỜI CẢM ƠN
Tôi vô cùng biết ơn giáo sư – nhà giáo nhân dân Hoàng Như Mai đã tận tình
hướng dẫn tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô đã tận tình dạy dỗ tôi trong suốt khóa học.
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của khoa Ngữ Văn, Phòng Công Nghệ
và Sau Đại học – Trường Đại học Sư phạm cùng gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện,
động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Học Viên
Nguyễn Hoàng Yến
Công trình này được hoàn thành vào tháng 03 năm 2001
Tại Trường Đại học Sư phạm - TP. Hồ Chí Minh.
Người hướng dẫn khoa học: GS. NHÀ GIÁO NHÂN DÂN
1.2.1. Tình hình văn học nói chung ...............................................................................15
1.2.2. Tình hình chung về văn học hiên thực phê phán .................................................16
CHƯƠNG 2: QUAN NIỆM VỀ NHÂN VẬT THA HÓA TRONG TIỂU
THUYẾT HIỆN THỰC PHÊ PHÁN ...................................................................... 21
2.1. Quan niệm chung về nhân vật trong tiểu thuyết....................................................21
2.1.1. Thuật ngữ “Nhân vật”. .........................................................................................21
2.1.2. Đặc điểm của nhân vật trong tiểu thuyết. ............................................................21
2.1.3. Khái niệm tha hóa ................................................................................................23
2.1.4. Khái niệm nhân vật tha hóa .................................................................................25
2.2. Phân loại nhân vật ....................................................................................................26
2.2.1. Các quan điểm phân loại nhân vật nói chung. .....................................................26
2.2.2. Quan điểm phân loại nhân vật của tác giả luận văn ............................................27
2.3. Vai trò, chức năng của nhân vật tha hóa trong tiểu thuyết hiện thực..................28
2.3.1. Vai trò, chức năng của nhân vật trong văn học nói chung ...................................28
2.3.2. Vai trò, chức năng của nhân vật tha hóa trong tiểu thuyết hiện thực. .................29
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÂN VẬT THA HÓA TRONG TIỂU
THUYẾT HIỆN THỰC PHÊ PHÁN ...................................................................... 33
3.1. Đặc điểm chung của nhân vật tha hóa trong văn học hiện thực phê phán. ........33
3.2. ĐẶC ĐIỂM BIỂU HIỆN CỦA NHÂN VẬT THA HÓA TRONG VĂN HỌC
HIỆN THỰC.....................................................................................................................37
3.2.1. Đặc điểm biểu hiện cua nhân vật tha hóa ở thành thị. .........................................37
3.2.2. Đặc điểm biểu hiện của nhân vật tha hóa ở nông thôn. .......................................58
3.2.3 So sánh đối chiếu các sáng tác về người nông dân tha hóa của một số tác giả
trong và ngoài nước. ......................................................................................................88
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 93
và một giá trị nhân đạo lớn, và cũng vì thế nó đã có những đóng góp quan trọng vào nền văn
học nước nhà thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám 1945.
Có hể nói chúng tôi rất trân trọng những đóng góp quý báu của các nhà văn trong lĩnh
vực này. Qua thực tế giảng dạy môn văn trong nhà trường phổ thông trung học những năm
qua, chúng tôi rất tâm đắc với chương trình Văn học giai đoạn 1930 - 1945, hơn thế nữa,
giai đoạn văn học này còn luôn luôn gây cho chúng tôi một sự cuốn hút và sự trăn trở tìm
tòi. đó là các lý do thôi thúc chúng tôi mạnh dạn chọn công việc tìm hiểu, nghiên cứu để đi
sâu thêm vào mảng đề tài “Con người tha hóa trong văn học hiện thực giai đoạn 1930 1945” thông qua hệ thống sáng tác của các nhà văn hiện thực và ý kiến của những nhà
nghiên cứu phê bình văn học. Chúng tôi muốn đi vào tìm hiểu sâu hơn để khẳng định thêm
những giá trị lớn lao, những thành công xuất sắc đặc biệt trong lĩnh vực quan niệm nghệ
thuật về con người của văn học trong giai đoạn này.
2. Lịch sử vấn đề
Có thể nói đề tài tha hóa, biến chất của con người trong thời kỳ đầy biến động của xã
hội Việt nam giai đoạn 1930 - 1945 đã được rất nhiều nhà văn hiện thực tham gia sáng tác.
