VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
LỚP CAO HỌC CHUYÊN NGÀNH
QUẢN LÝ GIÁO DỤC KHOÁ 2008 – 2011
Hà Nội, ngày 30 tháng 7 năm 2010
TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG GIÁO DỤC
Họ và tên: Hoàng Thu Hồng
Câu hỏi) Phân bổ NSNN cho giáo dục
Những đặc điểm cơ bản của cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước cho giáo dục. Liên
hệ với thực tế và khuyến nghị các biện pháp nhằm cải tiến phân bổ NSNN cho giáo dục.
Bài làm)
1) Khái niệm:
Ngân sách/ngân quỹ là cách phát biểu các kế hoạch đã định theo các quan hệ bằng
con số. Các ngân sách là các điều khoản về các kết quả định trước theo quan hệ tài chính.
2) Các cấp tham gia phân bổ NSGD:
- Tuỳ thuộc vào cơ cấu tổ chức hay các cấp NS và việc phân cấp trong thu và chi
của mỗi cấp NS.
- Ngay cả các nước có quy định NSGD thuộc về NS của bang, song đã xuất hiện xu
hướng NS liên bang dành một tỷ lệ nhất định cho GD (Mỹ)
- Hầu hết các nước việc xác định tỷ lệ NSNN cho GD là phức tạp và được giao cho
Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch chịu trách nhiệm chính. Việc phân bổ trong nội bộ ngành là
công việc của Bộ Giáo dục.
- Đối với các cấp học (trình độ đào tạo) cao và cơ sở đào tạo có quy mô lớn thường
có phân bổ NS trong nội bộ trường (cho các bộ phận trong trường).
Một số đặc điểm cơ bản chung về cơ chế phân bổ NS cho GD:
- Hệ thống giáo dục của các nước có các mức độ khác biệt đáng kể về sở hữu và
kiểm soát của NN tuỳ thuộc vào mức độ phụ thuộc nhiều hay ít vào NSNN.
- Các cơ sở GD ngày càng nhận được vốn nhiều hơn từ hàng loạt nguồn. Các cơ chế
phân bổ vốn truyền thống thường tỏ ra kém hiệu quả trong một môi trường cấp vốn đa
nguồn.
3.1) Thực trạng:
Trong những năm qua, mặc dù điều kiện đất nước và ngân sách nhà nước còn nhiều
khó khăn, Nhà nước vẫn quan tâm dành một tỷ lệ ngân sách đáng kể để đầu tư cho giáo
dục. Với nguồn ngân sách đó, lĩnh vực giáo dục và đào tạo đã đạt được những kết quả
đáng khích lệ. Tuy nhiên, trong khi nền kinh tế nước ta đã chuyển sang cơ chế thị trường
được 20 năm, đã hình thành những cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày một tăng, thì cơ
chế tài chính giáo dục thực tế vẫn chưa có thay đổi về chất so với thời kỳ kinh tế kế hoạch
hoá tập trung, bao cấp. Việc quản lý ngân sách giáo dục rất phân tán: các địa phương quản
lý 74% ngân sách nhà nước chi cho giáo dục hàng năm, các bộ, ngành khác 21%, Bộ Giáo
dục và đào tạo quản lý 5%. Các địa phương, các bộ, ngành không có báo cáo về tình hình
và hiệu quả sử dụng ngân sách giáo dục cho Bộ Giáo dục và đào tạo. Vì vậy, Bộ Giáo dục
và Đào tạo không đủ điều kiện đánh giá hiệu quả đầu tư của nhà nước cho giáo dục trong
toàn quốc.
- Mức chi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất còn rất thấp so với nhu cầu rất lớn của
ngành.
- Định mức phân bổ ngân sách giáo dục chưa gắn chặt với các tiêu chí đảm bảo chất
lượng đào tạo (đội ngũ nhà giáo, điều kiện về cơ sở vật chất…), chưa làm rõ trách nhiệm
chia sẻ chi phí đào tạo giữa nhà nước và người học ở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại
học, về cơ bản vẫn mang nặng tính bao cấp và bình quân.
- Việc phân bổ ngân sách cho giáo dục chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, thiếu cơ sở
khoa học xây dựng mức chi và đơn giá chuẩn.
- Việc giao kế hoạch thu chi ngân sách hằng năm chưa gắn với kế hoạch phát triển
trung hạn và dài hạn của ngành, gây khó khăn cho việc chủ động sắp xếp thứ tự ưu tiên
thực hiện các nhiệm vụ, chế độ, chính sách và cân đối giữa nhu cầu chi với khả năng
nguồn lực tài chính công.
- Chế độ học phí xây dựng từ 11 năm trước chưa thay đổi. Mức học phí quá thấp,
dưới khả năng chi trả của người dân ở các vùng đô thị, không phù hợp với mặt bằng giá cả
cùng với chính sách cải cách tiền lương trong những năm qua.
Trường trực
thuộc
Sở ngành
khác
Trường trực
thuộc
Sở GD &
ĐT
Trường trực thuộc
(THPT, DTNT…)
Bộ KHĐT
Bộ GD ĐT
UBND Tỉnh
Trường trực
thuộc
Sở Tài Chính
UBND
Huyện
Trường thuộc tỉnh
quản lý