Câu hỏi:
NHỮNG TIỀN ĐỀ KHÁCH QUAN CHO SỰ RA ĐỜI CỦA
TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
DÀN Ý
l) Tiền đề kinh tế - xã hội của triết học Mác:
- Triết học Mác cũng như các bộ phận cấu thành khác của Chủ nghĩa Mác
- Kinh tế học chính trị và Chủ nghĩa cộng sản khoa học xuất hiện vào những
năm 40 của thế kỷ XIX. Thời kỳ này, Chủ nghĩa Tư bản đã trở thành hệ thống
kinh tế thống trị ở các nước Tây Âu và giai cấp vô sản sinh ra từ nền sản xuất
của chủ nghĩa tư bản đã bước lên vũ đài lịch sử như một lực lượng chính trị độc
lập.
- Sự xuất hiện triết học Mác cũng như chủ nghĩa Mác nói chung được
chuẩn bị trước hết bởi sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và những mâu thuẫn
của nó, bởi sự phát triển sâu sắc của cuộc đấu tranh giữa lao động và tư bản,
giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Sự phát triển của phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa, đem lại cho lực lượng sản xuất và quá trình sản xuất một tính
chất xã hội, nhưng tư liệu sản xuất và sản phẩm của nền sản xuất xã hội ấy thì
lại không vào tay người sản xuất - công nhân, mà lại vào tay người chiếm hữu tư
liệu sản xuất - nhà tư bản. Mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của sản xuất và
hình thức chiếm hữu tư nhân là mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Biểu
hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn đó là cuộc đấu tranh không điều hòa giữa giai
cấp vô sản và giai cấp tư sản. Như vậy chính chủ nghĩa tư bản đã tạo ra lực
lượng xã hội để giải quyết mâu thuẫn đó. Lực lượng đó là giai cấp vô sản cách
mạng, ngày càng phát triển có tính tự giác và tổ chức cao.
- Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đã trải qua nhiều giai đoạn. ở
thời kỳ đầu, phong trào công nhân còn mang tính tự phát, thiếu tổ chức. Hình
thức đấu tranh cơ bản lúc này là đấu tranh kinh tế những tính chất bạo động tự
sản và giai cấp tư sản Anh. Mùa thu 1843, C.Mác đã đến Pa-ri. Những truyền
thống cách mạng của nước Pháp đã làm ông xúc động ngay từ thời trẻ. Ông
chăm chú nghiên cứu tình cảnh giai cấp vô sản Pháp, thường xuyên thăm các
vùng ngoại ô Pa-ri, nơi tập trung quần chúng công nhân cơ bản, xây dựng mối
quan hệ với những người lãnh đạo của nhiều tổ chức Pháp bí mật, cũng như với
những người lãnh đạo của “Liên minh những người chính nghĩa” một tổ chức bí
mật của những công nhân Đức ở Pháp. Mác và Ăng-Ghen hân hoan đón nhận tin
về cuộc khởi nghĩa của những người thợ dệt Xê-lê-di.
- Từ năm 1843 toàn bộ cuộc đời và hoạt động phong phú của Mác và
Ăng-Ghen đã gắn liền với số phận của giai cấp công nhân. Hai ông đã hiến dâng
mọi sức lực và tài năng cho cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa cộng sản.
- Khi nghiên cứu và khái quát kinh nghiệm của phong trào công nhân ở
Anh, Pháp, Đức và nhiều nước khác, Mác và Ăng-Ghen đã chỉ ra vai trò lịch sử
toàn thế giới của giai cấp vô sản như là người đạo mồ chôn chủ nghĩa tư bản và
sáng tạo xã hội xã hội chủ nghĩa. Trước Mác và Ăng-Ghen đã có nhiều người
mô tả nỗi thống khổ của giai cấp vô sản và chỉ ra sự tất yếu phải giúp đỡ nó,
nhưng chỉ đến Mác và Ăng-Ghen, mới chỉ rõ rằng, giai cấp vô sản không chỉ là
giai cấp đau khổ, nó còn là lực lượng biến đổi chế độ xã hội hiện tại, tiêu diệt
chế độ người bóc lột người và xây dựng xã hội mới không có giai cấp. Vạch ra
vai trò lịch sử của giai cấp vô sản là công lao vĩ đại của Mác và Ăng-Ghen.
Như vậy, vào giữa những năm 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã
phát triển ở các nước Tây Âu tiên tiến.
- Thời kỳ đó diễn ra những mâu thuẫn không thể điều hòa giữa vô sản và
tư sản. Giai cấp vô sản đã bắt đầu ý thức được những lợi ích căn bản của mình
và tiến hành cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản. Đó là cơ sở kinh tế - xã hội
của sự xuất hiện chủ nghĩa Mác và triết học của nó. Với sự xuất hiện chủ nghĩa
Mác - hệ tư tưởng khoa học của giai cấp vô sản, phong trào công nhân đã
chuyển sang giai đoạn phát triển mới.
pháp biện chứng. Hai ông đã dùng những tư tưởng cách mạng của phép biện
chứng Hê-ghen để luận giải cho những khát vọng dân chủ - cách mạng của
mình.