Và vì vậy, đây cũng chính là “mảnh đất màu mỡ” được các nhà nghiên cứu phê bình khai
thác triệt để và nghiêm túc, Hàng loạt những tên tuổi tác giả “gạo cội” trong lĩnh vực sáng
tác văn xuôi như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam
Gao... đã gắn liền với tên tuổi của các nhà nghiên cứu phê bình như Phan Cư Đệ, Hà Minh
Đức, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành Khung...
Các nhà nghiên cứu phê bình gần như đã đi sâu vào tận các ngõ ngách sâu cùng của
các tư tưởng, các quan niệm sáng tác và các tác phẩm văn học để khẳng định ca ngợi cũng
như phê bình những thành công, những đóng góp và cả những hạn chế của văn học hiện
thực trong giai đoạn này. Tập trung hơn cả là các nhà phê bình xoáy sâu vào những sáng tác
và những tác giả hiện thực lớn như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao...
Hơn thế nữa đây cũng là đề tài được nhiều thế hệ nghiên cứu sinh, học viên cao học,
sinh viên ... nghiên cứu và tìm hiểu.
Tất cả là những tài liệu vô cùng quý báu giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong quá trình
tâm đắc và cũng còn nhiều trăn trở.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề đặt ra trong đề tài một cách chặt chẽ và khoa học, chúng tôi sử
dụng phương pháp nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, diễn giải, điển hình
hóa, hệ thống các thành quả nghiên cứu và ngoài ra chúng tôi còn tham khảo các tác phẩm,
giáo trình, tài liệu chuyên ngành trong quá trình nghiên cứu.
4. Phạm vi nghiên cứu
Như chúng tôi đã trình bày ở phần trên, viết về con người tha hóa biến chất là đề tài
được rất nhiều tác giả quan tâm sáng tác, và cũng có khi là đề tài được mọi tác giả tập trung
khai thác triệt để như trường hợp của tác giả Vũ Trọng Phụng, tác gia Nam Cao. Tuy nhiên,
với khuôn khố của một luận văn Thạc sĩ, hạn chế về thời gian, hạn chế về nguồn tư liệu, và
hạn chế về tầm hiểu biết chúng tôi chỉ xin được trình bày mội số nhận thức của mình về đề
tài:
“Con người tha hóa trong văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930- 1945”
Qua việc đi vào phân tích, lý giải mội số tác phẩm tiêu biểu của các tác giả như SỐ
ĐỎ, GIÔNG TỐ của Vũ Trọng Phụng, BỈ VỎ của Nguyên Hồng, ĐỜI THỪA, CHÍ
PHÈO của Nam Cao. Đồng thời chúng tôi cũng có sự so sánh đối chiếu nội dung của đề tài
với một vài tác phẩm của các tác giả trong cũng như ngoài nước để đánh giá vấn đề được
toàn diện và khách quan hơn...
5. Đóng góp của luận văn
Chúng tôi mong muốn luận văn này sẽ góp phần làm nổi rõ sự thay đổi trong tư duy
sáng tác của các nhà văn hiện thực, cũng như khám phá thêm sự thay đổi cái nhìn nghệ thuật
về con người trong bước ngoặc chuyển đổi của nền văn học dân tộc từ thời kỳ trung đại
sang thời kỳ hiện dại. Qua công trình này, chúng tôi đã đi sâu nghiên cứu, phân lích ý nghĩa
nhân văn từ cái nhìn nghệ thuật của các tác giả, tác phẩm về:
“Con người tha hóa trong văn học hiện thực phê phán giai đoạn 1930- 1945”.
Chính quyền thuộc về một dòng họ. Triều đình quan lại là thân thuộc, tôi tớ của dòng họ
cầm quyền. Vua, quý tộc và quan lại chia nhau hưởng số lô thuế và các quyền lợi chính trị,
các tinh thần khác được phân phối theo thứ bậc thân, sơ, liên, dưới.
Cả hệ thống đó - về mặt nhà nước là chính quyền, về mặt xã hội là đẳng cấp, về mặt
máu mủ là họ hàng - thống trị “tứ dân” sĩ, nống, công, thương. Nhưng quan trọng nhất về số
lượng cũng như về vai trò kinh tế là nông dân.
