LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thanh niên có vị trí rất quan trọng, là lực lượng to lớn trong xã hội. Họ
không chỉ là người chủ của hiện tại mà còn người chủ tương lai của đất nước
theo nghĩa "tre già măng mọc" và sự "chuyển giao thế hệ" trong quá trình phát
triển của đất nước. Chúng ta đang thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Những
nhiệm vụ đó đặt ra cho chúng ta nhiều vận hội bên cạnh những thách thức.
Chúng ta cần phải tận dụng thời cơ và vượt qua thách thức. Đảng ta rất coi trọng
việc phát huy nội lực và coi đây là yếu tố quyết định tới việc phát triển kinh tế xã hội. Và đồng thời cũng khẳng định, coi việc phát huy nguồn lực con người là
trong quá trình phát triển. Trong điều kiện hiện nay, việc bồi dưỡng, phát huy
vai trò của thanh niên trong sự nghiệp phát triển có ý nghĩa quan trọng. Chúng ta
không nhìn thanh niên ở góc độ kinh tế đơn thuần mà còn thấy ở thanh niên là
lực lượng chính trị - có sứ mệnh cùng với Đảng và nhân dân ta tiến hành thành
công sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Khách quan đánh giá có thể thấy, hiện nay, bên cạnh đã có những
chuyển biến tích cực, những điểm tiến bộ cơ bản trong thanh niên, cũng còn một
bộ phận thanh niên chưa xác định rõ trách nhiệm cụ thể của mình đối với đất
nước. Lý tưởng phấn đấu của mình là gì? và để thực hiện lý tưởng đó mình cần
phải có những phẩm chất gì, đôi khi còn có sự mơ hồ. Xã hội hiện nay cũng đã
có sự nhìn nhận khách quan và đúng đắn về vai trò của thanh niên. Song, đôi
lúc, cả về nhận thức và hành động, ở một số cấp ở một số tổ chức chưa có sự
giáo dục đồng bộ đối với thanh niên. Hoặc có khi thiên về yếu tố đạo đức mà
xem nhẹ yếu tố khoa học kỹ thuật, năng lực của thanh niên; hoặc có khi lại quá
đề cao việc giáo dục khoa học kỹ thuật, năng lực và trình độ chuyên môn mà
xem nhẹ việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên. Mục tiêu của việc giáo
dục thanh niên như Bác Hồ đã dạy, cần phải hướng đến cả "hồng" và "chuyên".
Như vậy, cũng có nghĩa, thanh niên hiện nay, không những phải có tài năng, giỏi
chuyên môn…mà cần phải sống lành mạnh và sống đẹp. Tất cả những vấn đề
nước ta hiện nay; đồng thời, đưa ra một số định hướng, giải pháp góp phần xây
dựng, bồi dưỡng và phát huy mẫu hình người thanh niên lý tưởng trong điều
kiện hiện nay.
- Để thực hiện được mục đích trên, đề tài phải giải quyết những nhiệm vụ
sau:
Thứ nhất, khái lược một số vấn đề về thanh niên, lý tưởng cách mạng của
thanh niên và mẫu hình người thanh niên lý tưởng;
Thứ hai, trên cơ sở quan điểm lịch sử cụ thể, chỉ ra những đặc trưng của
mẫu hình người thanh niên lý tưởng trong giai đoạn hiện nay ở nước ta;
Thứ ba, bước đầu đưa ra một số định hướng, giải pháp góp phần xây
dựng, bồi dưỡng và phát huy mẫu hình người thanh niên lý tưởng.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về thanh niên.
- Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, cụ thể hoá…
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khao, báo cáo
gồm có 03 chương, 07 tiết.
3
CHƯƠNG I: KHÁI LUẬN VỀ THANH NIÊN, LÝ TƯỞNG CỦA
THANH NIÊN VÀ MẪU HÌNH NGƯỜI THANH NIÊN LÝ TƯỞNG
1. Khái niệm thanh niên
Thanh niên là một khái niệm được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách
khác nhau. Nó là một đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác
nhau. Tuỳ theo nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà
người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên.
Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn xác
tuổi, có nước quy định là 30 và cũng có nước cho đó là tuổi 40. Nhưng xu thế
xung là nâng dần giới hạn kết thúc của tuổi thanh niên.
