Sáng kiến kinh nghiệm
1
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. Thông tin chung về cá nhân
1. Họ và tên: Kiều Thanh Vinh
2. Ngày tháng năm sinh: 14- 02- 1982
3. Nam, nữ: Nam
4. Địa chỉ: Ấp Tam Bung, xã Phú Cường, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
5. Điện thoại: (DĐ) 01678447391
6. Fax:
(NR) 0613638849
E-mail: [email protected]
7. Chức vụ: Giáo viên
8. Đơn vị công tác: Trường THPT Thống Nhất B
II. Trình độ đào tạo
- Học vị cao nhất: Cử nhân
- Năm nhận bằng: 2005
- Chuyên ngành đào tạo: Giáo Dục Chính Trị
III. Kinh nghiệm khoa học
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy môn Giáo Dục Công Dân
- Số năm kinh nghiệm: 7 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
Năm học 2007-2008: SKKN: Phương pháp nêu vấn đề với việc hình thành thế
giới quan, phương pháp luận.
Năm học 2010-2011: SKKN: Một số phương pháp tích hợp giáo dục dân số
trong môn Giáo Dục Công Dân.
10- 11
II. Môi trường làng nghề địa phương
11-14
III. Một số phương pháp tích hợp vấn đề giáo dục môi trường làng nghề trong
môn Giáo dục công dân
1. Phương pháp thảo luận nhóm
14- 16
2. Phương pháp giải quyết vấn đề
16- 18
3. Phương pháp dự án
18- 20
IV. Kết quả
20- 21
V. Bài học kinh nghiệm
21
C. Kết luận
công nghiệp hoá hiện đại hoá. Cũng vì vậy, Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa các nội
dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục nhằm tác động lên thái độ, hành vi
của học sinh bằng chương trình tích hợp giáo dục môi trường trong các môn học ở
cấp Trung học phổ thông cũng như các bậc học khác. Giáo dục bảo vệ môi trường
là việc làm hết sức cần thiết, thường xuyên và liên tục bởi giáo dục môi trường sẽ
Sáng kiến kinh nghiệm
4
hình thành và phát triển kỹ năng hành động trong môi trường của học sinh, từ đó
tạo nên một lối sống có trách nhiệm và thân thiện với thiên nhiên.
Để công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong nhà trường mang lại hiệu
quả, khi giáo dục bảo vệ môi trường chưa thể là một môn học thì cần giáo dục cho
học sinh bắt đầu từ những việc làm, hành động nhỏ nhất như: trồng và chăm sóc
cây xanh, vệ sinh trường lớp, tổ chức các diễn đàn về môi trường để học sinh tham
gia một cách dân chủ, giáo dục cho học sinh ý thức tiết kiệm năng lượng như: điện,
nước, khuyến khích học sinh có các ý tưởng sáng tạo tái chế rác,…
Cùng với lồng ghép kiến thức bảo vệ môi trường trong các bài giảng, giáo viên
cần làm gương cho học sinh trong việc bảo vệ môi trường, khuyến khích học sinh
tự giám sát việc bảo vệ môi trường của nhau, từ đó nhắc nhở, tuyên dương kịp thời
các hành vi, hoạt động thân thiện với môi trường.
Cùng với quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá của đất nước, ở nông thôn cũng
xuất hiện và hình thành nhiều làng nghề khác nhau, đến nay trên cả nước có khoảng
3500 làng nghề, thu hút khoảng 30 triệu lao động. Trường Trung học phổ thông
Thống Nhất B thuộc huyện Thống Nhất có đa số học sinh thuộc các xã Quang
Trung, Gia Kiệm, Gia Tân 1, Gia Tân 2, Gia Tân 3,…Trên địa phận các xã này dần
hình thành và tập trung nhiều cơ sở chăn nuôi và giết mổ gia súc, gia cầm. Việc
phát triển chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm góp phần phát triển kinh tế-xã hội của
mình, của gia đình mình và “nghe cũng không để làm gì” nên ít chú ý, quan tâm
đến vấn đề. Vì vậy làm sao cho học sinh thấy được lợi ích của vấn đề là việc làm
hết sức khó khăn đòi hỏi người giáo viên phải khơi gợi hứng thú của học sinh.
Bản thân học sinh cũng như gia đình của các em vẫn chỉ coi trọng lợi ích kinh tế
trước mắt chưa chú ý đến vấn đề phát triển bền vững và những ảnh hưởng lâu dài
của việc ô nhiễm môi trường.
