giao lưu văn hóa giữa người stiêng với các dân tộc khác ở bình phước từ năm 1945 đến nay - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Như Hiền

GIAO LƯU VĂN HÓA GIỮA NGƯỜI STIÊNG
VỚI CÁC DÂN TỘC KHÁC Ở BÌNH PHƯỚC
TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Như Hiền

GIAO LƯU VĂN HÓA GIỮA NGƯỜI STIÊNG
VỚI CÁC DÂN TỘC KHÁC Ở BÌNH PHƯỚC
TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số
: 60 22 54

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học
TS. TRẦN THỊ THANH THANH


1.2.1. Vị trí địa lý ......................................................................................................... 18
1.2.2. Địa hình, đất đai ................................................................................................. 19
1.2.3. Khí hậu, sông ngòi ............................................................................................. 20
1.3. Cộng đồng các dân tộc sinh sống ở Bình Phước ........................................................ 21

Chương 2: GIAO LƯU VĂN HÓA GIỮA DÂN TỘC STIÊNG VỚI CÁC DÂN
TỘC KHÁC Ở BÌNH PHƯỚCTỪ 1945 ĐẾN NAY ........................ 29
2.1. Lịch sử hình thành tộc người Stiêng và người Stiêng ở Bình Phước .......................... 29
2.2. Giao lưu văn hóa giữa người Stiêng với các dân tộc khác ở Bình Phước từ 1945
đến nay ..................................................................................................................... 40
2.2.1. Bối cảnh lịch sử: ................................................................................................ 40
2.2.2. Đời sống vật chất ............................................................................................... 43
2.2.2.1. Kinh tế ........................................................................................................ 43
2.2.2.2. Nhà ở, làng bản .......................................................................................... 55
2.2.3. Đời sống tinh thần .............................................................................................. 64
2.2.3.1. Tín ngưỡng, tôn giáo .................................................................................. 64
2.2.3.3. Nghệ thuật cồng chiêng.............................................................................. 78
2.2.3.4. Sử thi, dân ca .............................................................................................. 81
2.2.3.5. Hôn nhân, tang ma ..................................................................................... 87
2.2.3.6. Luật tục....................................................................................................... 91
2.2.4. Đời sống xã hội .................................................................................................. 98


2.2.5. Đóng góp của người Stiêng và các dân tộc khác trong kháng chiến chống
Pháp (1945 – 1954) và kháng chiến chống Mĩ (1954 – 1975)........................ 103

Chương 3: NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA VĂN HÓA DÂN TỘC STIÊNG Ở
BÌNH PHƯỚC TỪ SAU 1975 ĐẾN NAY ....................................... 105
3.1. Chính sách của Nhà nước đối với việc giữ gìn và phát triển văn hóa của các dân tộc .............. 105
3.1.1. Về kinh tế ......................................................................................................... 110

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Bên cạnh những điểm tương đồng về
lịch sử, văn hóa, mỗi dân tộc ở mỗi vùng miền đều có những giá trị văn hóa truyền
thống đặc trưng tiêu biểu cho tộc người mình. Trong quá trình tồn tại và phát triển,
các dân tộc sinh sống trong một không gian chung nhất định thường diễn ra quá
trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa với nhau. Quá trình này góp phần biến đổi một số
yếu tố văn hóa của dân tộc.
Stiêng ( Xtiêng, Xa Điêng, Xa Chiêng ) là một trong số các dân tộc thiểu số
ở nước ta có nền văn hóa độc đáo được thể hiện trên nhiều phương diện. Hiện nay,
người Stiêng sinh sống chủ yếu ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.
Ở Bình Phước, dân tộc Stiêng là một trong những tộc người bản địa, sinh
sống bên cạnh những dân tộc khác như Kinh, Khơme, Mạ … Sự giao lưu về kinh tế,
văn hóa giữa các dân tộc đã góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa của dân
tộc Stiêng, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của những yếu tố dẫn đến nhiều nét đẹp
truyền thống bị mai một dần.
Trong quá khứ cũng như hiện tại, người Stiêng đã có những quan hệ về
nguồn gốc, lịch sử phát triển tộc người, có mối giao lưu văn hóa với các dân tộc anh
em trong địa bàn tỉnh Bình Phước và ở Tây Nguyên, đặc biệt là các dân tộc thuộc
ngữ hệ Môn – Khơme. Chính vì vậy, người viết luận văn mong muốn góp phần làm
rõ hơn về đời sống văn hóa của người Stiêng, những thay đổi, tiếp biến văn hóa của