Trong xã hội có sự đối lập giữa nông thôn và đô thị nhưng không phải là sự đối lập
giống như trong xã hội tư sản. Khắp nước là nông thôn, là những làng bản ẩn nấp trong lũy
tre xanh có cổng làng đóng kín, là vô số những đám ruộng đất manh mún, là những đình
chùa đồn miếu, thần hộ vệ dân làng. Đô thị là nơi thủ phủ về chính trị, văn hóa, là nơi tập
trung kho lẫm, quân đội. Ở đô thị có cung thất, dinh thự, phủ độ của quý tộc. Sinh hoạt đô
thị cố khác nông thôn nhưng nhân vật trung tâm trong cuộc sống ở đó vẫn là các nhà quyền
quý, các công lử, tiểu thư lá ngọc cành vàng, xe kiệu võng lọng cao đại, oai nghiêm, cậy
quyền cậy thế, đi lại có kẻ hầu người hạ rậm rịch. Những con buôn chạy việc cung cấp thức
ăn vật dùng cho trại lính, chạy việc mua hàng, bán hàng, những thông ngôn ký lục giúp việc
giao thiệp giấy tờ, những me Tây, những ông thầu khoán, những người học trò các trường
thông ngôn, hậu bổ là lớp thị dân đầu tiên của các thành phố nhượng địa. Kinh tế hàng hóa
kích thích sự phái triển của công thương nghiệp, làm cho thành thị phát triển, làm xuất hiện
nhiều nhu cầu mới, nhiều nghề mới. Thành thị thu hút ngày càng nhiều những người dân
chạy loạn, những người nông dân phá sản và cả những người khác bỏ nông thôn ra thành thị
mong kiếm ăn dễ dàng hơn. Lớp thị dân trong các thành phố nhượng địa là những lớp dân
mới ngoài “tứ dân” có quan hệ với chính quyền khác trước và quan hệ với nhau cũng khác
trước. Họ đã thành những cá nhân trước pháp luật bảo hộ, ít nhiều có quyền tự do của đời
sống thành thị tư sản. Giai cấp tư sản từ túc tầng lớp thị dân phát triển dần lên thành những
nhà công thương dân tộc và mại bản.
Sự xác xơ của làng xóm, sự phá sản của nông nghiệp, sự xuất hiện của các thành thị đã
đổi chiều hướng lưu tán của người nông dân, xô đẩy họ ùn ra thành thị. Nhưng ở thành thị
đông đúc, người khôn của khó, có nhiều nghề cũng không dễ kiếm ăn. Những người nông
thay đổi trong đời thường là sự thay đổi cả cuộc sống tinh thần, tâm lý, cách suy nghĩ. Trong
xã hội xuất hiện những vấn đề mới và cách nhìn, cách giải quyết các vấn đề đó theo cái mới.
Ở thành thị con người tỏ ra cần hưởng thụ, cần tiền, cần tính toán, chạy vạy. Cuộc
sống sôi động, chen chúc, phức tạp đòi hỏi người ta phải nhanh chóng, gọn ghe, luôn luôn
động. Cái mới tập trung ở thành thị nhưng không đóng khung ở thành thị, nó đổi thay cả
cuộc sống ở nông thôn, căn cứ địa của nhà nho với người nông dân, những người vốn trung
thành với cái cổ truyền nhất.
Không phải người ta dễ dàng chấp nhận sự thay thế đó. Nhà nho và người nông dân
dầu càng ngày càng thất thế, càng bi quan vẫn không ngừng phản kháng. Nhưng cái mới, cái
đẹp, cái tiện lợi vẫn có sức mạnh của nó. Dần dần cái mới chinh phục được ca những người,
khó tính, nệ cổ. Cái mới đã chi phối sự suy nghĩ, tác động đến tâm lý xã hội.
Trong cuộc đổi thay như vậy đã xuất hiện nhiều con người khác trước, nhiều quan hệ
khác trước, nhiều chuyện khác trước. Cuộc sống tràn ra ngoài khuôn khổ luân thường và
nhân tình thế thái, trở thành mội cuộc sống cụ thể, đa dạng và sôi động. Bước ra khỏi khuôn
khổ chật hẹp, yên lặng, họ hàng, làng mạc, người ta phải tỉnh táo, tính toan, vật lộn trong
tình thế “khôn sống vống chết” của quan hệ lạnh lùng “tiền trao cháo múc”. Người ta phải
tự ý thức, phải sống, suy nghĩ, mơ ước cho riêng mình trong những điều kiện của mội xã hội
rộng lớn, phức tạp.
