BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Lê Linh Chi
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Lê Linh Chi
Chuyên ngành
: Lý luận ngôn ngữ
Mã số
: 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người Hướng dẫn Khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN THỊ LY KHA
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
1.1.2. Đặc trưng từ vựng – ngữ nghĩa của loại từ ...............................................12
1.1.3. Đặc trưng ngữ dụng của loại từ ................................................................14
1.1.4. Định tố cái. ...............................................................................................15
1.2. Lượng từ .............................................................................................................15
1.2.1. Định nghĩa và phân loại ............................................................................16
1.2.2. Chức năng ngữ pháp của lượng từ........................................................... 21
1.2.3. Một số hiện tượng liên quan đến ngữ nghĩa của lượng từ ....................... 22
Chương 2. LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT VÀ LƯỢNG TỪ TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI
TRONG NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT .............................................29
2.1. Khảo sát và đánh giá loại từ trên ngữ liệu tiếng Việt.........................................29
2.1.1. Khảo sát loại từ trên ngữ liệu tiếng Việt ..................................................29
2.1.2. Đánh giá tình hình sử dụng loại từ trên ngữ liệu tiếng Việt .................... 51
2.2. Khảo sát và đánh giá lượng từ trên ngữ liệu tiếng Hán hiện đại .......................56
2.2.1. Khảo sát lượng từ trên ngữ liệu tiếng Hán hiện đại .................................56
2.2.2. Đánh giá tình hình sử dụng lượng từ trên ngữ liệu tiếng Hán hiện đại ....64
Chương 3: MỘT VÀI ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT GIỮA LOẠI TỪ
VÀ LƯỢNG TỪ ................................................................................72
3.1. Bình diện ngữ pháp ............................................................................................72
3.2. Bình diện từ vựng – ngữ nghĩa...........................................................................74
3.3. Bình diện ngữ dụng ............................................................................................78
KẾT LUẬN ..............................................................................................................82
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................83
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 ....................................................................................................................31
Bảng 2.2 ....................................................................................................................32
Bảng 2.3 ....................................................................................................................32
Bảng 2.4 ....................................................................................................................36
Bảng 2.5 ....................................................................................................................36
giải pháp triệt để để có thể thống nhất về mặt lý luận, nhưng các lý lẽ mà các nhà
Việt ngữ học đưa ra trong lúc tranh luận đã chứng tỏ tính cách quan trọng, phức tạp
và mở của loại từ trong tiếng Việt.
Về phía người sử dụng, thiếu vắng loại từ sẽ gặp khó khăn trong việc suy nghĩ,
diễn đạt trước hết là trong nhu cầu đếm số lượng, nhu cầu cấu trúc hóa thế giới
khách quan theo trật tự đã được cộng đồng ước định. Cũng khó khăn tương tự nếu
sữ dụng tiếng Hán mà thiếu kiến thức về lượng từ. Tuy thường được định nghĩa
ngắn gọn “Lượng từ là từ dùng để tính lượng các sự vật hay động tác” nhưng thao
tác tính lượng trong tiếng Hán bao hàm cách phân loại sự vật hết sức phức tạp. Thế
giới khách quan qua cách tạo ký hiệu đầy tính tượng hình của chữ Hán như được
con người sắp xếp lại, vừa chi phối số lượng, vừa chi phối ngữ nghĩa lượng từ,
trong đó có nghĩa hình tượng và nghĩa sắc thái, tạo giá trị về cho lượng từ trong cả
hai phương khoa học và nghệ thuật. Với các lý do đó, người viết đã chọn đề tài
nghiên cứu là: “Nhóm loại từ chỉ bất động vật trong tiếng Việt và các từ tương
đương trong tiếng Hán hiện đại”.
2
Loại từ trong luận văn này được lựa chọn dựa theo quan điểm của Nguyễn Tài
Cẩn. Đó là các từ thuộc tiểu loại danh từ chỉ các đơn vị tự nhiên, có chức năng phụ
là phân định sự vật thành từng loại dựa vào một đặc trưng nào đó của sự vật. Loại
từ được xem xét trong danh ngữ có loại từ là thành tố trung tâm hoặc trong một tổ
chức trong đó loại từ kết hợp với tính từ, động từ để tạo thành một tổ hợp có thể chỉ
sự vật thay thế danh từ nên chúng tôi vẫn xét đến các trường hợp loại từ dùng để
định đơn vị cho động từ.