Liên Hợp Quốc định nghĩa, "Thanh niên là nhóm người từ 15 đến 24 tuổi"
chủ yếu dựa trên cơ sở phân biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn cảnh xã
hội so với các nhóm lứa tuổi khác.
Ở Việt Nam có một thời gian khá dài tuổi thanh niên được hiểu gần như
đồng nhất với tuổi đoàn viên (15 - 28 tuổi). Ngày nay, do điều kiện kinh tế,
chính trị, xã hội phát triển, thời gian học tập, đào tạo cơ bản của thanh niên dài
thêm, cùng với nhiều đặc điểm khác nhau mà chúng ta cho rằng thanh niên là
những người trong độ tuổi từ 15 đến 35 là phù hợp. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ
tuổi đoàn viên với tuổi thanh niên. Đoàn viên là những thanh niên ưu tú trong độ
tuổi 15 - 28. Từ những quan niệm khi tiếp cận thanh niên, chúng ta có thể rút ra
những đặc điểm về tâm sinh lý của thanh niên.
Về mặt sinh lý, lứa tuổi thanh niên là một cấp độ phát triển hoàn thiện về
thể chất. Đó là sự phát triển mạnh về chiều cao, cân nặng, sự hoàn thiện về hệ
xương, hệ cơ, hệ tuần hoàn, hệ thần kinh cũng như các chức năng sinh lý khác.
Bộ não và hệ thần kinh mới và khoẻ tạo cho họ khả năng và điều kiện tiếp nhận
lượng thông tin mới, dễ nhớ; đồng thời, là cơ sở cho trạng thái tinh thần hăng
hái, sôi nổi nhiệt tình.
Về mặt tâm lý, tuổi thanh niên thích cái mới, ưa cách tân, mong muốn đổi
đời. Họ có nhu cầu tìm hiểu, muốn cắt nghĩa mọi hiện tượng khách quan, thích
khám phá, sáng tạo, giàu trí tưởng tượng, có hoài bão, giàu mơ ước, trong sáng,
5
vô tư, dám mạo hiểm, thích sự tích anh hùng, hay lý tưởng hoá và luôn hướng về
tương lai. "Có nhu cầu tình bạn, dễ kết bạn, thích hoạt động tập thể, xã thân vì
bạn, công bằng, ghét bất công". Tuy nhiên, do thiếu từng trải, thiếu kinh nghiệm
sống, hay thần tượng hoá, bốc đồng, nên thanh niên cũng dễ sa vào các trạng
hội, toàn xã hội. Có thể nói, tại một thời điểm xác định, con người chỉ có khả
năng tiếp cận tới lý tưởng (cũng như tiếp cận tới chân lý) chứ không thể đạt tới
một cách tuyệt đối.
Lý tưởng còn mang tính xã hội do chỗ con người không ai có thể vượt qua
khỏi thời đại của mình. Hoạt động của họ diễn ra trong những điều kiện cụ thể
của một xã hội cụ thể. Sống và lao động trong xã hội đó, họ thường xuyên phân
tích, đánh giá, chọn lọc và khái quát hoá thực tại để đi đến xây dựng cho bản
thân mình một hình ảnh hoàn hảo, mẫu mực làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động
của mình. Mặc dù, lý tưởng là một bộ phận cấu thành của ý thức con người
nhưng sự tồn tại của nó đối với mỗi con người là một hiện tượng khách quan.
Đối với mỗi con người cụ thể, các hình mẫu hoàn thiện là có thể khác nhau
nhưng đã là con người thì ai cũng phải có lý tưởng riêng của mình.
Lý tưởng vừa là mục tiêu cao cả mà con người hướng tới, vừa là động lực
thôi thúc con người hành động. Sức hấp dẫn của nó rất khó diễn tả. Có người đã
sử dụng thuật ngữ "say lý tưởng". Nếu thiếu lý tưởng, con người sẽ cảm thấy
mất phương hướng, cuộc đời trở nên vô vị, nhạt nhẽo. Chính lý tưởng khơi dậy
sự nỗ lực nhận thức, sự nồng nhiệt tình cảm, quyết tâm của ý chí và quyết tâm
trong hành động, giúp con người vươn tới mục tiêu cao cả nào đó, bất chấp gian
khổ hy sinh. Như vậy, trong lý tưởng đã có sự thống nhất giữa tình cảm, ý chí,
hành động. Nhờ đó, nó vừa có tác dụng như chiếc đèn định hướng, vừa như một
động lực mạnh mẽ thúc đẩy con người hành động một cách sáng tạo và có kết
quả để đạt tới mục đích mà mình đã ấp ủ, lựa chọn, tôn thờ.