- Dưới ảnh hưởng của cuộc đấu tranh chính trị - xã hội và của chủ nghĩa
duy vật của Phơ-bách, trong quan điểm của Mác và Ăng-Ghen đã chuyển từ chủ
nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật, từ chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang
chủ nghĩa cộng sản, đã phê phán quyết liệt chủ nghĩa duy tâm triết học của Hêghen. Hai ông chỉ ra rằng học thuyết của Hê-ghen về nhà nước và pháp quyền là
không phù hợp với hiện thực, rằng “ý niệm tuyệt đối” của Hê-ghen không phải
là cái gì khác mà chính là ý thức của con người được xem xét ngoài con người,
ngoài giới tự nhiên và biến nó thành cái tuyệt đối.
- Hai ông hiểu rất rõ rằng, trong những lời tối tăm, cầu kỳ, thông thái rởm
trong các bài viết của Hê-ghen đã dấu kín những tư tưởng cách mạng. Mác viết:
“Nếu tước bỏ đi các hình thức thần bí thì phép biện chứng của Hê-ghen sẽ là
hình thức cơ bản của mọi phép biện chứng”. Khi giải phóng phép biện chứng
của Hê-ghen khỏi chủ nghĩa duy tâm là thần bí, Mác và Ăng-Ghen đã xây dựng
những nguyên tắc của phép biện chứng duy vật. Phép biện chứng mác-xít đó
không chỉ khác mà còn đối lập với phép biện chứng Hê-ghen. Nó là hình thức
lịch sử cao nhất của phép biện chứng.
- Nhà tư tưởng thứ hai, ảnh hưởng lớn đến sự hình thành các quan điểm
của Mác và Ăng-Ghen là Phơ-bách. Phơ-bách là người đã từ bỏ triệt để triết học
của Hê-ghen và say sưa phê phán tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm, tuyên truyền
chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa nhân đạo.
- Bằng sự phê phán của mình đối với chủ nghĩa duy tâm, Phơ-bách đã
nhanh chóng giúp Mác và Ăng ghen thoát khỏi chủ nghĩa duy tâm và chuyển
vững chắc sang lập trường của chủ nghĩa duy vật. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh
rằng, Mác và Ăng ghen chưa bao giờ là những người theo Phơ-bách triệt để,
cũng giống như chưa bao giờ theo Hê-ghen triệt để.
- Khác với Phơ-bách đã vứt bỏ hoàn toàn triết học của Hê-ghen, Mác và
vực tri thức, đặc biệt là của các ngành khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật.
Phương pháp tư duy siêu hình từng thống trị trong khoa học và trong triết học
duy vật, đã mâu thuẫn với những phát minh mới nhất trong khoa học tự nhiên
nửa đầu thế kỷ XIX.
- Lô-mô-nô-xốp đã chứng minh về mặt thực nghiệm quy luật bảo toàn vật
chất và vận động và đã giáng một đòn mạnh mẽ vào những quan điểm duy tâm
tôn giáo, khẳng định tính đúng đắn của những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa
duy vật.
- Từ những năm 30 đến 50 của thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên đã có được
những thành tựu to lớn. Thời kỳ này có ba phát minh vĩ đại đóng vai trò hết sức
quan trọng trong cuộc đấu tranh chống quan điểm siêu hình và chuẩn bị cho sự
ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Phát minh thứ nhất: Năm 1842 - 1845 nhà vật lý học Đức Rô-béc May-e
đã phát minh Quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng. Quy luật này
cũng được hai nhà vật lý học Anh Gơ-rốp và Giu-lơ-ôn, kỹ sư Đan Mạch Cônđinh-gơ và nhà bác học Nga Len-xơ phát minh. Sự phát minh ra quy luật bảo
toàn và chuyển hóa năng lượng đã chứng minh rằng, lực cơ học, nhiệt, ánh sáng,
điện tử, các quá trình hóa học, nghĩa là các hình thức khác nhau của vận động
vật chất không tách rời nhau và trong những điều kiện nhất định thì chuyển hóa
lẫn nhau mà không có lực nào mất đi cả. Nó chứng minh rằng không có sự phát
sinh ra và mất đi của năng lượng chỉ có sự chuyển biến không ngừng của năng
lượng từ dạng này sang dạng khác. Quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng
được Ănghen coi là quy luật tuyệt đối của giới tự nhiên. Nó là cơ sở khoa học tự
nhiên của quan điểm biện chứng về thế giới.