Việc lựa chọn các lượng từ tương đương với loại từ chỉ có sự chính xác tương
đối do phạm vi, mục đích của luận văn và do sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ.
Lượng từ trong luận văn được lựa chọn dựa vào định nghĩa về lượng từ được
trích dẫn trong tài liệu của Hà Kiệt:“Từ biểu thị số lượng đơn vị sự vật hay động tác
gọi là lượng từ. Lượng từ có hai loại: tính đơn vị sự vật gọi là vật lượng từ, tính
Loại từ được xem là một từ loại trong tiếng Việt. Trong các công trình nghiên
cứu ngữ pháp tiếng Việt, khi phân từ loại tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học đều đề
cập đến từ loại này: “Loại từ là tiếng đứng trước tiếng danh từ để chỉ định tiếng
danh từ ấy thuộc loại nào” [5.49]. “Loại từ là tiếng đặt trước một danh từ khái quát
để làm cho ý nghĩa của danh từ ấy được rõ ràng, đầy đủ” (13.51). “ Loại từ là
những chứng tự của tự loại A (tự loại A là danh từ): chúng cho phép ta nhận định
được những từ nào thuộc tự loại A, và đồng thời chúng cũng xếp những tự ngữ đó
vào một loại riêng biệt nữa” (7.50). “Loại từ là tiếng đặt trước thể từ cho ta biết
thể từ chính trỏ sự vật thuộc loại, hạng nào, vì tùy theo sự vật thuộc loại hạng nào
mà ta dùng loại từ thích hợp” (6.281). Nguyễn Tài Cẩn (1960) xem loại từ là
thành tố phụ của danh từ trung tâm. Về sau, trong Ngữ pháp Tiếng Việt (1989), ông
xem là một tiểu loại của danh từ: danh từ chỉ đơn vị tự nhiên có vai trò trung tâm 1
trong một danh ngữ và là “trung tâm về mặt ngữ pháp”. Nguyễn Kim Thản gọi loại
từ là phó danh từ (1963) sau đó là danh từ phụ thuộc (1981). Trong những năm 60,
Lưu Văn Lăng xếp loại từ thành một nhóm nhỏ gọi là từ chỉ loại nằm trong phạm
trù danh từ nhưng sau đó lại xếp các từ này vào một nhóm nhỏ mang tên là hạn từ.
Diệp Quang Ban xem loại từ là danh từ chỉ loại. Cao Xuân Hạo xem loại từ thực
chất là một số từ trong danh từ đơn vị, phủ nhận sự tồn tại của loại từ trong tiếng
Việt theo nghĩa là nhóm từ có chức năng phân loại.
4
2.2. Tiến trình nghiên cứu lượng từ trong tiếng Hán
Ngữ pháp Trung Quốc trong năm đầu thập niên 30 chịu ảnh hưởng rất lớn về
mặt lí luận của ngữ pháp phương Tây. Năm 1943, trong cuốn Ngữ pháp Trung
Quốc hiện đại, (1985) Vương Lực xem lượng từ là một tiểu loại của danh từ và gọi
đó là danh từ đơn vị. Sau đó, trong Từ loại, ông nhắc lại quan niệm này: ” Tôi cho
rằng lượng từ là danh từ và tôi gọi là danh từ đơn vị”.( trích từ Hà Kiệt.3) Tuy chưa
xác lập một vị trí độc lập cho lượng từ, nhưng Vương Lực được kể là người đầu
tiên đã xem lượng từ là một bộ phận trong cơ cấu từ loại tiếng Hán.
một từ loại độc lập để phân tích, nghiên cứu.
Đến cuối thập niên 50, lượng từ chính thức được xác định tên gọi: “Từ biểu
thị số lượng đơn vị sự vật hay động tác gọi là lượng từ. Lượng từ có hai loại: tính
đơn vị sự vật gọi là vật lượng từ, tính đơn vị động tác gọi là động lượng từ” [19.6]
và trở thành 01 trong 11 từ loại tiếng Hán hiện đại.