Tóm lại, thực chất của lý tưởng là phạm trù của ý thức xã hội, phản ánh
hiện thực khách quan dưới dạng một mô hình, một hình mẫu hoàn thiện, vừa là
mục tiêu cao cả, vừa là động lực mạnh mẽ thúc đẩy con người hành động.
7
2.2. Lý tưởng cách mạng của thanh niên và mẫu hình người thanh
Lý tưởng chính trị xã hội là những quan điểm về một xã hội có tổ chức
cao nhất của những người lao động tự do bình đẳng và tự giác, của những người
làm chủ bản thân, tự nhiên và xã hội.
Lý tưởng đạo đức là hình ảnh về một nhân cách hoàn thiện với những
phẩm chất cao quý nhất như: "chủ nghĩa tập thể, tinh thần tương trợ đồng chí,
chủ nghĩa quốc tế, lòng yêu nước, ý thức cao cả về nghĩa vụ xã hội, lòng chân
thật, tính khiêm tốn…".
Lý tưởng nghề nghiệp là hướng tới nghề nghiệp hoàn toàn phù hợp với
năng lực, sở trường của bản thân, được xã hội coi trọng, có lợi cho bản thân, gia
đình và xã hội.
Lý tưởng thẩm mỹ là những quan điểm về cái đẹp, cái hoàn thiện mà cơ
sở của nó là những tư tưởng của sự phát triển toàn diện những năng lực sáng tạo
của mỗi con người, là sự kết hợp hài hoà giữa sự phong phú về tinh thần và
trong sáng về đạo đức, thể chất.
Lý tưởng cách mạng có các chức năng sau đây:
Thứ nhất, với tư cách là "hình chiếu tinh thần" của hiện tại vào tương lai,
lý tưởng quyết định những mục tiêu mà mỗi người đặt ra cho mình;
Thứ hai, khi được xét như là quan niệm về cái hoàn thiện được hình thành
trong mỗi cá nhân thì lý tưởng được xem như là tiêu chuẩn, là thước đo để cá
nhân có thể tự đánh giá bản thân mình;
Thứ ba, lý tưởng cách mạng không chỉ là một hiện tượng của ý thức thuần
tuý mà trở thành một động lực thực sự của hoạt động tinh thần và hoạt động
thực tiễn cụ thể của con người hướng tới việc hiện thực hoá lý tưởng đó. Bởi vì,
lý tưởng cách mạng đã chứa đựng tính chân lý khách quan trong bản thân nó.
Trên cơ sở làm rõ khái niệm, cấu trúc, chức năng của lý tưởng, chúng ta
tìm hiểu lý tưởng cách mạng của thanh niên.
Cuộc sống luôn đặt ra cho mỗi người, nhất là đặt ra cho lớp trẻ nhiều câu
hỏi phải giải đáp. Một trong những câu hỏi lớn nhất là mục đích sống, nói một
mới đất nước vừa qua được nói tới, được đặt thành trách nhiệm cho từng thành
10
viên trong xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định hướng cho thanh niên ta
cách đây gần nữa thế kỷ.
Trong đêm đen nô lệ, khát vọng của các thế hệ thanh niên lớp trước là độc
lập, tự do, vì vậy, Bác kêu gọi và tổ chức thanh niên: "Phấn đấu cho Tổ quốc
hoàn toàn độc lập". Có độc lập, tự do rồi Bác lại mong mỏi hằng ngày, hằng
giờ: "Ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành". Chủ nghĩa xã hội
được Bác nêu lên trong khái niệm hạnh phúc, tiến bộ thì ai cũng hiểu được và
cũng mong muốn như Bác. Đối với thanh niên, đây là bài học vỡ lòng trên bước
đường vào đời.
