luận văn ngôn ngữ học lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết vũ trọng phụng ở việt nam - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Quỳnh Loan

LỊCH SỬ TIẾP NHẬN TIỂU THUYẾT
VŨ TRỌNG PHỤNG Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Quỳnh Loan

LỊCH SỬ TIẾP NHẬN TIỂU THUYẾT
VŨ TRỌNG PHỤNG Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN HOÀI THANH


Thành phố Hồ Chí Minh – 2015LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công

Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………..1
Chương 1. TIẾP NHẬN TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG TỪ
PHÊ BÌNH ĐẠO ĐỨC VÀ PHÊ BÌNH PHÂN TÂM HỌC…………………….1
1.1. Tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng từ phê bình đạo đức……………...11
1.1.1. Cơ sở tiếp nhận……………………………………………………....11
1.1.2. Nội dung tiếp nhận…………………………………………………...17
1.2. Tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng phụng từ phê bình phân tâm học………..23
1.2.1. Cơ sở tiếp nhận……………………………………………………....23
1.2.2. Nội dung tiếp nhận…………………………………………………...28
1.3. Tiểu kết…………………………………………………………………....37
Chương 2. TIẾP NHẬN TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG TỪ
PHÊ BÌNH MÁC XÍT…………………………………………………………...40
2.1. Cơ sở tiếp nhận……………………………………………………………40


2.2. Nội dung tiếp nhận………………………………………………………...51
2.3. Tiểu kết……………………………………………………………………61
Chương 3. TIẾP NHẬN TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG TỪ
GÓC ĐỘ THI PHÁP THỂ LOẠI………………………………………………64
3.1. Cơ sở tiếp nhận……………………………………………………………64
3.2. Nội dung tiếp nhận………………………………………………………...69
3.3. Tiểu kết…………………………………………………………………....83
KẾT LUẬN……………………………………………………………………….86
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………….88


7



8

Nghiên cứu văn học không chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu hoạt động sáng
tác mà còn nghiên cứu cả hoạt động tiếp nhận.Việc nghiên cứu người đọc,
nghiên cứu tiếp nhận văn học đã được nhiều nhà lý luận văn học hàng đầu thế
giới quan tâm, tìm hiểu. Ở Việt Nam, cũng có hàng loạt công trình về vấn đề tiếp
nhận văn học của Hoàng Trinh, Nguyễn Văn Hạnh, Mai Quốc Liên, Trần Đình
Sử, Phương Lựu, Nguyễn Văn Dân, Huỳnh Như Phương,… đã đề cập đến tầm
quan trọng của việc nghiên cứu tiếp nhận, mối quan hệ giữa sáng tác và tiếp
nhận, giữa tác phẩm và người đọc,…
Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng từ khi ra đời đã trải qua nhiều thăng trầm,
biến động của lịch sử. Ở những giai đoạn khác nhau lại xuất hiện những cách
nhìn nhận, đánh giá khác nhau về tiểu thuyết của ông. Tiểu thuyết Vũ Trọng
Phụng có lịch sử nghiên cứu phong phú đòi hỏi phải có một cái nhìn bao quát về
lịch sử tiếp nhận, thấy được các hướng tiếp cận, những thành công và hạn chế
trong việc nhận định, đánh giá để hướng tới một sự tiếp nhận khoa học khách
quan, khám phá ra những chân giá trị còn tiềm ẩn trong thành tựu sáng tác này
của ông.Vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài Lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng
Phụng ở Việt Nam để nghiên cứu.
2.

Lịch sử vấn đề
Tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng đã trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều

nhà phê bình. Theo thời gian, chúng ta có thể chia lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết
Vũ Trọng Phụng làm bốn giai đoạn:
2.1. Giai

đoạn 1934 – 1945

sử của đất nước, nên tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ít được quan tâm, nghiên cứu
đầy đủ.
2.3.