Năm 1961, Chu Đức Hi trong bài giảng về ngữ pháp tiếng Hán hiện đại ở Đại
học Bắc Kinh đã chính thức công nhận lượng từ là một từ loại của tiếng Hán, ông
đưa ra một định nghĩa về lượng từ “ Lượng từ là từ có thể đi liền sau số từ”. Nhưng
vấn đề về lượng từ vẫn chưa kết thúc ở đây mà vẫn có rất nhiều cuộc tranh luận
chung quanh từ loại này kéo dài đến những năm 70.
Cuối cùng, sau hơn 50 năm, qua 16 cái tên khác nhau, đến nửa sau thập niên
50 lượng từ được xác định tên gọi và đến những năm 70 thì được phổ biến rộng rãi.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở thừa nhận lí thuyết về loại từ tiếng Việt theo
quan điểm của tác gỉa Nguyễn Tài Cẩn qua cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (1998) và lí
thuyết về lượng từ của tác giả Hà Kiệt qua cuốn Nghiên cứu lượng từ tiếng Hán
hiện đại(2000). Các tác phẩm văn chương dùng để minh họa cho các lí thuyết này
bao gồm những 30 tác phẩm của 05 nhà văn Việt Nam và 30 tác phẩm của 05 nhà
văn Trung Quốc, cụ thể là:
• Hồ Biểu Chánh: Đóa hoa rừng, Hai Thà cưới vợ, Lòng dạ đàn bà, Thầy
Chung trúng số, Thầy thông ngôn.
• Sơn Nam: Bốn cái ngu, Hương rừng Cà mau, Một kiểu anh hùng, Tình nghĩa
giáo khoa thư, Yêu cho được.
6
• Nguyễn Minh Châu: Bến quê, Bức tranh, Chiếc thuyền ngòai xa, Khách ở
quê ra, Mảnh trăng cuối rừng.
• Phạm Thị Hoài: Bao giờ cho đến bốn năm sau, Man nương, Thiên sứ, Thực
đơn chủ nhật, Tiệm may Sài gòn.
ngọn: 盏
chiếc: 根
gốc, cây: 枝, 棵.
dòng: 股
xấp, mớ: 沓, 刀, 批, 撇.
vũng: 片, 汪.
đoạn, khúc: 段, 则, 阙.
giọt: 滴
tiếng: 声
ổ: 窝
8
Trong một văn bản, một loại từ hay lượng từ xuất hiện từ 02 lượt trở lên sẽ
được ghi số trong dấu ngoặc đơn. Thứ tự trình bản văn bản sẽ được xếp theo thứ tự
A,B,C, đối với các văn bản tiếng Trung sẽ dựa theo cách viết phiên âm. Các văn
bản được trích xuất từ các trang web và được thống kê bằng phần mềm của
Microsoft.
Phạm vi khảo sát sự xuất hiện của loại từ trong tiếng Việt và lượng từ tiếng
Hán qua các tác phẩm văn chương chỉ giới hạn ở nội dung sau:
- Tần số xuất hiện
- Cách sử dụng
- Nêu một vài nhận xét về chức năng ngữ nghĩa của loại từ trên sơ sở xem
ngôn ngữ là một trong những khả năng tri nhận và một trong những cấu trúc tri
nhận của con người.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này sẽ được tiến hành thực hiện với các phương pháp sau:
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở ngữ liệu thống kê được chúng
tôi sẽ tiến hành phân tích ngữ liệu để nhận xét về chức năng ngữ nghĩa, ngữ pháp
của loại từ tiếng Hán tiếng Việt qua tần số xuất hiện và qua cách dùng
danh từ tạo nên phần đầu và phần cuối của đoản ngữ.
Ví dụ: phần đầu
phần trung tâm
phần cuối
Ba
người
này
Cả hai
tỉnh
nhỏ ấy
Tất cả những cái
chủ trương
chính xác đó
Về mặt từ loại, định tố đầu nhiều trường hợp đều do những từ có nghĩa không
chân thật đảm nhiệm trong khi định tố cuối phần lớn do những từ có nghĩa chân thật
đảm nhiệm. Về mặt số lượng, những từ làm định tố đầu có số lượng hạn chế nên có
thể lập một danh sách trong khi số lượng từ có khả năng làm thành tố cuối rất lớn.
