skkn sử dụng bài tập hóa học để dạy học tích cực - Pdf 32

I. Lí do chọn đề tài.
Trong quá trình đổi mới chương trình và sách giáo khoa nói chung và
hoá học nói riêng, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học
tích cực là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu. Cơ sở của việc
dạy học bộ môn hoá học là dạy và học tích cực phải dựa trên quan điểm
lấy học sinh làm trung tâm của quá trình dạy học… Giáo viên là người
tổ chức, thiết kế, khuyến khích, tạo điều kiện để học sinh tích cực hoạt
động, tìm tòi, khám phá, xây dựng và vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ
năng. Một trong những vấn đề quan trọng của đổi mới phương pháp dạy
học hoá học là giáo viên phải biết ''sử dụng bài tập hoá học để dạy học
tích cực'' làm cho thực tiễn dạy- học trở nên sinh động, thiết thực hơn và
phát huy được sự chủ động, sáng tạo của giáo viên , đồng thời phát huy
được tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh kiến thức của học sinh. Chính vì
vậy ,tôi nhận thấy cần thiết phải xây dựng đề tài '' Sử dụng bài tập hoá
học để dạy học tích cực''.
II. Những cơ sở dùng cho việc nghiên cứu để xây dựng đề tài .
1. Tài liệu:
-Sách phương pháp dạy học hoá học của nhà xuất bản giáo dục.
-Sách tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì
III(2004-2007) môn hoá học của nhà xuất bản giáo dục.
1


-Sách giáo viên và sách giáo khoa hoá học lớp 8,9 của nhà xuất bản giáo
dục.
- Sách bài tập nâng cao hoá học lớp 8,9 của nhà xuất bản giáo dục.
Và một số tài liệu có liên quan khác.
2. Đặc điểm của bài tập hoá học.

a. Bài tập hoá học có vai trò quan trọng trong dạy học hoá học . Bài tập
hoá học góp phần to lớn trong việc dạy học hoá học tích cực khi:

Hệ thống câu hỏi này được in trong phiếu giao việc hoặc viết lên bảng
phụ để tránh câu hỏi vụn vặt.
Thí dụ 2:Thông qua việc giải các bài tập , học sinh tự tìm ra được khái
niệm axit.
GV nêu một số câu hỏi và bài tập như sau:
-Hãy cân bằng những phương trình phản ứng sau:
SO3 +

H2O

P2O5 +

H2O —> H3PO4

CO2

—> H2SO4

+ H2O —> H2CO3

-Cho biết chất tạo thành sau phản ứng thuộc loại chất nào?
-Cho biết thành phần phân tử của H 2SO4, H3PO4, H2CO3 có gì giống
nhau?

3


-Nhóm nguyên tố =SO4 , ≡ PO4 , =CO3 được gọi là gốc axit. Vậy căn
cứ vào số nguyên tử H liên kết với gốc axit, cho biết hoá trị của các
gốc axit trên?

chất của chúng.

chất khử có tính oxi hoá.

-Tìm phương pháp xử lí : tác dụng -Dùng nước vôi trong : có tính
với chất khác tạo thành chất ít kiềm, dễ điều chế, rẻ tiền.
hoặc không độc hại .

- Dùng CuO làm chất oxi hoá để

- Xác định các chất và biện pháp khử CO.
cụ thể.

-Cách làm :
Bước 1: Dẫn hỗn hợp khí thải sục
qua nước vôi trong dư.
Bước 2: Đốt hỗn hợp khí còn dư
cho đến khi không cháy nữa và
dùng nước vôi trong khử tiếp .
- Kết luận : đã khử được hoàn

toàn hỗn hợp khí thải.
4. Sử dụng bài tập Hoá học (bài tập thực nghiệm) trong giờ thực
hành để tích cực hoá hoạt động của Học sinh.
Bài tập 1: Có 3 lọ đựng 3 dung dịch NaOH, HCl và nước cất, hãy nhận
biết mỗi lọ đựng chất nào ? Dụng cụ và hoá chất coi như đủ.
Hoạt động của học sinh được tích cực hoá như sau :
Phương hướng

Hoạt động cụ thể

nghiệm.
Bài tập 2: Có NaOH và nước cất. Hãy pha chế 50 gam dung dịch NaOH
4%.
Hoạt động của HS được tích cực hoá như sau:
Phương phướng chung
Hoạt động cụ thể
Bước 1: Xác định lượng hoá chất -Tính lượng NaOH:
cần thiết để pha chế.

mNaOH =50. 0,04=2(g)
- Lượng nước: 50-2=48(g)

Bước 2: Thực hiện pha chế.