Giai đoạn 1954 – 1975
2.3.1. Ở miền Bắc

Sau khi hòa bình được lập lại, ba tiểu thuyết Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê được
in và phát hành rộng rãi. Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng lại trở thành vấn đề được
nhiều người quan tâm. Ta có thể bắt gặp những nhận xét về tiểu thuyết Vũ Trọng
Phụng của Nguyên Hồng trong lời giới thiệu Giông tố, Trương Tửu trong lời


10

giới thiệu Vỡ đê, Nguyễn Tuân khi Đọc lại chuyện Giông tố, Nguyễn Đình Thi
trong Nhất lãm về văn học Việt Nam.
Trong thời kì này đã xuất hiện một số công trình chuyên khảo về Vũ
Trọng Phụng. Có thể kể đến tập san phê bình Vũ Trọng Phụng – đời sống và con
người. Trong công trình này, Thiều Quang đã đề cập nhiều vấn đề liên quan đến
con người và tác phẩm Vũ Trọng Phụng, cung cấp nhiều tư liệu đáng quý và
bước đầu có những nhận xét khá xác đáng về tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng:
“Trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Vũ Trọng Phụng, tiểu thuyết Số đỏ là một
tác phẩm tiêu biểu nhất, nó thể hiện rõ nhất tất cả cái tính chất tư tưởng của Vũ
Trọng Phụng”.
Cuốn sách Vũ Trọng Phụng – nhà văn hiện thực của Văn Tâm là một
trong những công trình đầu tiên nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng khá công phu.
Cuốn sách gồm bảy chương, chủ yếu xoay quanh con người và văn chương Vũ
Trọng Phụng. Nhà phê bình đã phân tích nghệ thuật xây dựng nhân vật và bút
pháp trào phúng trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng. Đồng thời, ông đã phủ nhận

trong một bài viết đã tập trung lý giải “sự mâu thuẫn trong thế giới quan và
trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng”, nhà phê bình đánh giá cao nghệ thuật cá
thể hóa nhân vật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, tuy nhiên, ông lại cho rằng
“khuynh hướng suy đồi của văn học tư sản phản động” đã đến với Vũ Trọng
Phụng. Phan Cự Đệ trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đã nhiều lần lấy tiểu
thuyết Vũ Trọng Phụng làm dẫn chứng cho việc nghiên cứu những khuynh
hướng hiện thực trước cách mạng, vấn đề điển hình hóa trong các tiểu thuyết
hiện thực phê phán, đặc trưng thẩm mỹ của tiểu thuyết, xây dựng nhân vật, kết
cấu, cốt truyện trong tiểu thuyết.
2.3.2. Ở đô thị miền Nam
Các nhà nghiên cứu thừa nhận tài năng tả chân của Vũ Trọng Phụng, tuy
nhiên vẫn chưa có công trình chuyên sâu nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng. Các


12

tạp chí Văn học, Nghiên cứu văn học nhiều lần xuất bản chuyên đề về Vũ Trọng
Phụng, trong đó họ in lại một số bài viết của các nhà văn trước Cách mạng tháng
Tám. Một số luận điểm có giá trị xuất hiện trong các công trình Việt Nam Văn
học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ, Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết của
Nguyễn Văn Trung, Bảng lược đồ văn học Việt Nam, phê bình thế hệ 1932 –
1945 của Thanh Lãng, bài Viết về Vũ Trọng Phụng của Dương Nghiễm Mậu.
2.4. Giai

đoạn từ sau 1975 đến nay

Từ sau ngày đất nước thống nhất, vị trí của Vũ Trọng Phụng đã từng bước
được khẳng định. Năm 1983, Vũ Trọng Phụng đã được đưa vào Từ điển văn
học. Năm 1987, Tuyển tập Vũ Trọng Phụng do Nguyễn Đăng Mạnh và Trần Hữu
Tá biên soạn đã được xuất bản. Đây là công trình tập hợp những bài viết xoay

Trọng Phụng), Nguyễn Quang Trung (Tiếng cười Vũ Trọng Phụng), Trần Đăng
Thao (Đóng góp tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng đối với lịch sử văn học Việt Nam
hiện đại qua hai thể loại phóng sự và tiểu thuyết phóng sự), Đinh Trí Dũng
(Nhân vật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng), Nguyễn Thành (Tiểu thuyết Vũ Trọng
Phụng), Đinh lựu (Nghệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng),…
Ở trên, chúng tôi vừa điểm qua một số công trình mang tính tập hợp
những tư liệu với các qui mô lớn, nhỏ, khác nhau. Như vậy, có thể thấy chưa có
công trình nào nghiên cứu một cách tổng quát lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Vũ
Trọng Phụng theo các khuynh hướng phê bình. Tuy một số công trình không
trực diện phân tích hay đặt trọng tâm nghiên cứu về vấn đề mà luận văn này đặt
ra nhưng đó là nguồn tư liệu gợi mở, quí báu, hữu ích để chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài Lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ở Việt Nam.
3.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.
Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là những ý kiến,

những bài báo, công trình liên quan đến việc tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng
Phụng.