1.2. Khái quát tình hình văn học
1.2.1. Tình hình văn học nói chung
Chính sự đổi thay, sự đấu tranh trong xã hội đã tạo ra những con người khác trước, và
do đó cũng đặt ra những vấn đề thành đề tài văn học khác trước. Những nhân vật văn học,
những suy nghĩ cảm xúc mà ta sẽ gặp trong văn học thời kỳ này có thế nói hầu như là những
cái mới đã ra đời trong thời kỳ này. Văn học trong giai đoạn này thực sự đã là văn học của
những con người cụ thể và của một xã hội động.
Văn học thành thị đã âm thầm, lặng lẽ thay thế cho văn học nông thôn, người trí thức
Tây học cũng dần thay thế cho nhà nho làm chủ văn đàn.
của tinh thần dân chủ và xã hội chủ nghĩa của dân tộc ta đang ngày càng được phát huy cao
độ dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Chủ nghĩa hiện thực với những đặc trưng của nó chỉ có thể phát huy được trọn vẹn
trong văn xuôi với thể tài tự sự, đặc biệt là tiểu thuyết. Điều kiện ấy bắt đầu hình thành vào
khoảng những năm 20 của thế kỷ này. Từ đó xu hướng văn học hiện thực có khả năng phát
triển liên tục hơn với một nhịp độ khẩn trương hơn. Đà phát triển ấy không phải lúc nào
cũng mạnh mẽ như nhau nhưng nhìn chung là theo hướng đi lên để ngày càng đạt được
nhiều thành tựu phong phú, sâu sắc và hoàn thiện hơn.
Chế độ thuộc địa khủng hoảng dữ dội, đấu tranh giai cấp hết sức quyết liệt đã phân hóa
mạnh mẽ đội ngũ văn nghệ sĩ tư sản, tiểu tư sản. Một số nhà văn khiếp nhược cảm thấy
hoàn toàn bế tắc, nhắm mắt lao vào các xu hướng văn học thần bí, siêu hình hoặc đồi trụy
vô luân.. Nhưng một số không ít các nhà văn đã thức tỉnh từ thời kỳ Mặt trận dân chủ vẫn
tiếp tục được nuôi dưỡng bởi những tư tưởng tiến bộ của nó.
Có những nhà văn đi tới chủ nghĩa hiện thực do một lối khác. Cuộc sống không cho
phép họ mơ mộng, thoát ly và môi trường sinh hoạt thân thuộc hàng ngày không cung cấp
cho họ một vốn sống nào khác ngoài tình cảnh của những người nghèo khổ. Nhưng mặc dù
thế nào tầng lớp trí thức tiểu tư Sản vẫn dễ lãng mạn, bay bổng. Dưới mội mái nhà tranh ở
thôn quê hay một gian gác xép tồi tàn ở thành thị họ vẫn có thể thấy mình là một trang
phong lưu công tử hay một hiệp sĩ anh hùng làm chết mệt những tiểu thư đài các. Nhưng
cuộc sống áo cơm của các nhà văn hiện thực từ khoảng những năm 1939 - 1940 trở đi quả là
càng ngày càng quẫn bách hơn. Chiến tranh đế quốc tàn khốc, nạn thất nghiệp nặng nề.
Hàng loạt báo chí bị đình bản. Nhiều nhà xuất bản phải đóng cửa vì giấy khan hiếm, sách ế
ẩm. Thóc gạo mỗi ngày một giá. Nạn đói lan tràn dần dần vây lấy họ, ló đầu vào nhà họ.
Bão táp của cuộc đời đã rung chuyển đến cả những “tháp ngà” yên tĩnh nhất, dĩ nhiên cũng
thúc bách, lay tỉnh họ một cách dữ dội và buộc họ phải nhìn sát vào thực tế. Nhưng nếu họ
còn giữ được lương tâm trong sạch và muốn tạo nên những tác phẩm nghệ thuật có giá trị
thật sự dựa vào những cảm nghĩ chân thật và những hiểu biết chắc chắn của mình về cuộc
sống thì họ chỉ có thể đi vào con đường hiện thực dưới nghĩa mà thôi.