-Cân 2g NaOH rắn.
-Đong 48 ml nước cất.
-Cho xút vào nước cất và khuấy
đều.
6


5.Tính tích cực hoá hoạt động của học sinh qua việc giải bài tập hoá
học thể hiện ở việc giáo viên nêu nội dung bài tập như là một vấn đề
cần giải quyết , hướng dẫn học sinh tìm tòi theo một quy trìmh nhất
định để tìm ra kết quả.
Nội dung bài tập
Hoạt động của HS
Hoạt động của GV
Tính lượng chất tham -Nhận nội dung bài -Nêu nội dung bài tập .
gia và tạo thành của tập.

quyết : chọn chất khử thích?
độc, tại sao?
- Thực hiện như thế
nào?

7


6. Sử dụng bài tập hoá học mang tính liên tục, phát triển , đi từ dễ
đến khó và sử dụng một cách thuận lợi trong khi lên lớp .
Các bài tập phải phù hợp với trình độ của học Sinh :
-GV phải nghiên cứu và lựa chọn một hệ thống bài tập phù hợp với mức
độ nhận thức của học sinh từng khối lớp, sát với tiến độ của chương
trình và tương ứng với nội dung lí thuyết của bài học. Có thể phân chia
theo mục đích khác nhau : dùng cho nghiên cứu một bài học cụ thể hoặc
khi ôn tập , củng cố kiến thức của một chương , phần trong chương trình
.
-Phải triệt để khai thác cho học sinh thường xuyên được rèn luyện về
những kỉ năng đã học , về những kĩ năng quan trọng nhất khi giải bài tập
a. Bài tập lí thuyết về điều chế một muối.
Mức độ 1: (Sau khi học xong tính chất hoá học của 4 loại hợp chất )
Hỏi: Hãy nêu các phương pháp chung để điều chế một muối .
Hs: Có thể trả lời đầy đủ 10 phương pháp.
Mức độ 2:
Hỏi: Nêu các phương pháp điều chế muối CaCl2(hoặc Ca(NO3)2).
Học sinh trên cơ sở các phương pháp chung,lựa chọn phương pháp phù
hợp để điều chế.
Mức độ 3: Từ các chất Ca, HCl, O2, Cl2 hãy tìm các phương pháp điều
chế muối CaCl2.
Học sinh phải biết vận dụng từ một số chất cụ thể có thể đi đến các



(5): Hoặc thay bằng đầu bài: Cho 56g dung dịch KOH 50% vào một cốc
có chứa 100ml dung dịch HCl 6M''.
(6): Hoặc sửa cả đầu bài và câu hỏi: Cho 200ml dung dịch KOH 0,5M
vào một cốc có chứa 60ml dung dịch HCl 2M. Tính nồng độ của dung
dịch muối thu được.
(7): Thay phần câu hỏi của (6):''Tính nồng độ của các chất có trong dung
dịch thu được sau phản ứng''
(8): Bổ sung thêm phần câu hỏi của (6): Nếu sau phản ứng nhỏ vài giọt
nước quỳ tím vào dung dịch sẽ thấy có hiện tượng gì? Trả lời qua tính
toán cụ thể.
Bằng cách sử dụng đề như trên ,Giáo viên có thể căn cứ vào trình độ của
đối tượng học sinh để phát hiện ở một mức độ phù hợp. Còn đối với học
sinh thì có hứng thú học tập cao hơn , phát triển được khả năng tư duy lô
gíc , tính năng động sáng tạo được nâng cao, rèn luyện và dần hình
thành các kĩ năng kĩ xảo trong giải bài tập hoá học.
IV. kết luận.
Sau hai năm thực hiện cách dạy'' Sử dụng bài tập hoá học để dạy học
tích cực'' được áp dụng cho nhiều tiết dạy và các đối tượng học sinh
khác nhau, tôi nhận thấy rằng học sinh tiếp thu bài chủ động ,có hiệu quả
rõ nét :
-Đã hình thành được ở học sinh các kĩ năng tư duy , phân tích ,tổng hợp
trong việc giải bài tập hoá học và tiếp thu kiến thức mới.
10


-Học sinh trung bình và khá đã tự giải quyết được những bài tập cơ
bản , bài tập khá, còn những bài tập khó thì sau khi giáo viên hướng dẫn
các em cũng nắm bắt được vấn đề ,từ đó các em HS đã phát hiện ra được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status