dân tộc Stiêng ở Bình Phước từ năm 1945 đến nay với đề tài nghiên cứu là “Giao
lưu văn hóa giữa dân tộc Stiêng với các dân tộc khác ở Bình Phước từ năm 1945
đến nay”.
Qua đề tài nghiên cứu này, người viết mong muốn luận văn là một tư liệu bổ
ích cho các tiết dạy lịch sử địa phương ở trường THPT, đặc biệt là trong địa bàn
tỉnh Bình Phước, bồi dưỡng cho thế hệ trẻ ý thức bảo tồn và phát huy những giá trị
văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số, bảo tồn sự giao thoa văn hóa và các
giá trị văn hóa của các dân tộc trong quá trình sinh sống, tiếp xúc với nhau.


ở Nam Tây Nguyên.
Tác giả phương Tây đầu tiên nhắc đến người Stiêng là Taber trong bản đồ
“An Nam Đại Quốc họa đồ” ấn hành năm 1838. Việc nghiên cứu về điều kiện tự
nhiên, địa lý hành chính, địa lý dân cư và truyền thống văn hóa của dân tộc Stiêng
và một số dân tộc thiểu số khác được nêu ra trong các công trình nghiên cứu của các
nhà truyền giáo, sỹ quan quân đội Pháp phục vụ cho việc tìm hiểu cư dân Stiêng để
nô dịch và cai trị, tiêu biểu là:
- Dictionnaire Stiêng, trong Excursions et Reconnaisrances (Saigon, Imp.
Colonaile, T.XII, Mai - Juin 1886). Năm 1887, cuốn sách này được xuất bản tại Sài
Gòn. Đây là bộ từ điển biên soạn về ngôn ngữ tộc người Stiêng, nói lên sự phong
phú đa dạng về văn hoá tộc người, là cơ sở để tra cứu ngôn ngữ, nghiên cứu các lĩnh
vực liên quan đến đời sống xã hội. Tác phẩm này không chỉ là công trình đầu tiên
viết về người Stiêng mà còn là một trong những công trình sớm nhất của người
Pháp viết về các dân tộc ít người ở Tây Nguyên. Trong phần đầu tác phẩm,
H.Azémar cho in bài “Les Stiêng de Brơlâm”, viết về đời sống xã hội của tộc người
Stiêng ở vùng Brolam, ghi chép khá nhiều về phong tục của người Stiêng và cảnh
quan vùng cư trú của người Stiêng vào cuối thế kỷ XIX. Qua đó, phong tục, tập
quán pháp của người Stiêng được phản ánh sâu sắc, là cơ sở để nghiên cứu về dân
tộc học, văn hoá học và là nguồn tham khảo tốt cho cả khoa học lịch sử.
- Au pays Moi, của Marquis Pierre de Barthélémy, ( Paris Plon – Nourrit., 2e
éd, 1904); Hinterland Moi, của Paul Patté, ( Paris, Plon – Nourrit, 1906);
Les jungles Moi, của Henri Maitre, ( Paris, Larose, 1912)… là những tác phẩm


chuyên khảo, có nội dung nghiên cứu sâu về điều kiện tự nhiên, môi sinh, đời sống,
phong tục, xã hội của các tộc người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng cao nguyên nước
ta dưới thời Pháp thuộc, trong đó bao gồm cả người dân tộc thiểu số cư trú tại Bình
Phước. Phần lớn tác giả của những công trình chuyên khảo này là người trực tiếp du
thám, xâm nhập vùng đất cư trú của người dân tộc thiểu số nên sự mô tả về con
người, hoạt động của xã hội tộc người và thế giới quanh họ hết sức tỉ mỉ. Đây là