Một trong những nguyên nhân quan trọng khác dẫn đến việc các nhà văn. đến với chủ
nghĩa hiện thực là sự tác động dưới những qui luật của bản thân văn học. Đó là qui luật kế
Nhược điểm thứ hai của văn học hiện thực phê phán, đặc biệt trong giai đoạn 19401945 là nội dung bi quan, bế tắc thể hiện ở không khí của tác phẩm và nhất là ở tính cách và
tâm sự của nhân vật. Đọc một số tác phẩm của Nam Cao, Tô Hoài... người đọc cứ thấy như
là sống trong một thế giới không bao giờ có bình minh và mùa xuân. Một bầu trời nặng nề u
ám chụp lên mọi khung cảnh xơ xác, vắng vẻ, heo hiu, trong đó con người nhỏ nhoi, yếu
đuối cứ âm thầm chịu đựng một cuộc sống không phải là quá cực nhục thì cũng bằng phẳng,
nhạt nhẽo, cứ chảy trôi đều đều một nhịp uể oải đến chán ngắt. Thảng hoặc cũng có một vài
người biết phẫn uất, đứng lên phá phách một cách liều lĩnh như nhân vật Chí Phèo của Nam
Cao, thằng Xin của Bùi Hiển... Nhưng những sự vùng vẫy tuyệt vọng và đơn độc ấy không
đủ sức khuấy động lớn được cái không khí nặng nề, tù hãm bao trùm lên tác phẩm. Còn số
đông là những con người dường như đã bị cuộc sống tàn bạo làm cho khiếp nhược. Trong
xã hội độc ác, hung bạo xây dựng trên quyền lực của đồng tiền, thân phận của họ chỉ là con
sâu cái kiến.
Một số tác phẩm viết về những con người tầm thường nhỏ bé mà cuộc sống quẩn
quanh bế tắc với những thói quen vô lý, ngu xuẩn của nó làm cho u mê, đần độn đến nỗi
ngay cả ước mơ vượt ra khỏi tình thế của mình cũng không có.
Những cây bút hiện thực thời kỳ này đã ghi lại được phần nào những phương diện đen
tối, bi thảm của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ khi cả hai tên đế quốc Pháp và Nhật giày xéo
lên đất nước ta, khi nạn đói khủng khiếp tàn phá làng xóm quê hương ta, muốn tiêu mòn hết
sinh lực của dân tộc ta. Chỗ yếu của văn học thời kỳ này là không trực diện phê phán những
lực lượng thống trị xã hội, không trực tiếp lên án những thủ đoạn áp bức bóc lột của chúng.
Nhưng chỗ mạnh của nó là qua những “cái hàng ngày” của đời sống người trí thức tiểu tư
sản nghèo với những lo toan căng thẳng vì miếng cơm, manh áo, qua số phận thê thảm của
những gia đình nông dân hay dân nghèo thành thị mòn mỏi, tan tác vì thất nghiệp, vì đói
khát, mà làm cho người đọc cảm nhận thấy được cái không khí ngột ngạt bức bối của cả một
xã hội đang quằn quại trong những ngày cuối cùng của chế độ thuộc địa làn bạo.
Những bức tranh u ám kia đồng thời cũng là những hình ảnh tâm hồn của chính những
người cầm bút tiểu tư sản không tránh khỏi hoang mang trước thời cuộc bấy giờ. Trước mắt
họ đây là thời kỳ cái ác và kẻ vô đạo làm chúa tể. Mọi giá trị chân chính bị giày đạp trắng
CHƯƠNG 2: QUAN NIỆM VỀ NHÂN VẬT THA HÓA TRONG
TIỂU THUYẾT HIỆN THỰC PHÊ PHÁN
2.1. Quan niệm chung về nhân vật trong tiểu thuyết
2.1.1. Thuật ngữ “Nhân vật”.
Thuật ngữ “nhân vật” được sử dụng để biểu thị một khái niệm là con người trong tác
phẩm. Nhân vật còn được gọi là hình tượng nhân vật.