Về mặt tổ chức, các định tố đầu tuyệt đại đa số không có khả năng phát triển thành
biệt loại đối lập với danh từ có biệt loại là những danh từ có thể kết hợp được với
danh từ đơn vị quy ước lẫn danh từ đơn vị tự nhiên. Từ chỉ xuất cái luôn ở vị trí
trước danh từ chỉ đơn vị, đây là tiêu chí để phân loai danh từ chỉ xuất được đối lập
với danh từ không chỉ xuất được. Trong tiếng Việt, các danh từ ở T1 là những danh
từ chỉ xuất được trong khi các danh từ ở T2 không chỉ xuất được (trừ nhóm danh từ
chỉ chất liệu). Những từ chỉ số lượng những, các khi kết hợp với danh từ chỉ đơn vị
sẽ tạo ý nghĩa ngữ pháp số nhiều đối lập với những từ một, zê-rô chỉ số ít. Danh từ
không có định tố cái mà cũng không có từ chỉ đơn vị đi trước thường không kết
hợp được với định tố chỉ số lượng, danh từ trong trường hợp này sẽ mang ý nghĩa
số trung.
Danh từ chỉ đơn vị có thể đảm đương vai trò làm thành phần câu như một
danh từ thường: có thể làm chủ tố, làm bổ tố, định tố, vị tố. Chúng cũng có thể trở
12
thành trung tâm của một danh ngữ với đầy đủ mọi thành tố phụ của danh ngữ. Nhìn
chung, từ chỉ số lượng và danh từ không thể trực tiếp kết hợp với nhau mà phải có
loại từ đứng trước danh từ tuy cũng có một số trường hợp ngoại lệ. Chẳng hạn
không thể nói vài muối nhưng lại có thể nói vài khuyết điểm.
Như vậy, theo Nguyễn Tài Cẩn, loại từ là nhóm từ giữ vị trí trung tâm ngữ
pháp trong danh ngữ (T1), có chức năng tính đơn vị sự vật do danh từ biểu thị, tạo
các thế đối lập có tác dụng phân tiểu loại cho danh từ như: trực tiếp đếm được/
không trực tiếp đếm được, biệt loại / không biệt loại, chỉ xuất được/ không chỉ xuất
được, số ít /số nhiều /số trung dựa vào khả năng kết hợp của danh từ với các định tố
đầu trong danh ngữ.
1.1.2. Đặc trưng từ vựng – ngữ nghĩa của loại từ
Quan điểm cho loại từ là thành phần phụ xuất phát từ việc xem các từ này là
hư từ, chúng không tác động đến ngoại diên của khái niệm nêu ở danh từ trung tâm.
Khi nói Ba anh sinh viên ấy hoặc Cuốn sách này thì sinh viên và sách mới là sự vật
được nêu ở danh ngữ, và từ chỉ đơn vị anh, cuốn , nếu có thay đổi cũng không làm
người có sự tương ứng chặt chẽ hơn. Loại từ con thường phối hợp với danh từ chỉ
động vật trong khi cây , quả thường đi trước danh từ chỉ thực vật, cuốn chỉ dùng để
phối hợp với các danh từ chỉ thư tịch, ngôi dùng cho các danh từ chỉ về nhà cửa…
Do chỉ có khoảng 40 loại từ và sự phối hợp giữa loại từ và danh từ có sự tương
ứng tương đối chặt chẽ nên có thể lập ra một danh sách liệt kê các nhóm danh từ và
sự tương ứng của từng nhóm vói một loại từ thích hợp. Chẳng hạn có nhóm danh từ
tương ứng với loại từ cái, nhóm tương ứng với loại từ con, cây, hoặc bức, quyển
v.v…Tuy nhiên ranh giới giữa các nhóm có những vấn đề cần chú ý:
Có những trường hợp phạm vi của hai nhóm hoàn toàn tách rời nhau. Chẳng
hạn nhóm danh từ phối hợp với lá sẽ không bao giờ phối hợp với ngôi.
Có những trường phạm vi của hai nhóm không hoàn toàn tách rời nhau, một
số danh từ trong nhóm này có thể phối hợp với loại từ được xem là tương ứng với
nhóm khác. Ví dụ loại từ bức vốn được dùng để phối hợp với các danh từ tường,
trướng, vách, ảnh, màn, địa đồ, các danh từ này cũng có thể dùng để phối hợp vối
loại từ tấm.