Đất nước đã trãi qua 30 năm chiến tranh, do đó, lý tưởng độc lập, tự do
đòi hỏi sự hy sinh xương máu của nhiều thế hệ trẻ tuổi. Trong quá trình vận
động lớp lớp thanh niên đánh giặc, chúng ta có nhiều phong trào lớn như: "Tòng
quân giết giặc cứu nước", "Ba sẵn sàng", "Năm xung phong"…để thực hiện lý
tưởng độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Đối với sự nghiệp xây dựng Tổ quốc
có những phong trào như: Lao động kiến thiết đất nước…
Giờ đây, lẽ sống vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh đã và đang đi vào cuộc sống của thanh niên qua con đường lập thân, lập
nghiệp, cống hiến cho Tổ quốc. Nói cách khác, đây chính là lý tưởng phấn đấu
không chỉ trước mắt mà còn rất lâu dài. Bởi lẽ, dân giàu, nước mạng, công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước là công việc của nhiều thế hệ, trong đó, mỗi
thế hệ lại có mục tiêu cụ thể của mình.
Từ việc phân tích một số khía cạnh nói trên, chúng ta tạm đưa ra quan
niệm về mẫu hình người thanh niên lý tưởng như sau: Mẫu hình người thanh
niên lý tưởng là mô hình về lớp thanh niên với những đặc trưng phù hợp với một
giai đoạn lịch sử nhất định; đây là sự mẫu mực cho sự định hướng hành động và
người có quan điểm giai cấp nghiêm ngặt trong việc đánh giá tất cả hiện tượng,
những sự kiện, những hành vi của từng cá nhân riêng lẻ, cần phải trở thành con
người của chủ nghĩa quốc tế vô sản không phải bằng lời nói mà là hành động.
Quán triệt luận điểm của Các Mác và Lênin, Hồ Chí Minh từ thực tiễn
lãnh đạo cách mạng của mình luôn đề cao vai trò xã hội của thanh niên Việt
12
Nam. Người nêu lên tư tưởng muốn "hồi sinh dân tộc" thì trước hết phải "hồi
sinh thanh niên", "thức tỉnh thanh niên để đi tới thức tỉnh dân tộc". Trong Bản
án chế độ thực dân Pháp, Người đã kêu gọi "Đông Dương đáng thương hại!
Người sẽ chết mất nếu đám thanh niên già cỗi của người không sớm hồi sinh".
Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở thanh niên một lực lượng trẻ, khoẻ, dám nghỉ, dám
làm, năng động, nhiệt tình, sáng tạo, giàu ý chí, nghị lực và hoài bão, ước mơ;
thanh niên là đội quân chủ lực của cách mạng, là "người tiếp sức cách mạng cho
thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên
tương lai". Thanh niên là lớp người "xung phong trong công tác phát triển kinh
tế, văn hoá, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; thanh niên là lực lượng
cơ bản trong bộ đội, công an, dân quân tự vệ đang hăng hái giữ gìn trật tự, trị an,
bảo vệ Tổ quốc và "trong mọi việc thanh niên thi đua thực hiện khẩu hiệu đâu
cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên làm". Người còn cho rằng, thanh
niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc. Dân tộc bị nô lệ thì thanh niên cũng
nô lệ, dân tộc được giải phóng thanh niên mới được tự do. Vì vậy, trách nhiệm
xã hội của thanh niên là phải hăng hái tham gia vào cuộc đấu tranh của dân tộc.
Là người chủ tương lai của nước nhà, nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi
nước nhà đã cho mình những gì, mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà.
Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà. Mình phải làm thế nào cho ích
nước lợi nhà nhiều hơn.
Kế thừa những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh về
đủ khă năng để tiếp nhận công nghệ tiên tiến trong những ngành nghề mới, hiện
đại…Lực lượng này là nguồn lực trẻ để tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đất nước.
Vai trò và trách nhiệm lịch sử của thanh niên trong giai đoạn phát triển
mới của đất nước là đi đầu xung kích và sáng tạo thực hiện thành công sự
nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
14
CHƯƠNG 2: MẪU HÌNH NGƯỜI THANH NIÊN LÝ TƯỞNG TRONG
GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG HIỆN NAY Ở NƯỚC TA
1. Điều kiện khách quan, chủ quan và yêu cầu của việc xác định, xây
dựng và bồi dưỡng mẫu hình người thanh niên lý tưởng.