Do vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường chỉ là nội dung tích hợp trong môn học nên
giáo viên có rất ít thời gian để đề cập.
Sáng kiến kinh nghiệm
6
B. NỘI DUNG
I.Môi trường làng nghề
1.Tổng quan làng nghề Việt Nam
Làng nghề đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá và xoá
đói giảm nghèo ở nông thôn, giải quyết việc làm lúc nông nhàn, tăng thu nhập.
Bên cạnh những đóng góp tích cực về mặt kinh tế, sự phát triển của các làng nghề
cũng đang là nguyên nhân làm gia tăng vấn đề ô nhiễm môi trường.
Những tồn tại trong quá trình phát triển làng nghề đang trở thành thách thức đối
với việc bảo vệ môi trường, phát triển bền vững cho nông thôn.
Thời gian qua, xác định vai trò quan trọng của làng nghề, ngành nghề nông thôn,
Đảng và Nhà nước đã tập trung chỉ đạo và ban hành nhiều chính sách như Nghị
định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ về chính sách phát triển
làng nghề nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện
đại hoá, giải quyết việc làm tại chỗ, nâng cao chất lượng cuộc sống và thu nhập của
người dân, tăng cường hoạt động xuất khẩu. Ngoài ra, tại Nghị định số
nhiều năm qua trong quá trình phát triển làng nghề có thể coi là một trong những
nguyên nhân làm cho chất lượng môi trường nhiều làng nghề ngày càng suy giảm,
ảnh hưởng không nhỏ không chỉ tới sự phát triển sản xuất mà cả của nền kinh tế đất
nước, đó là:
- Qui mô sản xuất nhỏ, phần lớn ở qui mô hộ gia đình (chiếm 72% tổng số cơ sở
sản xuất).
- Nếp sống tiểu nông của người chủ sản xuất nhỏ có nguồn gốc nông dân đã có
ảnh hưởng mạnh đến sản xuất tại làng nghề, làm tăng mức độ ô nhiễm môi trường.
Không nhận thức được tác hại lâu dài của ô nhiễm, chỉ quan tâm đến lợi nhuận
trước mắt, các cơ sở sản xuất tại làng nghề thường lựa chọn qui trình sản xuất thô
sơ, tận dụng nhiều sức lao động, trình độ thấp. Hơn thế, nhằm hạ giá thành sản
phẩm, tăng tính cạnh tranh nhiều cơ sở sản xuất còn sử dụng các nhiên liệu rẻ tiền,
hoá chất độc hại (kể cả đã cấm sử dụng), không đầu tư phương tiện, dụng cụ bảo hộ
lao động, không đảm bảo điều kiện lao động nên đã làm tăng mức độ ô nhiễm tại
làng nghề.
Sáng kiến kinh nghiệm
8
- Quan hệ sản xuất mang đặc thù của quan hệ gia đình, dòng tộc, làng xã.
- Công nghệ sản xuất và thiết bị phần lớn ở trình độ chắp vá, kiến thức tay nghề
không toàn diện dẫn đến tiêu hao nhiều nguyên, nhiên liệu, làm tăng phát thải nhiều
chất ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm.
- Vốn đầu tư của các cơ sở sản xuất tại làng nghề còn quá thấp khó có điều kiện
phát triển hoặc đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường.
- Trình độ người lao động, chủ yếu là lao động thủ công, học nghề, văn hoá thấp
nên hạn chế nhận thức đối với công tác bảo vệ môi trường.
- Nhiều làng nghề chưa quan tâm tới xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho bảo vệ
bệnh phụ khoa và các bệnh về mắt…
- Làng nghề tái chế phế liệu: các bệnh thường gặp là bệnh về hô hấp và bệnh
ngoài da, thần kinh.
- Làng nghề thủ công mỹ nghệ, thêu ren: bệnh về đường hô hấp và bệnh ngoài da
là những bệnh đặc trưng của nhóm nghề này.
Ô nhiễm môi trường làng nghề còn gây ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động phát
triển kinh tế-xã hội của chính làng nghề đó, gây ra những tổn thất kinh tế không
nhỏ và dẫn đế những xung đột môi trường trong cộng đồng.
