BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đỗ Minh Tuấn
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN
LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC
Ở QUẬN 11 – THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đỗ Minh Tuấn
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC Ở QUẬN
11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HUỲNH VĂN SƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ......................................................................... 7
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 8
T
2
T
2
T
2
T
2
T
2
T
2
T
2
T
2
1. Lí do chọn đề tài..............................................................................................................8
T
2
6. Các phương pháp nghiên cứu......................................................................................10
T
2
T
2
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu .................................................................................11
T
2
T
2
8. Cấu trúc luận văn .........................................................................................................11
T
2
T
2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU CÔNG TÁC PHÁT
TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC .......................... 12
T
2
T
2
2
T
2
1.2.4. Quản lý ..................................................................................................................19
T
2
T
2
1.2.5. Quản lý giáo dục ...................................................................................................25
T
2
T
2
1.2.6. Quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục ...............................................................28
T
2
T
2
1.2.7. Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý ........................................................................30
T
2
1.4. Những yêu cầu của việc xây dựng đội ngũ CBQL trường tiểu học ......................37
T
2
T
2
1.4.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng ................................37
T
2
T
2
1.4.2. Những yêu cầu của việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học 39
T
2
T
2
1.5. Các nguyên tắc phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học ...................................41
T
2
T
2
1.5.1. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống .......................................................................41
1.6. Dự báo giáo dục và các phương pháp dự báo giáo dục..........................................43
T
2
T
2
1.6.1. Khái niệm dự báo ..................................................................................................43
T
2
T
2
1.6.2. Dự báo giáo dục ....................................................................................................44
T
2
T
2
1.6.3. Ý nghĩa của công tác dự báo giáo dục ..................................................................46
T
2
T
2
1.6.4. Các phương pháp dự báo giáo dục .......................................................................46
T
T
2
2.2.2. Khái quát về giáo dục đào tạo quận 11, TPHCM .................................................52
T
2
T
2
2.3. Thực trạng đội ngũ CBQL các trường tiểu học ở Quận 11, TPHCM ..................56
T
2
T
2
2.3.1. Thực trạng về số lượng đội ngũ CBQL trường tiểu học .......................................56
T
2
T
2
2.3.2. Thực trạng về trình độ đội ngũ CBQL trường tiểu học ........................................57
T
2
T
2.4.2. Thực trạng việc thực hiện các chức năng quản lý trong công tác phát triển đội
ngũ CBQL trường tiểu học .............................................................................................71
T
2
T
2
2.4.3. Thực trạng việc thực hiện các hình thức phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học
.........................................................................................................................................78
T
2
T
2
2.4.4. Một số kiến nghị xoay quanh của việc phát triển đội ngũ CBQL các trường tiểu
học ở Quận 11, TPHCM. ................................................................................................84
T
2
T
2
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN
LÝ CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC Ở QUẬN 11, TPHCM ....................................... 89
T
2
3.1.4. Dự báo nguồn nhân lực CBQL trường tiểu học quận 11 giai đoạn 2010-2015 ...96
T
2
T
2
3.2. Một số biện pháp phát triển đội ngũ CBQL các trường tiểu học ở quận 11,
TPHCM giai đoạn 2010-2015 ..........................................................................................97
T
2
T
2
5
3.2.1. Các quan điểm phát triển GD - ĐT của Đảng và Nhà nước .................................97
T
2
T
2
3.2.2. Một số biện pháp phát triển đội ngũ CBQL các trường tiểu học ở Quận 11,
TPHCM giai đoạn 2010-2015.......................................................................................100
T
2
T
2
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 119
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 123
T
2
T
2
T
2
T
2
6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCHTW
: Ban chấp hành Trung ương
CB
: Cán bộ
: Học sinh
NXB
: Nhà xuất bản
PCGDTH
: Phổ cập giáo dục tiểu học
PCGDTHCS
: Phổ cập giáo dục trung học cơ sở
KT - XH
: Kinh tế - xã hội
TPHCM
: Thành phố Hồ Chí Minh
THCS
: Trung học cơ sở
THPT
: Trung học phổ thông
thách thức mới, trước những yêu cầu của công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội,
xu thế hội nhập quốc tế, đòi hỏi nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phải là lực lượng nòng
cốt quyết định việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu của chiến lược giáo dục.