mủ của các đồn điền cao su – khu vực hoạt động bằng đầu tư của tư bản Pháp. Tài
liệu có nội dung liên quan đến xã hội chủ yếu là các bản báo cáo tình hình trật tự trị
an của dân chúng vùng bị chiếm đóng do chính quyền địa phương đệ trình lên chính
phủ thuộc địa. Để nghiên cứu về xã hội, các tư liệu kinh tế, báo cáo kinh tế, các
chuyên khảo về địa lí, lịch sử và hành chính dân cư đã chứa những thông tin quan
trọng phản ánh tình hình xã hội của vùng đất này.
Trong thời kì Pháp thuộc, hầu như chưa có công trình của người Việt nghiên
cứu về vùng đất này.
Năm 1951, tác giả T.Gerber cho công bố công trình “Coutumier Stiengieng”
(phong tục người Stiêng). Tác phẩm cung cấp cho người đọc một số hiểu biết về
luật tục, tư duy xã hội và một số truyền thuyết của người Stiêng. Qua tác phẩm toàn
cảnh đời sống, quan hệ xã hội, kết cấu xã hội truyền thống được tái hiện, phản ánh
nguyên vẹn một xã hội tộc người chịu sự chi phối bởi quan hệ huyết thống, được
duy trì và quản lý bằng luật tục. Tuy nhiên, tác giả chưa thoát khỏi cách nhìn nhận
về con người và xã hội của người dân tộc tại chỗ như một thế giới man rợ.
Năm 1966, trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu của người Pháp và
những cuộc khảo sát các nhóm người Stiêng ở phía tây bắc Sài Gòn, các tác giả
người Mỹ đã cho xuất bản tập sách dày nhiều chương “Minority Groups in the
Republic of Vietnam”, được biên soạn theo đơn đặt hàng của Bộ quốc phòng Hoa
Kỳ. Trong tập sách này, các tác giả đã dành riêng một chương để giới thiệu về
người Stiêng ở Việt Nam.
Việc nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc Stiêng cũng được đẩy mạnh. Nhiều công
trình về ngữ học tiếng Stiêng đã được công bố và ấn hành, kể cả dự án Latinh hóa
tiếng Stiêng. Trong các công trình nghiên cứu chung về các dân tộc ít người ở Tây
Nguyên, một số tác giả người Mỹ như Le Bar, Thomas David, Hickey…cũng có đề
cập đến người Stiêng.
Những công trình nghiên cứu của các tác giả người Mỹ về dân tộc Stiêng
nhìn chung không nhiều cái mới so với các tác giả người Pháp trước đó, ngoại trừ
trên lĩnh vực ngôn ngữ. Với mục đích nhằm phục vụ cho hoạt động chiến tranh của