14
Có những phạm vi của nhóm này hoàn toàn lồng vào phạm vi của nhóm khác.
Ví dụ các danh từ đi với lọai từ cây như cột, bút, sào, đàn, súng, chổi, gậy hoàn toàn
có thể phối hợp với loại từ cái.
Kết quả là một danh từ có thể thuộc về nhiều nhóm khác nhau, có thể phối hợp
với nhiều loại từ khác nhau. Quyết định chọn một loại từ để phối hợp cho các danh
từ thuộc loại này phụ thuộc ý nghĩa của danh từ thường đi sau :
Ví dụ: Một cây chuối, một quả chuối, một cây cam, một quả cam.
Tóm lại, loại từ là thực từ tuy nhìn chung nghĩa của loại từ trống, thậm chí rất
trống so với danh từ thường. Cũng vì vậy, nghĩa của loại từ phụ thuộc vào nghĩa của
danh từ thường vốn nắm giữa vai trò trung tâm về ngữ nghĩa trong danh ngữ.
1.1.3. Đặc trưng ngữ dụng của loại từ
Trong phần lớn trường hợp, việc lựa chọn loại từ phụ thuộc vào ngữ nghĩa của
Về khả năng kết hợp, loại từ cái chỉ có thể đứng trước danh từ chỉ đồ đạc trong
khi định tố cái có thể đặt trước bất kì danh từ nào.
Tóm lại, theo quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn (1989) loại từ thuộc từ loại danh
từ, là một bộ phận của danh từ chỉ đơn vị giữ vị trí trung tâm ngữ pháp trong ngữ
danh. Ngoài chức năng định đơn vị cho danh từ loại từ có ý nghĩa phân định sự vật.
Với bản chất danh từ, loại từ có thể đứng trước động từ và tính từ để tạo thành một
tổ hợp có thể dùng để chỉ sự vật và để thay thế danh từ.
1.2. Lượng từ
Lượng từ là từ chỉ số lượng đơn vị người, sự vật hay động tác. Lượng từ đi
kèm với danh từ hoặc số từ để chỉ các vật thể có thể đo lường, đếm hoặc tính toán
mức độ. Lượng từ còn được dùng để phân loại sự vật do danh từ biểu thị dựa vào
hình dáng và công dụng của sự vật đó.
Có rất nhiều các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Hán tạo được những
ảnh hưởng quan trọng. Cụ thể là trong nước có 28 công trình và ở nước ngoài có 01
công trình nghiên cứu về việc phân loại các tiểu loại trong tiếng Hán hiện đại. Có
thể kể đến các cách phân loại lượng từ như sau: (1) Vật lượng từ và động lượng từ.
(2) Lượng từ cân đo và lượng từ không liên quan đến cân đo, (3) Lượng từ đơn
thuần và lượng từ phức hợp, (4) Lượng từ cân đo và thể hình đơn vị lượng từ, (5)
Lượng từ cân đo, lượng từ bộ phận, phạm từ, (6) Vật lượng từ, động lượng từ, hình
lượng từ, (7) Vật lượng từ, động lượng từ, phức hợp lượng từ, (8) Vật lượng từ,
động lượng từ, phức hợp lượng từ, phức âm lượng từ, (9) Trực tiếp phân thành một
16
số loại (7 loại, 8 loại, 9 loại).
Sự khác nhau trong cách phân loại lượng từ là do các nhà nghiên cứu có
những bất đồng trong tiêu chí phân loại. Luận văn này dựa vào văn bản Nghiên cứu
lượng từ tiếng Hán hiện đại của tác giả Hà Kiệt Trứ để phân loại lượng từ như sau:
1.2.1. Định nghĩa và phân loại
1.2.1.1. Danh lượng từ
được. Điều này đã khiến lượng từ cá thể trở thành bộ phận ngôn ngữ có vẻ đẹp tinh
tế, sống động nhất trong lượng từ tiếng Hán.