Trong bài phát biểu khai mạc hội nghị lần thứ 2 (khoá VIII) Ban Chấp hành Trung
ương, đồng chí Đỗ Mười khẳng định: "khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển
giáo dục là phải đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn hoá đội ngũ giáo viên
cũng như cán bộ quản lí giáo dục cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và năng lực chuyên môn
nghiệp vụ" [14,tr.13]. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự
nghiệp giáo dục nói chung và bậc học tiểu học nói riêng trong đó có vấn đề xây dựng đội
ngũ cán bộ quản lý trường học đáp ứng với yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng. Việc xây
8
dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học có đủ phẩm chất, năng lực,
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn để góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu của bậc học tiểu học - bậc học nền tảng
trong hệ thống giáo dục quốc dân và yêu cầu đổi mới trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại
hoá là vấn đề cấp bách và quan trọng.
Điều 17 Điều lệ trường tiểu học quy định: "Hiệu trưởng trường tiểu học phải là giáo
viên có thời gian dạy học ít nhất 3 năm ở cấp tiểu học, đã hoàn thành chương trình bồi
dưỡng cán bộ quản lý, có uy tín về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn,
nghiệp vụ; có năng lực quản lý trường học và có sức khoẻ."[4,tr.9]
Thực tiễn giáo dục Quận 11 đang trên con đường phát triển, việc xây dựng đội ngũ cán
bộ quản lý trong những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định. Đồng thời vẫn tồn tại
mâu thuẫn lớn cần giải quyết trong quá trình phát triển đó là: giữa yêu cầu vừa phát triển
nhanh quy mô giáo dục – đào tạo vừa phải gấp rút nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo,
trong khi khả năng và điều kiện đáp ứng yêu cầu còn nhiều hạn chế, công tác xây dựng đội
ngũ cán bộ quản lý còn nhiều vướng mắc, chưa phát huy hết tiềm năng và thế mạnh của
Quận 11. Vì vậy, việc thực hiện công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu
học hiện nay là rất cần thiết và vô cùng quan trọng để có thể đáp ứng nhu cầu phát triển giáo
khuyến khích tự đào tạo, bồi dưỡng thì có thể phát triển đồng bộ đội ngũ cán bộ quản lý
trường tiểu học ở Quận 11 trong những năm tới.
6. Các phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, của Nhà nước, của ngành và các tài liệu
khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
6.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát
Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến phục vụ mục đích nghiên cứu dành cho các cán bộ
quản lý trường tiểu học; đội ngũ giáo viên trường tiểu học và các lãnh đạo, cán bộ Phòng
giáo dục Quận 11.
6.3. Phương pháp phỏng vấn
Tham khảo ý kiến các cán bộ quản lý, giáo viên nhiều kinh nghiệm về những vấn đề
liên quan đến công tác phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học tại Quận 11 thông qua việc
đề nghị họ trả lời các câu hỏi mà tác giả đặt ra trong phiếu phỏng vấn.
6.4. Phương pháp dự báo
Sử dụng các phương pháp dự báo trong nghiên cứu nguồn nhân lực giáo dục của Quận
11 trong công tác phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học, bao gồm:
- Phương pháp sơ đồ luồng.
- Phương pháo dự báo theo dịnh hướng giáo dục của Quận.
10
6.5. Phương pháp thống kê toán học
Xử lý số liệu điều tra, định lượng, so sánh, phân tích kết quả khảo sát từng nội dung
nghiên cứu làm căn cứ đánh giá thực trạng và dự báo nhu cầu phát triển nguồn nhân lực
trong giáo dục.