công trình của người Pháp. Riêng các vấn đề kinh tế, xã hội của người Stiêng, ở
miền Nam vẫn chưa có một công trình chuyên sâu bằng tiếng Việt.
Sau năm 1975, tình hình nghiên cứu trong nước đã có những bước phát triển
mới và thu được nhiều kết quả đáng kể. Sau những cuộc khảo sát điền dã tại các
“pol” (làng) Stiêng ở xã Dak Nhau, huyện Bù Đăng, tỉnh Sông Bé, kết quả nghiên
cứu đã được công bố trên một số tạp chí về các ngôi nhà dài, các quan hệ thân tộc
và một số vấn đề xã hội của người Stiêng.
Năm 1981, trên tạp chí Dân tộc học số 3, có đăng bài “Nhà dài người
Xtiêng” của tác giả Nguyễn Huy Thiệu.
Trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6 (1983) đăng bài viết “Xã hội Xtiêng
qua tài liệu điền dã tại sóc Bom Bo” của Hữu Ứng.
Trong tập sách “Các dân tộc ít người ở Việt Nam” và trong “Sổ tay các dân
tộc ít người ở Việt Nam” do Viện Dân tộc học ở Hà Nội biên soạn đều có bài riêng
giới thiệu khái quát về người Stiêng. Các bài viết trong hai tập sách này giúp người
đọc biết được một số nét văn hóa, sinh hoạt kinh tế, phong tục tập quán, tổ chức xã
hội… của người Stiêng.
Năm 1984, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội cho xuất bản tác phẩm “Các dân
tộc ít người ở Việt Nam (các dân tộc phía Nam), trong đó có công trình nghiên cứu
“Dân tộc Xtiêng” của tác giả Diệp Đình Hoa. Qua bài viết, tác giả Diệp Đình Hoa
đã đưa ra một bức tranh khái quát về các hoạt động sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã
hội và phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ của người
Stiêng. Đặc biệt, tác giả còn đi sâu phân tích những biến đổi trong đời sống của
đồng bào trong những năm 1975 -1979. Công trình này đã cung cấp một cách khái
quát thông tin về các vấn đề cơ bản mà người viết quan tâm.
Tháng 4/1984, Ban Dân tộc học thuộc Viện Khoa học xã hội tại thành phố
Hồ Chí Minh đã phối hợp với tỉnh ủy, UBND tỉnh Sông Bé tổ chức một cuộc khảo
sát và nghiên cứu các dân tộc ít người trong tỉnh, đặc biệt là người Stiêng. Đây là
đợt khảo sát tương đối rộng và chuyên sâu vào một số vấn đề kinh tế - xã hội của

Trên tạp chí Dân tộc học số 3, năm 1991 có đăng bài viết của tác giả Trần
Tất Chủng – “Góp thêm tài liệu nghiên cứu về người Stiêng”. Bài viết đã giới thiệu


một số kết quả điều tra điền dã của các tác giả tại hai “pol” Stiêng thuộc hai vùng
Bù Lơ và Bù Dek.
Ngô Văn Lệ với công trình nghiên cứu “Một số vấn đề lịch sử di dân”, trong
“Nghiên cứu khoa học xã hội”, trường ĐHTH Tp.HCM, số 1, 1992.
Cũng năm 1992, trên cơ sở các tài liệu, tư liệu, các công trình nghiên cứu của
các tác giả trong và ngoài nước, đặc biệt là những sưu tập trong các đợt điều tra
điền dã ở nhiều vùng cư trú của người Stiêng ở các huyện phía Bắc tỉnh Sông Bé,
tác giả Phan An đã tổng hợp và công bố công trình nghiên cứu-luận án Tiến sĩ khoa
học lịch sử “Hệ thống xã hội tộc người Stiêng ở Việt Nam: từ giữa thế kỷ XIX đến
năm 1975”.Đây là công trình nghiên cứu khá toàn diện về mọi mặt đời sống xã hội
của người Stiêng tại các huyện phía Bắc tỉnh Sông Bé (Bình Phước ngày nay).
Trong đó, tác giả tập trung nghiên cứu về những yếu tố và các quan hệ cấu thành hệ
thống xã hội tộc người của người Stiêng và xem xét nó trong mối quan hệ hữu cơ
với cơ sở tồn tại của tộc người Stiêng như môi sinh tộc người, các hoạt động kinh
tế, đời sống văn hóa vật chất và tinh thần…Đặc biệt, tác giả Phan An còn đi sâu
phân tích quan hệ thân thuộc, các dạng tập hợp người của xã hội người Stiêng.
Công trình nghiên cứu của tác giả là nguồn tài liệu phong phú, quý giá để người viết
tham khảo khi thực hiện đề tài.
Năm 1993, trên tạp chí Dân tộc học số 1, có đăng bài viết “Góp phần tìm
hiểu luật tục Stiêng” của Ngô Văn Lý. Công trình cung cấp nhiều thông tin bổ ích
về xã hội tộc người, quan hệ giữa các tầng lớp xã hội tộc người truyền thống, giúp
hiểu rõ về quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội và quyền sở hữu công về ruộng đất của
cư dân tại chỗ trước khi Pháp xâm lược.
Năm 1994, Đinh Văn Liên với luận án phó tiến sĩ khoa học lịch sử “Động
thái dân số tộc người các dân tộc ít người ở Nam Bộ Việt Nam” do Viện khoa học
xã hội TP.HCM ấn hành. Ngoài ra, trong thời gian này còn có hai công trình nghiên