14

3.2.

Phạm vi

Với luận văn Lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ở Việt Nam,

Thao tác phân tích: Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi vận dụng thao
tác phân tích để minh họa cho những nhận xét, lập luận của mình trên cơ sở
phân tích những dẫn chứng từ các công trình đánh giá, nghiên cứu về tiểu thuyết

-

Vũ Trọng Phụng.
Thao tác so sánh: Khi nghiên cứu về lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng
Phụng, chúng tôi có sự so sánh về sự khác nhau trong việc tiếp nhận tiểu thuyết


15

Vũ Trọng Phụng giữa các khuynh hướng hay thậm chí trong cùng một khuynh
hướng phê bình.
5. Đóng góp của luận văn
Chọn đề tài Lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ở Việt Nam,
chúng tôi mong muốn: đem lại một cái nhìn bao quát hệ thống về vấn đề tiếp
nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ở Việt Nam từ khuynh hướng phê bình đạo
đức, phê bình phân tâm học, phê bình mác xít và hướng tiếp cận thi pháp học.
Từ đó có thể góp phần khẳng định vai trò của chủ thể tiếp nhận đối với sự phát
triển văn học. Đồng thời, luận văn có thể trở thành một trong những tài liệu
tham khảo có ích cho công việc giảng dạy tác phẩm Vũ Trọng Phụng trong nhà
trường.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được triển
khai theo ba chương.
Chương 1: Tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng từ phê bình đạo đức và phê
bình phân tâm học
Trong chương này, chúng tôi tìm hiểu về việc tiếp nhận tiểu thuyết Vũ

Trọng Thư đã thần bí hóa, tôn giáo hóa Nho học bằng cách đưa vào các học
thuyết Khổng - Mạnh, các tư tưởng của phái Âm-Dương, Ngũ hành, các tư
tưởng mê tín khác, đồng thời thiết lập hệ thống nghi lễ mới.
Theo một số học giả Trung Quốc thì “Nho giáo đã vào Việt Nam vào thời
Triệu Đà chiếm Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải tự xưng Triệu Việt vương “lấy
Thi, Thư để uốn nắn phong tục”” [84]. Nước ta một thời gian dài bị phương Bắc
đô hộ, chính vì vậy nền văn hóa nước ta bị ảnh hưởng sâu sắc bởi văn hóa phong
kiến phương Bắc: “…dân tộc Việt Nam ngay từ khi thành lập đã chịu ảnh hưởng
của văn hóa Tàu. Cái văn hóa ấy truyền sang nước ta có nhiều cách, nhưng thứ
nhất là do văn học, tức là nhờ sự học chữ nho và sách chữ nho của người Tàu
tràn sang. Chính cái văn học của người Tàu ấy đã chi phối tư tưởng, học thuật,
luân lý, chính trị, phong tục của dân tộc ta. Trong các trào lưu tư tưởng của
người Tàu tràn sang bên ta, có ảnh hưởng sâu sắc đến dân tộc ta, nhất là Nho
giáo” [19, tr.32].


18

Nói đến phê bình đạo đức trong văn học Việt Nam phải kể đến sự ảnh
hưởng của tư tưởng Khổng Tử - người sáng lập Nho giáo. Khổng Tử cho rằng
trách nhiệm của một thánh nhân đó là “phát biểu văn thành Đạo, dùng văn
truyền bá Đạo cho dân sinh” [23, tr.25].
Trong luận ngữ, khi Nhan Uyên hỏi về việc trị nước, Khổng Tử đã đáp
rằng: “dùng lịch nhà Hạ, cưỡi xe nhà Ân, đội mũ miện nhà Chu, múa nhạc
Thiều. Bỏ ca nhạc nước Trịnh, đuổi xa những người ăn nói khéo (nịnh). Ca nhạc
nước Trịnh dâm, những người ăn nói khéo nguy hiểm” [23, tr.30]. Theo Khổng
Tử, về âm nhạc nên múa nhạc Thiều và bỏ ca nhạc Trịnh. Sở dĩ như vậy là do
“ca nhạc nước Trịnh vì hiếu lạm nên làm cho chí dâm, ca nhạc nước Tống vì say
đắm nữ sắc nên làm cho chí đắm đuối, ca nhạc nước Vệ vì quá gấp gáp, rậm rật
nên làm cho chí rồi loạn, ca nhạc nước Tề vì quá phóng túng nên làm cho chí