Phát minh thứ hai: Sự phát triển các ngành khoa học về động vật và thực
vật cũng làm suy yếu cơ sở của quan điểm siêu hình. Vào những năm 30 của thế
kỷ XIX đã ra đời học thuyết về tế bào. Học thuyết đó đã phá bỏ quan niệm siêu
hình cũ không thấy được sự thống nhất về mặt nguồn gốc và hình thái giữa thế
giới thực vật và động vật. Nó xác định sự thống nhất cấu tạo của các cơ thể động
có phê phán những tư tưởng triết học trước đó, Mác và Ăng-Ghen đã thực hiện
bước ngoặt cách mạng vĩ đại trong triết học.
4) Thực chất và ý nghĩa của bước ngoặt cách mạng trong triết học do
Mác và Ănghen thực hiện?
- Triết học Mác đã khắc phục sự tách rời thế giới quan duy vật và phép
biện chứng trong lịch sử phát triển của triết học trước đó, xác lập chủ nghĩa duy
vật biện chứng nhờ một hệ thống lý luận khoa học chặt chẽ thống nhất và hoàn
chỉnh, lẫn phép biện chứng trong cái vỏ duy tâm thần bí của một số đại biểu của
nền triết học cổ điển Đức để xây dựng nền triết học mới – Triết học duy vật biện
chứng
- Sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử. Chủ nghĩa duy vật lịch sử của
Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học. Đó là một cuộc cách mạng
thực sự trong học thuyết về xã hội, một trong những yếu tố chủ yếu của bước
ngoặt cách mạng mà Mác và Ănghen đã thực hiện trong triết học.
- Triết học Mác không chỉ giải thích thế giới mà chủ yếu là công cụ cải
tạo thế giới. Nó trở thành công cụ nhận thức khoa học để cải tạo thế giới bằng
thực tiễn cách mạng.
Nhờ sự ra đời của Triết học Mác mà vai trò xã hội của triết học cũng như
vị trí của triết học trong hệ thống tri thức khoa học đã thay đổi về căn bản.
Triết học Mác trở thành thế giới quan khoa học của giai cấp công
nhân. Sự kết hợp lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung và triết học
Mác nói riêng với phong trào công nhân đã tạo nên bước chuyển
biến về chất của phong trào từ trình độ tự phát lên tự giác.
Nhờ sự khái quát các thành tựu của khoa học tự nhiên và khoa học
xã hội mà triết học Mác lại trở thành thế giới quan khoa học và
phương pháp luận chung cần thiết cho sự phát triển tiếp tục của các
khoa học
Triết học Mác xít là cơ sở lý luận khoa học cho chiến lược và sách
khủng hoảng vật lý” có ý nghũa to lớn thúc đẩy sự phát triển tiếp
tục của khoa học tự nhiên từ thời đó cho đến ngày nay.
Những vấn đề triết học được Lênin tập trung nghiên cứu vào những
năm chiến tranh thế giới thứ nhất đã góp phần đáp ứng yêu cầu
nhận thức sâu sắc hơn giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa tư bản và
giải quyết những vấn đề cấp bách của thực tiễn cách mạng vô sản.
Lý luận về phép biện chứng, nhất là tư tưởng biện chứng trong triết
học Hêghen, được Lênin đặc biệt lưu ý khai thác “những hạt nhân
hợp lý” làm giàu thêm phép biện chứng duy vật, đặc biệt là lý luận
về sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.
Với tinh thần sáng tạo của tư duy biện chứng, Lênin đã có những
đóng góp quan trọng vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác về
triết học xã hội như vấn đề nhà nước, cách mạng bạo lực, chuyên
chính vô sản, lý luận về đảng kiểu mới. Luận điểm nổi bật của
Lênin là khẳng định khả năng thắng lợi của Chủ nghĩa xã hội ở một
số nước, thậm chí ở một nước riêng lẻ, dựa trên sự phân tích quy
luật phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản đã có ảnh hưởng to
lớn đối với phong trào cách mạng thế giới.
Khi lãnh đạo công cuộc xây dựng những cơ sở ban đầu của chủ
nghĩa xã hội, Lênin tiếp tục có những đóng góp quan trọng vào việc
phát triển chủ nghĩa Mác và triết học Mác. Thấm nhuần tính cách
mạng và sáng tạo của lý luận biện chứng mácxít, Lênin nêu tấm
gương sáng về thái độ khoa học và cách mạng, khi cần thiết, ông
chấp nhận “phải thay đổi một cách căn bản” quan niệm của mình
về chủ nghĩa xã hội, “làm lại” những công việc xây dựng chủ nghĩa
xã hội, không chấp nhận mọi thứ chủ nghĩa giáo điều hay bảo thủ
nào.
Chính vì những lẽ trên mà tên tuổi của Lênin được dùng để chỉ một giai