Tác giả không trực tiếp nói về kinh tế Bình Phước thời Pháp thuộc, song đã lý giải
những nguyên nhân, mục đích, quá trình đầu tư vào việc trồng cây cao su của tư bản
Pháp ở vùng đất đỏ thuộc một phần tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một, chỉ rõ nguyên


nhân trực tiếp của việc tư bản Pháp đầu tư ở dải đất đỏ miền Đông Nam Kỳ, nằm
tập trung ở địa bàn tỉnh Bình Phước hiện nay.
Tác phẩm “100 năm cao su Việt Nam”, của Đặng Văn Vinh, được nhà xuất
bản Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 2000, mô tả chi tiết về tình
hình khai thác đất, trồng mới, kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác cây cao su của
tư bản Pháp tại Việt Nam, góp phần nghiên cứu về quá trình phát triển ngành cao
su, cung cấp nhiều tư liệu quý cho nghiên cứu lịch sử, kinh tế - xã hội của nhiều địa
phương, bao gồm cả tỉnh Bình Phước thời Pháp thuộc.
Bên cạnh đó, một số tác phẩm của các tác giả viết về tình hình kinh tế, xã hội
chung của Đông Dương, Việt Nam thời thuộc địa như Lê Khoa, Sơn Nam, Nguyễn
Thế Anh, Phan Khoang,…là nguồn tài liệu tham khảo làm cơ sở cho việc nghiên
cứu kinh tế, xã hội của tỉnh Bình Phước trong bối cảnh chung của lịch sử dân tộc.
Những bài viết, tác phẩm và công trình nghiên cứu trên đã phản ánh, phục
dựng toàn cảnh bức tranh sinh hoạt của cộng đồng tộc người Stiêng mang tính bản
địa, nhân văn đặc sắc về vùng cư trú, lịch sử tộc người, ngôn ngữ tộc người, cơ cấu
tổ chức xã hội, quan hệ tộc người và đặc trưng của xã hội tộc người.
Năm 1998, cuốn sách “ Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam” do tác giả
Nguyễn Văn Huy làm chủ biên, được nhà xuất bản Giáo dục xuất bản.
Năm 1999, Nxb Thanh Niên xuất bản cuốn sách “54 dân tộc và các tên gọi
khác” của tác giả Bùi Thiết. Cùng năm, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành
tác phẩm “ các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỉ XX” có nhắc đến sự phát triển và
những nét văn hóa của các dân tộc thiểu số, trong đó có người Stiêng, những chính
sách của nhà nước đối với các dân tộc thiểu số nói chung
Năm 2001, trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1 có đăng bài viết “Luật tục
Stiêng và vấn đề đất rừng ở tỉnh Bình Phước hiện nay” của tác giả Phan An.

Stiêng như trang phục, nhà ở, hôn nhân.
Năm 2010, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Tuyết với đề tài luận văn Thạc sĩ “Tìm
hiểu lịch sử hình thành và phát triển kinh tế - xã hội của người Stiêng ở Bình
Phước” đã nghiên cứu và trình bày một cách có hệ thống, cụ thể và toàn diện về đời