Thiên Nam dư hạ tập, Hồng Đức thiện chính thư, 24 điều Huấn dân đại cáo của
Lê Thánh Tông.
Từ TK XVI trở đi, hầu hết các làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ tinh thần của
Nho giáo đã được thể hiện khá rõ qua các điều lệ được lập trong hương ước “bộ luật thành văn của làng xã” thời quân chủ. Đến TK XVII, đời vua Lê Huyền
Tông, Trịnh Tạc tiếp tục ban bố 47 điều giáo hóa theo kinh điển Nho gia phong
kiến. Trong đó, có những điều luật cấm đoán những tác phẩm truyện thơ có nội
dung ca ngợi tình yêu nam nữ vì cho rằng đó là “dâm thư”. Sau đó, Nhữ Đình
Toản phiên 47 điều giáo hóa ấy thành thơ lục bát để phổ biến.
Như vậy, có một thời kì, Nho giáo được coi là ý thức hệ chính thống ở
Việt Nam và “Ở vị trí ý thức hệ chính thống, Nho giáo chi phối văn học nghệ
thuật. Tác dụng chi phối của Nho giáo sâu sắc, nhiều mặt, qua nhiều nhân tố
khác nhau. Tất cả hình thành trong lịch sử cả vùng một loại hình văn sĩ, nghệ sĩ,


20

một loại hình văn học nghệ thuật, viết cùng những thể loại, theo cùng một quan
niệm văn học, cùng những tiêu chuẩn về cái đẹp nghệ thuật” [23, tr.20].
Quan niệm “dĩ văn tải đạo”, văn chương có chức năng giáo hóa con
người, nhưng đồng thời văn chương cũng phải hay, phải đẹp đã trở thành kim
chỉ nam cho hoạt động sáng tác và hoạt động đánh giá, phê bình văn chương
nghệ thuật thời trung đại.
Nguyễn Tư Giản đời nhà Nguyễn cũng đã từng nói: “Văn của thánh nhân
là để chở đạo, văn của văn nhân là để bàn về đạo”. Vũ Phạm Khải nói: “Văn là
cái khí cụ để chứa đựng đạo đức”. Cao Xuân Dục khẳng định: “Văn là để chở
đạo” [51, tr.200]. Nguyễn Văn Siêu trong Thư gửi Lục Luân Anh cho rằng: “Văn
với đạo tuy khác tên, như kì thực văn là do đạo mà ra” [51, tr.225].
Đồ Chiểu – một nhà nho yêu nước thế kỉ XIX cũng đã thể hiện quan niệm
văn chương ấy: “Văn chương ai chẳng muốn nghe/ Phun châu nhả ngọc báu
khoe tinh thần”. Nói đến “phun châu nhả ngọc” là nói tới vẻ đẹp của văn

thiệt lại vất vả, mà nói cho đứa trẻ biếng học nghe; nếu đem câu chuyện của một
người con gái giang hồ gặp những sự nhơ nhuốc, điêu đứng, sự lừa lọc đảo điên,
mà kẻ cho người con gái có tính lẳng lơ nghe, thiết tưởng đứa trẻ không chịu
học, người con gái có tính nguyệt hoa nghe lại thiết tha mà ghê sợ hơn là câu đe
dọa” [39, tr.47].
Nguyễn Đình Long khẳng định: “Cái giá trị con người, cái giá trị của
công trình của con người là cái giá trị luân lí vậy. Nghĩa là cái gì vô luân lí
không thể có mỹ thuật được” [72, tr.55].
Hay tuyên ngôn của tiểu thuyết thứ bảy, 2/6/1934 quan niệm: “Một thiên
tiểu thuyết có giá trị, dầu thuộc loại mạo hiểm hay trinh thám, xã hội hay hoạt
kê, nghĩa hiệp hay ngôn tình… đều có ảnh hưởng sâu xa tốt đẹp cho tri thức, cho
học vấn, cho đạo đức, cho sự lịch duyệt của người đọc” [39, tr.103].