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Đội ngũ cán bộ quản lý được nghiên cứu trong đề tài này được giới hạn ở Hiệu
Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới đất nước, vấn đề quản lý nói chung và quản lý giáo
dục nói riêng là chủ đề thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà lãnh đạo, nhà nghiên cứu
khoa học, nhà quản lý thực tiễn. Vấn đề quản lý giáo dục, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý
giáo dục là vấn đề có ý nghĩa trong việc "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng
nhân tài" [51], đặc biệt có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo
của nhà trường.
Đảm bảo chất lượng giáo dục phải là một trong những quan tâm hàng đầu của người
làm quản lý giáo dục, trong đó có giáo dục tiểu học. Sau đây là một vài ví dụ về vai trò và
trách nhiệm mà một người quản lý các trường tiểu học ở Hoa Kỳ phải thực hiện mà theo tác
giả Nguyễn Kim Dung, các CBQL giáo dục nước ta cần học tập:
- Người quản lý phải hiểu được tầm quan trọng của công tác đảm bảo chất lượng giáo
dục trong nhà trường.
- Người quản lý cần kết nối các hoạt động đảm bảo chất lượng giáo dục với mục đích,
mục tiêu giáo dục đã được đề ra cho nhà trường và chiến lược, các kế hoạch hành động để
thực hiện các mục đích, mục tiêu đó. Khuynh hướng hiện nay trên thế giới là người quản lý
chuyển đổi từ việc kiểm soát chặt chẽ đầu vào sang việc cố gắng phấn đấu để đạt được
những mục tiêu giáo dục ở đầu ra. Điều đó cũng dễ hiểu vì ở các nước, giáo dục tiểu học
cũng là giáo dục bắt buộc, vì vậy việc hạn chế đầu vào là không có. Tuy nhiên, để đầu ra đạt
12
chất lượng, cần phải có nhiều nỗ lực và kế hoạch để đảm bảo là các em khi ra khỏi trường
phải có được các kiến thức và kỹ năng cơ bản, cần thiết để tiếp tục học lên.
- Người quản lý cần phải thấy rõ vấn đề chất lượng giáo viên là một trong những vấn
đề cốt lõi của công tác đảm bảo chất lượng học tập.
- Người quản lý cần phải có phong cách lãnh đạo, cỗ vũ học tập, tạo điều kiện cho tính
hợp tác trong cơ quan phát triển, khuyến khích sự đa dạng, ủng hộ sử dụng công nghệ, thực
hiện cơ chế tự chịu trách nhiệm, phát triển việc giảng dạy theo cách hướng dẫn, và chủ
trương ủng hộ các gương làm việc tốt. [10]
0
"cuộc đại tu về giáo dục tiểu học lớn nhất của nước Anh trong vòng hơn 20 năm tới". Và
cuộc đại tu này xem ra cũng chẳng tốn kém gì. Chỉ là sắp xếp lại chương trình, môn học,
trao nhiều quyền hơn cho các hiệu trưởng và giáo viên đứng lớp, và để cho cuộc sống diễn
ra một cách bình thường như nó vẫn diễn ra. Chẳng hạn, cho trẻ em tiếp xúc với máy tính từ
13
sớm. Hoặc, không tách biệt từng môn học riêng như lịch sử, địa lý… mà tích hợp chúng lại
để dạy, sao cho cuối cùng đạt được các mục tiêu như hiểu biết về chính cơ thể của mình, có
thể lực tốt, giao tiếp thành công, biết tính toán, có khả năng tồn tại và cạnh tranh trong cuộc
sống …[33]
Có thể đề cập đến chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15-06-2004 của Ban Bí thư về việc xây
dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã nêu nhiệm vụ:
"Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục để có kế hoạch đào
tạo, bồi dưỡng bảo đảm đủ số lượng và cân đối về cơ cấu; nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục." [3]
Ngoài ra, điều 16 Luật giáo dục (2005) quy định về vai trò và trách nhiệm của cán bộ
quản lý giáo dục như sau: "Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ
chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục ; Cán bộ quản lý giáo dục phải không ngừng
học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và trách
nhiệm cá nhân ; Nhà nước có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản
lý giáo dục nhằm phát huy vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục, bảo đảm phát