sống vật chất tinh thần của người Stiêng cũng như những đóng góp của đồng bào
Stiêng trong các cuộc đấu tranh chống Pháp, chống Mĩ
Năm 2011, trên tạp chí văn hóa nghệ thuật, Bộ văn hóa thông tin và du lịch,
số 324 có đăng bài viết của tác giả Trần Văn Ánh ghi nhận “ Một số biến đổi văn
hóa của người Xtiêng ở Bình Phước”. Trong bài viết này, tác giả đề cấp đến những
biến đổi về ngôn ngữ, tôn giáo tín ngưỡng của người Stiêng trong những năm gần
đây.
Bên cạnh đó, còn có công trình nghiên cứu mang tính địa phương như bài
viết của tác giả Phan Minh Quốc nghiên cứu về “ Nghi thức hôn nhân truyền thống
của người Stiêng ở xã Long Tân huyện Bù Gia Mập tỉnh Bình Phước”
Nhìn chung, có thể thấy rằng, các công trình trên đã tập trung nghiên cứu
một số mặt kinh tế, xã hội, văn hóa của người Stiêng và đạt được nhiều thành quả.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Những nét văn hóa truyền thống về vật chất và tinh thần của tộc người
Stiêng ở Bình Phước
+ Sự giao lưu, tiếp biến văn hóa của người Stiêng trong quá trình sinh sống
bên cạnh các dân tộc khác ở Bình Phước từ năm 1945 đến nay.
+ Tìm hiểu về văn hóa, xã hội và sự đóng góp những giá trị văn hóa tộc
người Siêng vào văn hóa Việt Nam
+ Những tác động từ những yếu tố bên ngoài đến sự tồn tại của những nét
văn hóa truyền thống của người Stiêng trong quá trình cộng cư.
Thông qua việc nghiên cứu, người viết mong muốn góp phần vào việc tìm

- Góp phần vào việc cung cấp thêm nguồn tài liệu cho việc giảng dạy lịch sử
địa phương, tìm hiểu về đời sống của dân tộc Stiêng trên địa bản tỉnh

6. Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm:
Chương 1: Tổng quan về điều kiện tự nhiên – xã hội và cư dân ở Bình Phước
Chương 2: Giao lưu văn hóa giữa người Stiêng với các dân tộc khác ở Bình
Phước từ 1945 đến nay.
Chương 3: Những biến đổi của văn hóa dân tộc Stiêng ở Bình Phước từ sau
năm 1975 đến nay


Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
VÀ CƯ DÂN Ở BÌNH PHƯỚC
1.1. Lịch sử hình thành tỉnh Bình Phước
Bình Phước, trước đây vốn là một bộ phận cấu thành tỉnh Sông Bé cũ và
thuộc miền núi trung du miền Đông Nam Bộ nước ta.
Nói về miền Đông Nam Bộ trước khi có lưu dân người Việt đến lập nghiệp,
Trịnh Hoài Đức đã viết: “Bà Rịa ở đầu biên giới trấn Biên Hòa, là đất có danh tiếng,
cho nên các phủ phía bắc có câu ngạn ngữ rằng Cơm Nai Rịa, Cá Rí Rang (tức cơm
ngon thì ở Đồng Nai, Bà Rịa, cá ngon thì ở Phan Rí, Phan Rang), là lấy xứ Đồng
Nai và Bà Rịa đứng đầu mà bao gồm cả Bến Nghé, Sài Gòn, Mĩ Tho, Long Hồ vậy.
Đất (Bà Rịa) này dựng lưng vào núi, quay mặt ra biển, rừng rậm, tre cao…vẫn là
địa hạt xung yếu thứ nhất. Lại có nhiều quan ải hiểm trở, có dấu vết thành trì cổ xưa
giống như quốc đô của vua chúa thời cổ. Cứu xét thêm thì Bà Rịa là đất cũ của Lục
Chân Lạp” 1.
Tân Đường thư cũng chép rằng: “nước Bà Lợi ở ngay phía Đông Nam
Chiêm Thành, từ Giao Châu (tức Việt Nam dưới thời Bắc thuộc) vượt biển trải qua
các nước Xích Thổ, Ban Đan thì tới. Đất đai là châu thổ lớn, có nhiều ngựa nên
cũng gọi là nước Mã Lễ. Phong tục của họ là xỏ tai đeo khoen, dùng một tấm vải