4.1.Bệnh tật gia tăng, tuổi thọ người dân suy giảm tại các làng nghề
Trong thời gian gần đây, tại nhiều làng nghề tỷ lệ người mắc bệnh (đặc biệt là
nhóm người trong độ tuổi lao động) đang có xu hướng tăng cao. Theo các kết quả
cho thấy, tuổi thọ trung bình của người dân làng nghề ngày càng giảm đi, thấp hơn
10 năm so với tuổi thọ trung bình của cả nước.
Bên cạnh những vấn đề bệnh tật do ô nhiễm môi trường làng nghề, các nguy cơ tai
nạn thương tích đối với người lao động tại các làng nghề cũng rất nhiều.
4.2. Ô nhiễm môi trường làng nghề gây tổn thất đối với phát triển kinh tế
Ô nhiễm môi trường làng nghề gây tác hại xấu đến sức khoẻ người lao động và
cộng đồng dân cư, làm tăng chi phí khám chữa bệnh, làm giảm năng suất lao động,
mất ngày công lao động do nghỉ ốm đau.
Ô nhiễm môi trường làng nghề làm ảnh hưởng đến mọi hoạt động sản xuất của
làng nghề và xung quanh làng nghề (ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí…).
Sáng kiến kinh nghiệm
10
Ô nhiễm môi trường làng nghề làm gia tăng chi phí chăm sóc sức khoẻ và gánh
nặng bệnh tật.
4.3. Ô nhiễm môi trường làng nghề làm nảy sinh xung đột môi trường
- Giữ gìn vệ sinh nguồn nước ăn uống, không đục phá đường ống cấp nước
chung.
- Giữ gìn và bảo vệ các công trình công cộng.
- Các cơ sở sản xuất phải xử lý khí thải, nước thải đạt qui chuẩn môi trường trước
khi thải ra môi trường, thu gom và vận chuyển rác thải đến nơi qui định để xử lí.
- Hộ dân cư và hộ sản xuất nào vi phạm các qui định trên thì phải nộp phạt với
các mức phạt tuỳ theo mức độ nặng nhẹ và tuỳ hoàn cảnh thực tế của địa phương.
- Thành lập tổ thu gom chất thải rắn tại làng nghề và có nhiệm vụ thu gom và vận
chuyển chất thải rắn đến nơi tập kết rác thải của địa phương.
II. Môi trường làng nghề địa phương
Hiện nay cả nước có khoảng 23500 trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm, Đông
Nam Bộ chiếm 17% với khoảng 4100 trang trại, trong đó Đồng Nai là tỉnh chăn
nuôi gia súc, gia cầm lớn nhất cả nước với khoảng 2000 trang trại trong đó các hộ
chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm hơn 50%, tổng đàn lợn khoảng 1,2 triệu con. Huyện Thống
Nhất là huyện có số lượng chăn nuôi heo, gà lớn nhất tỉnh. Tốc độ tăng trưởng chăn
nuôi của huyện phát triển khá nhanh, ngành chăn nuôi chiếm tỷ trọng cao trong sản
xuất nông nghiệp. Năm 2005 toàn huyện có khoảng 304 trang trại chăn nuôi heo,
gia cầm, đến năm 2010 đã tăng lên 533 trang trại chăn nuôi, ngoài ra còn nhiều hộ
chăn nuôi nhỏ lẻ theo hình thức hộ gia đình.
Trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm ở huyện Thống Nhất
Sáng kiến kinh nghiệm
12
Việc phát triển chăn nuôi đã làm cho nền kinh tế ở địa phương có những bước
chuyển biến lớn, đời sống của nhân dân được cải thiện. Tuy nhiên cùng với quá
trình phát triển kinh tế, việc chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng mang lại những hệ quả
trong môn Giáo dục công dân
1. Phương pháp thảo luận nhóm
1.1.Khái quát về việc sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong quá trình dạy
học.
Về thực chất, phương pháp thảo luận nhóm là tổ chức cho học sinh bàn bạc, trao
đổi trong nhóm nhỏ. Thảo luận nhóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho học
sinh tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho học sinh
tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho học sinh có thể
chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến
nội dung bài học.
Sáng kiến kinh nghiệm
15
Các nghiên cứu về phương pháp thảo luận nhóm đã chứng minh rằng, nhờ việc
thảo luận trong nhóm nhỏ mà:
- Kiến thức của học sinh sẽ giảm bớt tính chủ quan, phiến diện, làm tăng tính
khách quan khoa học.
- Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giao lưu
học hỏi giữa các thành viên trong nhóm.
- Nhờ không khí thảo luận nhóm cởi mở giúp học sinh thoải mái, tự tin hơn trong
việc trình bày ý kiến của mình và biết lắng nghe có phê phán ý kiến của những
thành viên khác.
1.2. Cách tiến hành
Thảo luận nhóm có thể tiến hành theo các bước sau:
- Giáo viên nêu chủ đề thảo luận, chia nhóm, giao câu hỏi, yêu cầu thảo luận cho
mỗi nhóm, quy định thời gian và phân công vị trí ngồi thảo luận cho các nhóm.
- Các nhóm tiến hành thảo luận.
- Việc phát triển kinh tế ở địa phương mang lại những lợi ích gì?
- Việc phát triển kinh tế ở địa phương có những ảnh hưởng gì tới môi trường
sống?
Sau các bước:
- Nhóm thảo luận.
- Từng nhóm trình bày kết quả thảo luận trước lớp.
- Các nhóm nhận xét phần trình bày của nhóm bạn.
Giáo viên sẽ nhận xét, bổ sung, kết luận về tình hình phát triển kinh tế của địa
phương, ý nghĩa của việc phát triển kinh tế đối với cuộc sống của cá nhân, gia đình
và xã hội đồng thời cũng thấy được những tác động xấu của sự phát triển kinh tế địa
phương đối với môi trường sống, từ đó có ý thức bảo vệ môi trường sống.
2. Phương pháp giải quyết vấn đề
2.1. Khái quát về việc sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong quá trình dạy
học.
Giải quyết vấn đề là quá trình xem xét, phân tích những vấn đề đang tồn tại và xác
định các bước nhằm cải thiện tình hình, giúp học sinh vạch ra những cách thức giải
Sáng kiến kinh nghiệm
17
quyết vấn đề, tình huống cụ thể đã gặp phải trong cuộc sống hàng ngày.
Dạy học giải quyết vấn đề nhằm phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn
đề của học sinh, học sinh được đặt trong tình huống có vấn đề, thông qua việc giải
quyết vấn đề giúp học sinh lĩnh hội kiến thức, kĩ năng và phương pháp nhận thức.
2.2. Cách tiến hành
Xác định vấn đề cần giải quyết là gì?
Nêu lên những chi tiết có liên quan đến vấn đề.
Nêu lên những câu hỏi giúp cho việc giải quyết vấn đề
- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch.
3. Phương pháp dự án
3.1. Khái quát về việc sử dụng phương pháp dự án trong quá trình dạy học.
Phương pháp dự án được hiểu như là một phương pháp trong đó người học thực
hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp giữa lý luận với
thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả. Hình thức làm việc
chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm hoạt động có thể giới thiệu
được.
Phương pháp dự án có nhiều ưu điểm:
- Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội.
- Kích thích động cơ, hứng thú học tập của học sinh.
- Phát huy tính tự lực, tinh thần trách nhiệm; phát triển khả năng sáng tạo, rèn
luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn, ký năng hợp tác, năng lực đánh giá.
- Học sinh có cơ hội rèn luyện nhiều kỹ năng sống quan trọng
3.2. Cách tiến hành
Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án: giáo viên và học sinh cùng nhau đề
xuất, xác định đề tài và mục đích dự án. Giáo viên có thể giới thiệu một số hướng
đề tài để học sinh lựa chọn và cụ thể hoá. Trong một số trường hợp, việc đề xuất đề
tài có thể từ phía học sinh.
Xây dựng đề cương, kế hoạch thực hiện: Trong giai đoạn này, học sinh dưới sự
hướng dẫn của giáo viên xây dựng đề cương, kế hoạch cho việc thực hiện dự án.
Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự
kiến, cách tiến hành, người phụ trách mỗi công việc.
Sáng kiến kinh nghiệm
19
Thực hiên dự án: Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho
20
Bài 6: Khuynh hướng phát triển của sự vật hiện tượng, mục 1, phần a: Phủ định
siêu hình.
Bài 15: Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại, mục 1: Ô nhiễm môi
trường và trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ môi trường.
- Với khối lớp 11:
Bài 4: Cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hoá, mục 3, phần b: Mặt hạn
chế của cạnh tranh.
- Với khối lớp 12:
Bài 2: Thực hiện pháp luật , mục 2: Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí.