Theo Đôxtôiepxki, “Nhân vật chỉ như một quan điểm đặc biệt đối với thể giới và đối
với chính nó, như là một lập trường ý nghĩa và lập trường đánh giá của con người đối với
bản thân và đối với thế giới xung quanh nó”. [3 - Trang 36]
Như vậy, Đôxtôiepxki quan tâm đến nhân vật không như một hiện tượng của hiện
thực, có các dấu hiệu xác định, cố định về mặt điển hình xã hội và tính cách cá nhân, không
như một diện mạo nhất định được tạo thành bằng các đặc điểm đơn nghĩa và khách quan mà
trong tổng thể sẽ trả lời cho câu hỏi “Nó là ai?”. Theo ông cái cần khám phá và khắc họa
không phải là tồn tại được, xác định được “Mà là sư tổng kết mới nhất của ý thức và của sự
tự ý thức của nó, suy đến cùng, là ý kiến mới nhất của nhân vật về chính nó và thế giới của
nó”. [3 - Trang 36]
Như vậy nhân vật là con người cụ thể được mô tả trong tác phẩm văn học. Nhân vật có
trong nhiều thể loại văn học: nhân vật cũng có thể là tên riêng hoặc không có tên riêng.
Nhưng cũng có khi khái niệm “nhân vật được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con
người cụ thể nào cả, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm văn học”. Như
nhân vật Đồng tiền - nhân vật chính trong tác phẩm ƠGRÊNI GƠRĂNGĐÊ của Bandăc [4].
2.1.2. Đặc điểm của nhân vật trong tiểu thuyết.
Tiểu thuyết có dung lượng phản ánh khá lớn, có khả năng khái quát cuộc sống một
cách sâu rộng nhất, nhiều nhất so với các thể loại văn học khác. Chính vì vậy nhân vật trong
tiểu thuyết hầu như luôn được miêu tả tỉ mỉ từ ngoại hình đến nội tâm. Tư duy tiểu thuyết
cũng cho phép nhà văn “trao ngòi bút cho nhân vật tự viết lấy giọng điệu riêng của nó”
(Antônôp). Nên nhân vật trong tiểu thuyết thường có giọng điệu hết sức phong phú, có “tính
chất đa thanh” [2].
người, phải nắm được quá khứ, hiện tại, tương lai của nhân vật. Muốn vậy nhà văn phải
xuất phất từ nhũng con người trong đời sống để xây dựng những nhân vật văn học. Nhưng
những con người trong đời sống và nhân vật văn học không thể là một - nhân vật văn học
con là “con đẻ tinh thần”của nhà văn. Nhân vật thường được nhà văn xây dựng dựa trên
nguyên mẫu có thực trong đời sống bằng những hiểu biết, vốn sống, khả năng sáng tạo nghệ
thuật. Vì vậy không ít nhà văn đã xây dựng thành công loại nhân vật văn học này có tính
cách thẩm mỹ đậm nét tạo được chỗ đứng trong lòng người đọc. Nhưng để có những nhân
vật có giá trị, nhà văn không thể sao chép vụng về một con người thật ngoài đời mà phải
chọn lọc, đánh giá, tưởng tượng, chế biến cho khả năng của mình để phục vụ cho tư tưởng
chủ đề của tác phẩm. Để đạt được yêu cầu khách quan hơn, nghệ thuật hơn nhà văn thường
cũng chọn lọc, đánh giá lại các tài liệu theo góc độ riêng của mình.