triển sự nghiệp giáo dục." [39]
Bên cạnh đó, có thể đề cập đến quyết định 09/2005/QĐ-TTg ngày 11-01-2005 của
Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án "Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010" đã chỉ ra mục tiêu xây dựng đội ngũ
nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hoá, nâng cao chất lượng, bảo đảm
đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất
phải lãnh đạo và quản lý. [8]
Ngoài ra, có thể nhận thấy một số công trình nghiên cứu có liên quan, thông
qua các luận văn thạc sĩ: "Biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các
trường tiểu học tỉnh Bạc Liêu" của tác giả Văn Thị Tường Oanh (năm 2000) [32]; "Một số
giải pháp quản lý phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường tiểu học tại tỉnh Bến Tre" của tác giả
Nguyễn Tấn Phúc (năm 2000) [36]; "Một số giải pháp bồi dưỡng năng lực quản lý cho hiệu
trưởng các trường tiểu học trên đại bàn huyện Đức Hòa - Tỉnh Long An" của tác giả Trương
Liên Phong (năm 2006) [34]; "Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý ở các trường tiểu học tỉnh
Bình Phước và một số giải pháp" của tác giả Nguyễn Thị Nhị (năm 2006) [33]; "Thực trạng
quản lý việc thực hiện chương trình dạy học của hiệu trưởng các trường Tiểu học tại Quận
Tân Bình, TP.HCM" của tác giả Nguyễn Nghĩa Dũng (năm 2006) [11] đã nêu lên thực trạng
cũng như các giải pháp về công tác xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu
học ở các tỉnh Bạc Liêu, Bến Tre, Long An, Bình Phước và Quận Bình Tân – Thành phố Hồ
Chí Minh, thế nhưng các đề tài này vẫn chưa đi sâu vào công tác quy hoạch và phát triển đội
ngũ CBQL trường tiểu học ở một quận cụ thể.
Nhìn chung, các văn bản, công trình nghiên cứu, bài viết khoa học và các luận văn kể
trên chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu việc xây dựng đội ngũ CBQL trường tiểu
học ở một quận mà điển hình là quận 11. Để đáp ứng với việc đổi mới nội dung chương
trình và phương pháp dạy học mới phù hợp với điều kiện thực tiễn của quận, việc nghiên
cứu đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học có ý nghĩa lớn nhằm
hoàn thiện cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn trong việc phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu
học đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
1.2. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Phát triển
Đây là một khái niệm khá phổ biến, đầu tiên là trong từ điển tiếng việt thì "phát triển là
biến đổi hoặc làm cho biến đổi theo chiều hướng tăng, từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp
đến cao, đơn giản đến phức tạp" [52]
16
nhiều chức năng, có thể cùng hay không cùng nghề nghiệp, nhưng đều có chung một mục
đích nhất định.
17
Từ các cách hiểu trên, có thể nêu chung: đội ngũ là một tập thể gồm số đông người,
có cùng lý tưởng, cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch, gắn
bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần.
1.2.3. Cán bộ
Khái niệm cán bộ được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa và bao hàm một
diện rất rộng các loại nhân sự thuộc khu vực Nhà nước và các tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội. Thuật ngữ khi đó thường dùng là "cán bộ, công nhân viên chức", bao gồm
tất cả những người làm công hưởng lương từ Nhà nước, từ những người đừng đầu một cơ
quan tới các nhân viên phục vụ như lái xe, bảo vệ hay lao động tạp vụ [47]. Sự đánh đồng
như vậy dẫn tới việc không phân định rõ ràng về chức năng và nhiệm vụ, không phân biệt rõ
những người thực thi chức năng quản lý nhà nước và những người cung ứng dịch vụ công
trong bộ máy nhà nước, thậm chí gây nhầm lẫn trong hoạt động cũng như hành xử công vụ.