1.1 Điều kiện khách quan
Trong cuộc kháng chiến chống xâm lược, nhân dân ta đã trải qua biết bao
khó khăn, thử thách, đổ bao nhiêu mồ hôi và xương máu để giành được độc lập
tự do. Giờ đây, dân tộc đã độc lập, nhiệm vụ xây dựng nước Việt Nam giàu
mạnh để "ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" cũng trở thành
nhiệm vụ khó khăn không kém. Chỉ có xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
mới bảo đảm thực hiện được mục tiêu đó. Giành độc lập dân tộc đích cuối cùng
cũng nhằm thực hiện được mục tiêu chủ nghĩa xã hội và xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội là cơ sở để giữ vững những thành quả cách mạng. Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới nền kinh
tế - xã hội mà điểm mấu chốt là đổi mới tư duy kinh tế. Chúng ta đã và đang
từng bước xoá bỏ những dấu tích của cơ chế quản lý quan liêu bảo cấp và phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đi lên từ một nền kinh
tế còn nghèo nàn, lạc hậu, có thể nói, nhờ có đường lối đổi mới đúng đắn của
Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và cực kỳ có ý nghĩa.
Đường lối ấy đã tạo điều kiện cho mọi cá nhân, đơn vị tham gia vào sự nghiệp
Yêu cầu về phát triển lực lượng sản xuất phải đạt trình độ tương đối hiện
đại được thể hiện ở sự chuyển đổi sâu sắc và toàn diện cơ cấu nền kinh tế từ
nông nghiệp sang công nghiệp mà đặc trưng là chuyển đổi cơ cấu trong GDP.
Tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chiếm 90% GDP, nông nghiệp
chiếm 10%. Tỷ trọng lao động trong công nghiệp và phi nông nghiệp tăng cao
và chiếm 70 - 75% lực lượng lao động trong toàn xã hội. Số người lao động có
đào tạo và cán bộ khoa học kỹ thuật phát triển lên nhiều lần: có 70 cán bộ khoa
học kỹ thuật/ 1 vạn dân. Đầu tư cho công tác nghiên cứu chiếm 4% GDP. Tiến
16
bộ khoa học và công nghệ là yếu tố quyết định tăng năng suất lao động. Tốc độ
đổi mới công nghệ phải đạt 15 - 20%.
Hoàn thành về cơ bản cơ giới hoá, hiện đại hoá, áp dụng rộng rãi công
nghệ sinh học trong nền kinh tế xã hội. Nền sản xuất đạt tỷ trọng tích luỹ cao
một cách bền vững. Tỷ trọng tích luỹ trong GDP khoảng 30%, tỷ trọng đầu tư so
với GDP đạt 35%.
Xây dựng quan hệ xã hội mới phải là chế độ sở hữu, quản lý và phân phối
gắn chặt với nhau, thực hiện công bằng xã hội tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy
phát triển kinh tế, phát huy tối đa các nguồn lực. Nền kinh tế nhiều thành phần
được củng cố vững chắc và ngày càng hoàn thiện theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể trở
thành nền tảng, các thành phần kinh tế khác tồn tại phổ biến hoạt động theo
pháp luật và phát huy tác dụng tích cực trong công cuộc phát triển đất nước.
Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, quan hệ xã hội lành
mạnh, thực hiện công bằng xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
phong phú hơn. GDP bình quân đầu người đạt 5000 - 6000 USD; mức ăn bình
quân cho mỗi người 2800 - 3000kalo. Thời gian làm việc rút ngắn còn 5 ngày/
tuần, phổ cập giáo dục THCS trong độ tuổi ở thành thị và một bộ phận nông
lớn của bối cảnh thế giới cũng đặt ra cho thanh niên những trọng trách lịch sử
nặng nề hơn.
1.2. Nhân tố chủ quan
Trước các thời kỳ trước đây, nhìn chung, nước ta còn nghèo, do đó, chưa
có nhiều điều kiện để đáp ứng tốt những nhu cầu về học tập, việc làm, nhà ở của
nhân dân nói chung, thanh niên nói riêng. Đặc biệt trong thời kỳ bao cấp, với
thanh niên, họ ít có điều kiện để mở rộng hiểu biết và tăng cường giao lưu với
thế giới bên ngoài. Họ bị bó hẹp sau luỹ tre làng và ít có điều kiện để đi ra khỏi
cổng làng.