lưu dân từ Bố Chánh trở về nam đến ở khắp nơi, đặt ra phường ấp xã thôn, chia cắt
địa phận, mọi người phân chiếm ruộng đất, chuẩn bị thuế đinh điền và lập bộ tịch
đinh điền” 6. Ghi chép trên cho thấy quá trình mở rộng vùng đất phía Nam của lưu
dân người Việt. Và khi ấy, “phủ Gia Định bao trùm lên khắp miền Đông Nam Bộ.
Sông Sài Gòn làm ranh giới giữa hai huyện: tả ngạn đến biển đông là huyện Phước
Long, hữu ngạn đến sông Tiền là huyện Tân Bình” 7. Dựa vào những tư liệu trên,
chúng ta có thể xác định địa bàn tỉnh Bình Phước ngày nay thuộc dinh Trấn Biên,
tổng Bình An, huyện Phước Long.

Nguyễn Đình Đầu, “Địa lý lịch sử Sông Bé”, trong Địa chí tỉnh Sông Bé, Nxb Tổng hợp Sông Bé,
1991, tr 147.
5
Nguyễn Đình Đầu, “Địa lý lịch sử Sông Bé”, trong Địa chí tỉnh Sông Bé, Nxb Tổng hợp Sông
Bé, 1991, tr 147.
6
Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, bản dịch của Tu trai Nguyễn Tạo, Sài Gòn, tập Trung,
1972, tr.7-8.
7
Nguyễn Đình Đầu, “Địa lý lịch sử Sông Bé”, trong Địa chí tỉnh Sông Bé, sđd, 162.
4


Năm 1779, địa giới Gia Định được chia thành 3 dinh: Trấn Biên, Phiên Trấn
Long Hồ, đạo Trường Tồn và trấn Hà Tiên. Dinh Trấn Biên chỉ có một huyện là
Phước Long gồm 4 tổng là Tân Chính, Bình An, Long Thành và Phước An.
Sang năm 1802, cải phủ Gia Định làm trấn Gia Định, đại bộ phận cách ranh
hành chính như cũ chỉ đổi tên:
Dinh Phiên Trấn thành trấn Phiên An
Dinh Trấn Biên thành trấn Biên Hòa
Dinh Trấn Định thành trấn Định Tường

Uyên, Thuận An, Thị xã Thủ Dầu Một.
“ Khi mới thành lập, tỉnh Sông Bé có 14 huyện, nguyên là 14 quận của 3 tỉnh
cũ: Tân Uyên, Lái Thiêu, Dĩ An, Châu Thành, Bến Cát, Dầu Tiếng, Lộc Ninh, Hớn
Quản, Chơn Thành, Bù Đốp (đổi tên từ Bố Đức), Đồng Xoài (đổi tên từ Đôn Luân),
Bù Đăng (đổi tên từ Đức Phong), Phước Bình, Phú Giáo. Năm 1977 hợp nhất 3
huyện Lộc Ninh, Hớn Quản, Chơn Thành thành huyện Bình Long, hợp nhất 3
huyện Bù Đốp, Phước Bình, Bù Đăng thành huyện Phước Long, hợp nhất 2 huyện
Đồng Xoài và Phú Giáo thành huyện Đồng Phú. Năm 1987 lập lại huyện Lộc Ninh
từ một số xã của 2 huyện Bình Long và Phước Long. Năm 1988 lập lại Bù Đăng từ
một số xã của huyện Phước Long. Trước khi chia tách, tỉnh Sông Bé được chia
thành 1 thị xã Thủ Dầu Một (tỉnh lỵ) và 8 huyện: Bình Long, Phước Long, Lộc
Ninh, Đồng Phú, Tân Uyên, Bến Cát, Thuận An và Bù Đăng”. 10
Ngày 1/1/1997, tỉnh Bình Phước được tái lập, gồm 5 huyện phía bắc tỉnh
Sông Bé, gồm: Đồng Phú, Lộc Ninh, Phước Long, Bình Long, Bù Đăng, tỉnh lị là
Đồng Xoài 11.
Hiện nay, tỉnh Bình Phước bao gồm 3 thị xã (thị xã Đồng Xoài, thị xã Bình
Long, thị xã Phước Long) và 7 huyện (Bù Đăng, Bù Đốp, Bù Gia Mập, Chơn
Thành, Đồng Phú, Hớn Quản, Lộc Ninh)