Thực tiễn cho thấy, ngay cả nhiều quy định về kỉ luật cán bộ cũng khó thực thi bởi chính sự
mơ hồ và dễ gây lẫn lộn trong khái niệm này. Cùng với xu hướng toàn cầu hóa về kinh tế;
những thành tựu của sự phát triển kinh tế - xã hội, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tăng
cường mở rộng giao lưu, hợp tác nhiều mặt với các nước; tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn
hóa nhân loại mà nội hàm cán bộ cũng có thay đổi. Ở nước ta, khái niệm cán bộ cũng chưa
được hiểu thống nhất và được sử dụng chung để ghép với công chức, viên chức. Theo Pháp
lệnh cán bộ, công chức năm 1998 của nước ta (Điều 1), những người sau đây là cán bộ,
công chức: "là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước,
bao gồm:
1. Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan
nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
2. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên
Theo Henry Fayol (1841 - 1925) - nhà kinh tế học và chỉ đạo thực tiễn, trong quyển
"Quản lý chung và quản lý công nghiệp" thì quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch,
tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra. [20]
Quản lý kinh tế là sự tác động liên tục, có tổ chức của chủ thể quản lý lên những người
lao động để sử dụng một cách tốt nhất những tiềm năng, cơ hội nhằm đạt được mục tiêu
quản lý đề ra theo đúng luật định hiện hành. Như vậy, theo quan điểm kinh tế, quản lý luôn
chú ý đến sự vận hành, hiệu quả kinh tế, phát triển sản xuất và tác động qua lại giữa các lực
lượng sản xuất.
- Theo quan điểm chính trị xã hội: "Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định
hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý)
về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế... bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách,
các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều
kiện cho sự phát triển của đối tượng" [18,tr.7]
- Theo chủ nghĩa Mác - Lê nin thì: toàn thể thế giới vật chất đang tồn tại, mọi sự vật,
hiện tượng là một chỉnh thể, một hệ thống. Trong công tác điều hành xã hội thì quản lý cũng
vậy, tức cũng là một hệ thống. [6]
Theo quan điểm này thì quản lý một đơn vị với tư cách là một hệ thống xã hội, là khoa
học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành tố của hệ thống bằng các phương
pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra trong quá trình hoạt động.
20
Tác giả Đỗ Hoàng Toàn trong cuốn Lý thuyết quản lý cho rằng "Quản lý là sự tác
động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có
hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều
kiện biến đổi của môi trường". [44,tr.43]
- Quản lý là biết chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó thấy họ đã hoàn
thành công việc tốt và rẻ.
- Quản lý là những hoạt động cần thiết được thực hiện khi con người kết hợp với nhau
Cơ chế quản lý là phương thức mà nhờ nó hoạt động quản lý được diễn ra, quan hệ
tương tác giữa chủ thể và khách thể quản lý được thực hiện (vận hành và phát triển).
- Để thực hiện quá trình quản lý phải có các điều kiện, phương tiện quản lý. Đó không
chỉ là máy móc, kỹ thuật mà còn là nhân cách của nhà quản lý (phẩm chất, năng lực).
Hiệu quả quản lý là sản phẩm kép, nghĩa là trong quá trình quản lý, đối tượng quản lý
phát triển và phẩm chất năng lực của nhà quản lý cũng phát triển.