Trong quá trình giảng dạy tuỳ nội dung từng bài giáo viên có thể tích hợp những
nội dung khác nhau để giáo dục bảo vệ môi trường sống cho học sinh. Ngoài việc
tích hợp vào từng bài học cụ thể giáo viên có thể sử dụng các tiết ngoại khoá để
giáo dục bảo vệ môi trướng sống cho học sinh nhằm đảm bảo tính hệ thống để đạt
hiệu quả cao nhất.
IV. Kết quả
Trong thực tiễn giảng dạy tôi đã áp dụng một số phương pháp trên để tích hợp nội
dung giáo dục bảo vệ môi trường nói chung, môi trường sống tại địa phương nói
riêng vào một số bài dạy Giáo dục công dân. Việc áp dụng này đã làm cho học sinh
thấy được:
- Tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường sống đảm bảo phát triển bền vững,
phát triển kinh tế gắn liền với việc tích cực bảo vệ môi trường sống.
- Không vì lợi ích trước mắt mà không quan tâm đến lợi ích lâu dài, đảm bảo chất
lượng cuộc sống không chỉ cho thế hệ hôm nay mà cả các thế hệ mai sau.
- Mỗi cá nhân sống trong cộng đồng phải biết dung hoà lợi ích cá nhân với lợi ích
tập thể. Bảo vệ môi trường sống không chỉ là nhiệm vụ của nhà nước, xã hội mà đó
là nhiệm vụ của tất cả các thành viên trong xã hội. Bảo vệ môi trường sống nên bắt
đầu từ những việc làm nhỏ nhất.
Sáng kiến kinh nghiệm
22
C. KẾT LUẬN
Việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường với môn Giáo dục công dân nói riêng và
các môn học khác nói chung là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế
nhất, có tính bền vững nhất trong các biện pháp trong các biện pháp để thực hiện tốt
mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước. Thông qua giáo dục
mọi người được trang bị kiến thức về môi trường, ý thức bảo vệ môi trường, năng
lực phát hiện và xử lí các vấn đề môi trường.
Vấn đề tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường nói chung. Môi trường làng nghề nói
riêng vào nội dung một số bài học Giáo dục công dân là rất khó, đó không đơn giản
chỉ là việc giáo viên cung cấp các thông tin về mức độ ô nhiễm môi trường sống, đó
cũng không đơn thuần là việc giáo viên hướng dẫn học sinh nhận thức được thế nào
là ô nhiễm môi trường, tác hại của ô nhiễm môi trường…mà nó đòi hỏi người giáo
viên phải làm sao cho học sinh thấy được vai trò của mỗi cá nhân trong việc bảo vệ
môi trường sống nói chung. Từ đó biến thành việc làm, hành động cụ thể của mỗi
học sinh trong việc góp phần bảo vệ môi trường sống. Để làm được điều đó bên
cạnh việc người giáo viên phải có kiến thức vững vàng về chuyên môn, hiểu biết
sâu rộng về các vấn đề xã hội thì người giáo viên phải có cách thức tổ chức thực
hiện để lôi cuốn được sự chú ý của học sinh, giúp các em dám nói thẳng, nói thật về
các vấn đề kinh tế - xã hội, tác động của sự phát triển kinh tế đối với môi trường
sống. Thông qua đó hình thành ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường sống cho học
sinh. Đồng thời mỗi người giáo viên phải là một tấm gương sáng về việc góp phần
bảo vệ môi trường cho học sinh.
Trong thực tiễn giảng dạy tuỳ theo từng nội dung, từng bài học mà giáo viên có
thể sử dụng các phương pháp khác nhau để việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi
trường láng nghề tại địa phương đạt hiệu quả cao nhất.
Trên đây là một số dẫn chứng minh hoạ cụ thể để tích hợp giáo dục bảo vệ môi
Trường THPT Thống Nhất B
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
Thống Nhất, ngày
tháng
năm 2012
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2011-2012
Tên sáng kiến kinh nghiệm: Một số phương pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi
trường làng nghề trong môn Giáo dục công dân.
Họ và tên tác giả: Kiều Thanh Vinh
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường THPT Thống nhất B □
Lĩnh vực: (Đánh dấu x vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác)
- Quản lí giáo dục
□
- Phương pháp dạy học bộ môn
- Phương pháp giáo dục
□
- Lĩnh vực khác
□
Khá
□
Đạt
□