Có một vấn đề cần lưu ý đó là, mặc dù đôi lúc, một số người thường chưa
có quan điểm khách quan và khoa học khi đánh giá về thanh niên. Chẳng hạn,
18
cho "thanh niên chỉ có vai trò tích cực và quan trọng trong cuộc kháng chiến
chống thực dân, đế quốc!" hay lại có cách đánh giá phiến diện khác là thường
nhìn vào một bộ phận thanh niên sống chưa lành mạnh, mắc các tệ nạn xã hội…
để đi đến một kết luận, "thanh niên ngày nay hư hỏng hết"! Nhưng, nhìn chung,
càng ngày xã hội càng đánh giá cao vị trí và vai trò của thanh niên, hiểu hết và
ghi nhận những thành quả do thanh niên làm ra. Đảng, Nhà nước và các tổ chức
trong khác trong hệ thống chính trị, cũng như xã hội luôn luôn đánh giá cao vai
trò và vị trí của thanh niên trong cách mạng xã hội chủ nghĩa một cách khách
quan và khoa học; đồng thời, luôn tạo điều kiện để thanh niên phát huy tài năng,
trí tuệ, sức sáng tạo của mình.
Sống, học tập, lao động trong điều kiện đất nước hoà bình và được cả xã
hội quan tâm, chăm sóc, ngày nay, thanh niên được tự do lựa chọn nghề nghiệp
và có sự độc lập và chủ động trong việc nâng cao trình độ học vấn, tay nghề của
mình để làm việc hiệu quả, hay nói rộng ra ra làm được nhiều việc hữu ích hơn
cho bản thân, gia đình và xã hội.
học tập và lao động. Có thể kể đến các phong trào như: phong trào "Sản xuất
kinh doanh giỏi" (trong thanh niên nông thôn); phong trào "Rèn luyện tay nghề,
thi thợ giỏi" (trong thanh niên công nhân); phong trào "Dạy tốt, học tốt"; "Giúp
bạn vượt khó học giỏi" (trong thanh niên học sinh, sinh viên); phong trào "Phấn
đấu xứng danh anh bộ đội Cụ Hồ" (trong thanh niên quân đội); "Thực hiện Sáu
điều Bác Hồ dạy" (trong thanh niên công an nhân dân); "Đường thanh niên làm
chủ" (trong thanh niên bộ đội biên phòng). Tiều biểu là hai phong trào lớn
"Thanh niên lập nghiệp" và "Tuổi trẻ giữ nước". Các phong trào này đã cổ vũ,
động viên và hỗ trợ hàng triệu đông đảo thanh niên ra sức học tập, tiếp thu kiến
thức, học nghề, rèn luyện tay nghề; vươn lên lập thân, lập nghiệp, làm giàu cho
bản thân, gia đình và xã hội; đồng thời, đã giúp thanh niên nâng cao cảnh giác,
tham gia tích cực vào sự nghiệp bảo Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tóm lại, đặc điểm nổi trội và quan trọng trong giai đoạn cách mạng hiện
nay ở nước ta đó là, đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này có ý nghĩa cực kỳ quan trong
20
trong bối cảnh, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế ngày càng rõ nét hơn và cuộc
đấu tranh giai cấp diễn ra hết sức phức tạp. Để dành thế chủ động trong việc lựa
chọn mục tiêu phát triển xã hội của mình dưới sự lãnh đạo của Đảng và thực
hiện thành công những nhiệm vụ của đất nước hiện nay, đòi hỏi mỗi người Việt
Nam phải có tinh thần "chấn hưng đất nước", trong đó, sự kỳ vọng của xã hội
đối với thanh niên là lớn lao hơn bao giờ hết. Bởi họ không chỉ chiếm tỷ lệ đáng
kể trong dân cư, không chỉ là có mặt ở trên nhiều lĩnh vực, không chỉ họ có
nhiều thuận lợi trong việc tiếp nhận các lợi thế trong quá trình phát triển, mà
còn, thanh niên là người chủ của đất nước trong thời điểm hiện tại cũng như
tương lai. Sự phát triển theo mục tiêu đã chọn của đất nước đòi hỏi sự trưởng
thành về mọi mặt và bản lĩnh của những đoàn viên - thanh niên cộng sản. Hơn
sáng kiến, phát minh khoa học, những công trình nghiên cứu khoa học được áp
dụng vào thực tiễn.
2.2. Thanh niên hiện nay cũng cần phải có sức khoẻ tốt.
Đó là sự phát triển tốt về thể chất, thể lực. Có sức khoẻ tốt mới đảm bảo
cho thanh niên có đủ điều kiện để học tập, lao động, nghiên cứu. Sức khoẻ là
yếu tố quan trọng hàng đầu của con người bên cạnh tài năng và trí tuệ. Thanh
niên ngày nay do được chăm sóc tốt hơn nên thể lực cũng tăng lên đáng kể. Đó
là lực lượng lao động đông đảo đáp ứng đòi hỏi của xã hội.