22

Trong khi đó, nhiều nhà trí thức lúc bấy giờ có điều kiện tiếp xúc với văn
hóa phương Tây thông qua các sách báo được lưu hành. Do đó, quan niệm thẩm
mỹ đã ít nhiều có sự thay đổi, họ đề cao cái tôi cá nhân của mỗi người, họ có cái
nhìn cởi mở hơn đối với những vấn đề về tính dục, về tình yêu đôi lứa trong
sáng tác văn học. Ý kiến của Lưu Trọng Lư đã có thấy sự chuyển biến ấy: “Nhìn
một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi, ta thì cho
là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh. Cái ái tình của các cụ thì chỉ là
sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái
tình thoảng qua, cái tình gần gần gụi, cái tình xa xôi (…) cái tình trong giây
phút, cái tình ngàn thu” [79].
Sự đối kháng giữa cái cũ và cái mới đã tạo nên những cuộc tranh luận,
hàng loạt tác phẩm cũ và mới được đưa ra mổ xẻ, phân tích. Trong đó, phải kể
đến vụ Ngô Đức Kế phê phán Phạm Quỳnh và phong trào sùng bái Kiều (1924).
Phạm Quỳnh thì đề cao Truyện Kiều: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta

mắt công chúng, một độc giả khác ký tên Nhất Chi Mai đã lên án đích danh Vũ
Trọng Phụng bằng những lời lẽ phẫn uất và nặng nề qua bài viết Dâm hay không
dâm: "Tôi phải chỉ trích những cái khốn nạn, lầy lụa của những đoạn văn mà
một bọn văn sĩ nửa mùa về hùa nhau cho là kiệt tác, là đúng sự thật, là can
đảm..." [35, tr.138], rồi ông nêu lên cảm xúc của mình sau khi đọc những trang
văn ấy: “Đọc xong một đoạn văn, tôi thấy trong lòng phẫn uất, khó chịu, tức tối.
Không phải phẫn uất, khó chịu, vì cái vết thương xã hội tả trong câu văn, mà
chính là vì cảm thấy tư tưởng hắc ám, căm hờn, nhỏ nhen ẩn trong đó. Đành
rằng nhà văn có cái thiên chức nêu những cái thống khổ của nhân loại, vạch cái
xấu xa của loài người, nhưng bao giờ cũng cần phải có một ý nghĩa cao thượng,
một tư tưởng vị tha, một lòng tín ngưỡng ở sự tiến hóa, mong cho nhân loại ra
khỏi nơi u ám và một ngày một hay hơn, một sung sướng hơn lên. Đọc văn Vũ
Trọng Phụng, thực không bao giờ tôi thấy một tia hy vọng, một tư tưởng lạc
quan. Đọc xong ta phải tưởng tượng nhân gian là một nơi địa ngục và chung
quanh mình toàn những kẻ giết người, làm đĩ, ăn tục, nói càn, một thế giới khốn
nạn vô cùng. Phải chăng đó là tấm gương phản chiếu tính tình, lý tưởng của nhà


25

văn, một nhà văn nhìn thế gian qua cặp kính đen, có một bộ óc cũng đen và một
nguồn văn càng đen nữa?" [35, tr.139].
Như vậy, theo Nhất Chi Mai, văn chương của Vũ Trọng Phụng không có
giá trị bởi vì đó là thứ văn chương mang tư tưởng hắc ám của một nhà văn có bộ
óc đen, không mang lại cho con người sự tin tưởng, hi vọng.
Trên Ích Hữu số 26, ngày 25/5/1937, Hiện Chi cũng đã thể hiện quan
điểm của mình trong bài Đọc Giông tố của Vũ Trọng Phụng. Dù đưa ra những
nhận xét cụ thể, tích cực về tiểu thuyết Giông tố thì Hiện Chi cũng vẫn cho rằng:
“Thiếu nữ và trẻ em nên tránh xa cho! Cả các cụ già đạo mạo bên ngoài cũng
đừng mó tới! Đọc thiết tha, đọc chúi mũi chúi lái một mạch từ đầu đến cuối, rồi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status