1.2. Điều kiện tự nhiên
1.2.1. Vị trí địa lý
Bình Phước là một trong 6 tỉnh miền Đông Nam Bộ. Phía Bắc tiếp giáp tỉnh
Ban chấp hành Đảng Bộ tỉnh Bình Phước, Lịch sử Đảng Bộ tỉnh Bình Phước sơ thảo (1930 1975), Ban thường vụ tỉnh ủy, 2000, tr 9.
10
http://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng_B%C3%A9_(t%E1%BB%89nh)
11
. Ban chấp hành Đảng Bộ tỉnh Bình Phước, Lịch sử Đảng Bộ tỉnh Bình Phước sơ thảo (1930 1975), sđd, ,8-9.
9



12


Nhìn chung, địa hình phổ biến ở Bình Phước là địa hình đồi lượn sóng, đất
đai màu mỡ, có thảm thực vật và quần thể động vật đa dạng, phong phú.
1.2.3. Khí hậu, sông ngòi
Khí hậu Bình Phước mang đặc điểm khí hậu gió mùa á xích đạo, phân biệt
thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11) và mùa khô (từ tháng 12
đến tháng 4). Lượng bức xạ mặt trời hàng năm cao, bình quân 130 cal/m2/năm. Vào
tháng 2 – 4 có thể đạt đến 300 – 400 Cal/cm2/ngày. Cán cân bức xạ có trị số lớn 70
– 75 Cal/cm2/năm 15. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 260 đến 270C.
Độ ẩm và lượng mưa trung bình hàng năm cao (độ ẩm:78,8% - 90%, lượng
mưa: 2277 -2611mm/năm) 16
Khí hậu Bình Phước khá thuận lợi cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp
phục vụ cuộc sống con người, cho sự phát triển thảm thực vật, quần thể động vật.
Trên địa bàn Bình Phước có hệ thống sông suối tương đối nhiều với mật độ
0,7 - 0,8 km/km2, bao gồm một số con sông lớn như sông Sài Gòn, Sông Bé, sông
Đồng Nai, Sông Lanh, sông Dam, sông Ðak Huyt, sông Sa Cát, sông Bà Vá, sông
Nước Trong, sông Cam, sông Mã Ðà và nhiều suối lớn phân bố khắp trên địa bàn
tỉnh 17
Địa hình đồi đất đỏ ba-zan màu mỡ trải dài từ đông bắc đến tây nam, cùng
với khí hậu nóng ẩm và hệ thống thủy văn chằng chịt đã tạo điều kiện thuận lợi cho
thảm thực vật và quần thể động vật ở đây phát triển mạnh. Hệ thực vật phát triển
phong phú. Ở dạng địa hình đồi cao và trung bình chia cắt mạnh có rừng tự nhiên
che phủ. Tại các dạng địa hình thoải lượn sóng yếu và trung bình thảm thực vật chủ
yếu là cây công nghiệp, hoa màu, đồng cỏ chăn nuôi. Bình Phước là tỉnh có trữ
lượng rừng lớn, phong phú, đa dạng về chủng loại thực vật, có những loại gỗ quý
(cẩm lai, bằng lăng, sao…), cây dược liệu làm thuốc, nhiều loại mây, lồ ô,
Nguyễn Trung Đỗ, Di tích đắp đất hình tròn Bình Phước, Sđd, tr18.
Nguyễn Thị Hiền, Nghiên cứu địa lý địa phương tỉnh Bình Phước theo quan điểm địa lý hiện đại,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status