2.3. Trung thực, thẳng thắn, giữ chữ tín cũng là một đặc trưng của
thanh niên hiện nay.
Nền kinh tế thị trường như đã thấy, bên cạnh những mặt tích cực cũng tồn
tại những khiếm khuyết như: chụp giật, buôn lậu làm hàng giả…Trong cơ chế
đó, người thanh niên cần phải thẳng thắn, giữ chữ tín. Trong quan hệ kinh tế,
muốn làm ăn lâu dài và ổn định, các chủ thể phải giữ chữ tín, đảm bảo quyền lợi
chính đáng cho nhau. Người thanh niên muốn là những nhà kinh doanh giỏi thì
phải trung thực, giữ chữ tín trong thương trường. Có như thế mới tạo ra được sự
tin cậy cho khách hàng cũng như các nhà đối tác. Trong quan hệ với các đối tác
nước ngoài trên lĩnh vực kinh tế, thanh niên cũng phải đặt nó lên hàng đầu.
Thanh niên ngày nay phải thẳng thắn lên án những hành vi, những hiện tượng
22
lệch chuẩn trong kinh tế cũng như các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, chẳng
hạn, tệ nạn buôn lậu, làm hàng giả, vi phạm dân chủ…
2.4. Thanh niên phải có bản lĩnh chính trị vững vàng
Như Lênin đã dạy, người thanh niên cộng sản phải có quan điểm giai cấp
nghiêm ngặt khi đánh giá, nhìn nhận những sự kiện, vấn đề trong đời sống xã
hội. Đối với thanh niên nước ta đó chính là quan điểm giai cấp công nhân, là bảo
vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng. Đó
là trách nhiệm của mỗi công dân trong xã hội. Thực tế cho thấy, những hành vi
vi phạm pháp luật trong thanh niên đã nói lên sự thiếu ý thức và hiểu biết về
pháp luật của một bộ phận thanh niên. Có ý thức pháp luật giúp cho thanh niên
có được những hành vi phù hợp với những quy tắc ứng xử và chuẩn mực của xã
hội. Bên cạnh đó, thanh niên còn phải là người đóng góp ý kiến của mình để góp
phần hoàn thiện hệ thống pháp luật.
2.6. Tiết kiệm thời gian, quý trọng thời gian cũng là đặc trưng của
thanh niên.
Trong thời kỳ nền kinh tế còn bao cấp, thanh niên luôn rơi vào trạng thái
bị động, mang nặng tác phong nông nghiệp. Trong điều kiện hiện nay, tiết kiệm
thời gian, quý trọng thời gian dường như là một tiêu chí nói trên trình độ văn
minh và năng suất lao động của một đất nước, mỗi thành viên trong xã hội.
Thanh niên nông thôn ngoài thời gian lao động sản xuất còn tranh thủ thời gian
rãnh rổi để tham gia các lớp học để nâng cao trình độ, hiểu biết, phát triển sản
xuất, cũng như tham gia các hoạt động xã hội như: thi nhà nông giỏi, làng vui
chơi, làng ca hát…Thanh niên công nhân ngoài giờ ở nhà máy còn tham gia các
hoạt động nhằm cải tiến sản phẩm, rèn luyện và nâng cao tay nghề…Thanh niên
là học sinh, sinh viên ngoài thời gian đến trường còn sử dụng quãng thời gian rỗi
để tự học, tự nghiên cứu. Họ còn tranh thủ thời gian để đi làm thêm (làm gia sư,
tiếp thị, viết báo, bán hàng…) để có thêm một phần kinh phí để trang trãi cho
vấn đề học tập, mặt khác, cũng để có dịp được thử thách qua hoạt động thực tế.
24
2.7. Có ý chí tiến thủ và khiêm tốn là những đặc trưng tiếp theo của
người thanh niên lý tưởng
Cuộc sống luôn đặt ra cho thanh niên nhiều khó khăn, thử thách. Muốn
trở thành một công dân có ích, thanh niên luôn phải xây dựng cho mình một
hướng đi đúng. Họ hướng cuộc đời vào một lý tưởng cao hơn hoàn cảnh hiện