- Lượng từ chỉ tập hợp
Dùng để chỉ các sự vật có số lượng từ hai đơn vị trở lên và được phân thành
hai tiểu loại: (a) định lượng từ và (b) bất định lượng từ
(a) Định lượng từ
Dùng để biểu thị một số lượng cố định như: đôi, cặp, bộ, tá, tuần (双, 对, 佐,
星 旗…). Một định lượng từ đã mang trong nó một số lượng nhất định, cho dù có đi
với đại từ nào, với số từ là bao nhiêu thì số lượng đó vẫn không đổi.
VD: 双, 对 biểu thị người hoặc vật gồm có hai đơn vị như Đôi vợ chồng này
(这 对 夫 妻), Cặp gối kia ( 那 双 冘 头).
(b) Bất định lượng từ
Biểu thị một số lượng không xác định như: bọn, bầy, đội, đám, xấp, bộ (伙 ,
群, 队, 把, 批, 副 ). Số lượng người trong cách diễn đạt này có thể là mười mấy
nhưng cũng có thể là mấy trăm, mấy ngàn hoặc hơn nữa. Khi từ trung tâm là một
danh từ trừu tượng thì lượng từ chỉ có thể kết hợp với số từ một (一) . Lượng từ bất
định ngoài chức năng biểu thị số lượng, đếm số lượng còn có chức năng tạo hình
tượng biểu lộ cảm xúc. Trong nhóm lượng từ bất định thì hai từ 些、点儿 có tần
suất sử dụng cao nhất. Trước các lượng từ bất định có thể dùng các đại từ chỉ thị
như 这, 那, 这 么, 那 么.
- Lượng từ bộ phận
Lượng từ bộ phận biểu thị lượng của một bộ phận trong mối quan hệ đối lập
với chỉnh thể của nó.
18
VD: Đoạn văn (段 文 章) có chỉnh thể là bài văn (篇文 章)
Tép tỏi (瓣蒜 ) có chỉnh thể là củ tỏi (头蒜 )
chứa hoặc để chuyên chở nên còn được gọi là dung tải lượng từ.
- Lượng từ lâm thời
Danh từ được dùng như lượng từ và có vị trí sau số từ sẽ tạo ra lượng từ lâm
thời. Lượng từ lâm thời có các đặc trưng sau:
Có tính tạm thời rất rõ, chẳng hạn lượng từ thất (匹) không cần đứng sau số từ
vẫn có thể thực hiện chức năng của lượng từ trong khi 脸 phải đi sau số từ thì mới
có thể trở thành lượng từ (一 脸 汗).
Đại bộ phận danh từ lâm thời không thể có hình thức trùng điệp.
Danh lượng từ lâm thời chỉ có thể đứng sau số từ một (一).
VD: Chẳng thấy chút vui vẻ gì. (一 肚 子 不 高 兴)
Danh lượng lâm thời khi đi sau số từ một (一) biểu thị một số lượng không
xác định có ý nghĩa “đầy” và có tính biểu cảm .
Lượng từ mượn dùng và lượng từ lâm thời đều lấy danh từ để tạm dùng như
lượng từ. Ngữ pháp truyền thống xem hai tiểu loại này là một. Tuy nhiên, hai tiểu
loại này có những giá trị ngữ nghĩa và đặc trưng ngữ pháp đối lập nhau. Chẳng hạn
danh từ trong danh lượng từ mượn dùng là những danh từ chỉ vật chứa, có thể có
hình thức trùng điệp, kết hợp không hạn chế với số từ. Trong khi đó, danh từ trong
danh lượng từ lâm thời là những danh từ chỉ bộ phận của cơ thể ngừời, không có
hình thức trùng điệp và chỉ kết hợp được với số từ một (一)
- Lượng từ đo lường
Đây là những từ dùng để tính toán, đo lường các sự vật và được pháp luật
công nhận. Các lượng từ này có tính khoa học, kĩ thuật vì vậy đòi hỏi phải có tính
chuẩn xác. Lượng từ đo lường có thể được phân thành các tiểu loại sau:
- Tạo ra từ môi trường mua bán như: phân (分), tấc (寸), trượng (丈), đôi
(两), cân (斤), tiền (钱), tạ (石), con (头), thưng (升), mẫu (亩), dặm,(里), khoảnh
(顷)…
- Tạo ra từ môi trường từ nhà nước như: 米, 公米, 公里, 公斤, 公升, 公 顷…
20