L.Tônxtôi coi nhiệm vụ của mình là xây dựng các điển hình chứ không phải sao chép
hiện thực một cách đơn giản. Ông nói “Tôi rất lấy làm tiếc nếu sự giống nhau giữa các nhân
vật hư cấu và những người thực có thể khiển ai đó nghĩ rằng tôi muốn mô tả nhân vật này
hay nhân vật nọ có thực, đặc biệt vì hoạt động văn hóa mà tôi đang tiến hành không có gì
chung với hoạt động chỉ nhằm mô tả những nhân vật có thực”. [27 - trang 28, 29]
Phần lớn các nhân vật trong tiểu thuyết là những nhân vật được xây dựng thông qua
quá trình hư cấu và sáng tạo nghệ thuật. Đó là một quá trình khá phức tạp phụ thuộc vào thế
giới quan, vốn sống, trình độ hiểu biết, phong cách và cá tính của nhà văn, đồng thời lại còn
bị chi phối bởi tư tưởng, chủ đề, kết cấu và sáng tạo. Nhưng sự tưởng tượng của nhà văn
phải dựa trên hiểu biết nhiều nguyên mẫu để rồi trên cơ sở đó xây dựng lên một điển hình
nghệ thuật có sức khái quát cao. Cũng có nhiều khi nhà văn phải xây dựng mặt điển hình
dựa trên cơ sở của nhiều nguyên mẫu khác nhau. Nói chung nhà văn cần phải làm thế nào
cho các đường nét của những nguyên mẫu tan biến đi trong một tổng thể hoàn toàn mới về
chất lượng bởi những tình cảm, sự sáng tạo nghệ thuật. Quá trình hư cấu đầy phức tạp mà
nhà văn phải huy động tới mức tối đa vốn sống thế giới quan, trình độ hiểu biết, phong cách
và cá tính dưới sự chi phối của tư tưởng chủ đề, kết cấu và cốt truyện để tạo nên một điển
hình văn học có giá trị “khiến cho điển hình nghệ thuật có tầm khái quát rộng lớn, ai cũng
Chủ nghĩa tư bản đã đưa nhân loại tiến lên một bước lớn lao so với tất cả các phương
thức sản xuất trước đó. Tuy nhiên nó không loại bỏ được những tha hóa xã hội. Thậm chí nó
đã làm đậm nét những tha hóa đó bằng cách tăng cường bóc lột lao động và gia tăng sự bần
cùng hóa các giai cấp lao dộng bằng cách hạ thấp các điều kiện sinh hoạt của các tầng lớp
nghèo khổ và bị tước đoạt trong giai cấp vô sản. Những sự tha hóa dần chất lên, sự suy sụp
về thể chất, sự sút giảm về tinh thần đi đôi với nhau. Mọi quan hệ. “con người” đều tan biến
đi trước “lợi ích lạnh lùng”, những đòi hỏi cứng rắn “thanh toán sòng phẳng”, bằng cách
nhấn chìm mọi tình cảm “trong làn nước băng giá của sự tính toán ích kỷ”.
Sự tha hóa trở thành phổ biến: nó không chừa một ai. Sự tha hóa có rất nhiều mặt gắn
nền với “sự phụ thuộc của lao động vào tư bản”.
2.1.4. Khái niệm nhân vật tha hóa
“Nhân vật tha hóa” là khái niệm chỉ con người trong tác phẩm văn học bị mất phẩm chất
đạo đức, trở thành con người xấu đi so với bản chất tốt đẹp vốn có của con người. [47]
Con người tha hóa là con người ra đời trong hoàn cảnh xã hội nhất định. Và theo Marx
thì hoàn cảnh xã hội đó chính là xã hội tư bản, con người trở thành nô lệ của đồng tiền và nô
lệ với những mối quan hệ quanh quan hệ giữa tiền bạc, lợi nhuận và con người. Nói cách
khác con người không được tự do về mặt xã hội hay kinh tế mà bị cưỡng bức, bị phụ thuộc.
Còn theo giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh thì nhân vật tha hóa được ra đời trong một xã hội tha
hóa, một xã hội độc ác, bất công, vô lý và “chó đểu” thời Pháp thuộc.
Theo chung lối nhân vật tha hóa trong Văn học hiện thực Việt Nam có hai dạng:
Dạng thứ nhất nhân vật tha hóa là sản phẩm của xã hội thực dân nửa phong kiến thời
Pháp thuộc, nói cách khác xã hội này đã đẻ ra những con người thuộc về nó. Đối với loại
nhân vật này thì sự tha hóa đã ăn sau vào máu thịt của chúng và vì thế chúng cứ trượt dài
trên sự tha hóa như tha hóa chính là bản chất của chúng vậy. Ở dạng nhân nhân vật này
chúng tôi sẽ phân tích các nhân vật Xuân, bà Phó Đoan, gia đình cụ cố Hồng và những
người bạn thân của họ (tác phẩm SỐ ĐỎ), Nghị Hách (GIÔNG TỐ).
Dạng thứ hai nhân vật tha hóa là nạn nhân của xã hội thực dân nửa phong kiến. Những
chính sách đàn áp bóc lột của thực dân phong kiến, dẫn đến cuộc sống nghèo khổ kéo dài