Chủ thể quản lý
Cơ chế quản lý
Mục tiêu quản lý
Đối tượng quản lý
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ mô tả về hoạt động quản lý [44]
b. Bản chất của hoạt động quản lý và các chức năng quản lý
* Bản chất của hoạt động quản lý:
Từ khi con người biết hợp tác với nhau để tự vệ và mưu sinh thì đã xuất hiện những
yếu tố khách quan, những hoạt động tổ chức, phối hợp, điều hành ... để thực hiện mục tiêu,
tạo nên sức mạnh giúp con người đạt được những mục tiêu cần thiết. Như vậy, trong quá
trình vận động, sự phát triển của xã hội và quản lý không thể tách rời nhau; khi lao động đạt
tới một trình độ nhất định, có sự phân công xã hội thì quản lý như là một chức năng, là điều
tất yếu khách quan.
Trong một tổ chức nhóm, cộng đồng, chủ thể quản lý tác động có định hướng, có chủ
đích đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục đích. Những tác động qua lại đó có tác động
lan toả rộng rãi. Trong xã hội có giai cấp thì hoạt động quản lý phục vụ quyền lợi của giai
cấp thống trị, do vậy hoạt động quản lý mang tính giai cấp rõ rệt.
22
. Kế hoạch hóa
. Tổ chức
. Phối hợp
23
. Điều chỉnh, kích thích
. Kiểm tra, hạch toán.
- Sau khi tổng hợp một số chức năng lại, nhiều tác giả cho rằng quản lý có bốn chức
năng cơ bản là bốn khâu có liên quan mật thiết với nhau, đó là:
. Kế hoạch hoá: Kế hoạch hoá là làm cho việc thực hiện có kế hoạch trên diện rộng,
quy mô lớn. Căn cứ vào thực trạng và dự định của tổ chức để xác định mục tiêu, mục đích,
xác định những biện pháp trong thời kỳ nhằm đạt mục tiêu dự định.
. Tổ chức: Là quá trình hình thành nên những cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, bộ
phận nhằm đạt mục tiêu kế hoạch. Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối
hợp điều phối các nguồn lực, vật lực, nhân lực.
. Chỉ đạo: Đó chính là phương thức tác động của chủ thể quản lý. Chỉ đạo bao hàm
việc liên kết, liên hệ với người khác, động viên họ hoàn thành nhiệm vụ để đạt mục tiêu của
tổ chức.
. Kiểm tra: Thông qua một cá nhân, nhóm hay tổ chức để xem xét thực tế, theo dõi
giám sát thành quả hoạt động, tiến hành uốn nắn, sửa chữa những hoạt động sai. Đây chính
là quá trình tự điều chỉnh của hoạt động quản lý.
Chức năng
kế hoạch hóa
Chức năng
chỉ đạo thực
hiện
cụ đặc biệt của nhà quản lý. Quyền uy vừa do cơ chế quản lý vừa do nhân cách của nhà
quản lý tạo nên.
- Yếu tố thông tin: đó là tin tức, là mối liên hệ (liên lạc), thông tin là cơ sở giúp nhà
quản lý đề ra các quyết định để tác động tới đối tượng quản lý. Thông tin đầy đủ, chính xác
thì tác động quản lý sẽ có hiệu quả.
Quản lý hành chính Nhà nước là một dạng quản lý mang tính chất quyền lực Nhà nước
do các cơ quan Nhà nước sử dụng quyền lực để điều chỉnh quan hệ xã hội và hành vi con
người.
Tóm lại, quản lý là sự tác động có ý thức để điều khiển, hướng dẫn các quá trình
và các hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đúng với ý chí của nhà quản lý
và phù hợp với các quy luật khách quan.
1.2.5. Quản lý giáo dục
a. Khái niệm Quản lý giáo dục
Nhà nước quản lý mọi mặt hoạt động, trong đó có hoạt động giáo dục. Vậy quản lý
Nhà nước về giáo dục là tập hợp những tác động hợp quy luật được thể chế hóa bằng pháp
luật của chủ thể quản lý nhằm tác động đến các phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo
dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ.
- Theo M.I.Kônđacốp: "Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý
thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ
thống nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận
thức và vận dụng những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý
của trẻ em". [27,tr.10]
25