Chưưng V - Sản xuất - Chi phí - Lợi nhuận
CHƯƠNG V
SẢN XUẤT - CHI PHÍ - LỢI
nhuận
Các chương trước đã tập trung vào khía cạnh cầu
của thị trưòng dựa vào việc phân tích hành vi của
ngưòi tiêu dùng và chúng ta đã bỏ qua câu hỏi: các
hàng hoá. dich vụ đã được sản xuất ra như thê nào. Lý
thuvết lựa chọn tiêu dùng là cơ sở của cầu về hàng hoá
và dịch vụ. Chương này nghiên cứu khía cạnh cung,
hành vi của ngưòi sản xuất và các quyết định cung của
doanh nghiệp/ hãng. Lý thuyết sản xuất, chi phí là cơ
sở của đường cung.
Tuy nhiên cần lưu ý rằng chướng này không đi
sâu phân tích những đặc điểm kinh tế kỹ thuật, những
hình thức pháp lý của doanh nghiệp mà chỉ nghiên cứu
hành vi của họ về cách ra các quyết định sản xuất.
I. LÝ THUYẾT SẢN XưẤT
1. Các khái niệm
1.1. Sản xuất
Sản xuất là việc sử dụng các loại hàng hoá và địch
vụ khác nhau, gọi là các đầu vào hoặc các yếu tô' sản
xuất, để tạo ra hàng hoá dịch vụ mới, gọi là đầu ra (hay
sản phẩm). Nói ngắn gọn thì sản xuất là việc chuyển
hoá các đầu vào - yếu tô' sản xuất thành đầu ra là hàng
Sản phẩm bình
quân
(AP)
_
Số Iượng sản phẩm đầu ra
- Q L
Số’ lượng lao động đầu vào
Trong đó: - AP^: năng suất bình quân của lao động
- Q : Sản lượng đầu ra
- L : số lao động đầu vào
Chẳng hạn khi sử dụng 2 đơn vị lao động để sản
xuất ra 34 bộ quần áo thì năng suất bình quân của lao
đông sẽ là;
APl = Q/L = 34/2 = 17 bộ quần áo
Tương tự khi 50 bộ quần áo được sản xuất ra vói
sô" lao động đã được sử dụng là 5 đơn vị thì năng suất
bình quân của lao động là:
APl = Q/L = 50/5 = 10 bộ quần áo
2.2. Năng suất cận biên
Để nghiên cứu năng suất cận biên, chúng ta hãy
bỏ qua các yếu tô sản xuất khác (chẳng hạn coi máy
móc, thiết bị... là cố định) và chỉ xem xét mối quan hệ
giữa lao động và sản lượng hàng hoá sản xuất ra. Theo
biểu trên ta thấy, sản lượng tăng lên 15 bộ quần áo khi
năng của riêng họ. Tuy nhiên nếu cứ gia tăng mãi lao
động thì điều gì xảy ra vối sản phẩm cận biên MP?
2.3. Quy luật năng suất cận biên giảm dần
Đốĩ với hầu hết các quá trình sản xuất, sản phẩm
cận biên của lao động giảm dần ở một thời điểm nhất
định (và điều này cũng đúng với sản phẩm cận biên
của các đầu vào khác). Quy luật năng suất cận biên
giảm dần phát biểu rằng: năng suất cận biên của một
đầu vào biến đổi sẽ giảm dần khi sử dụng ngày càng
nhiều hơn đầu vào đó trong quá trình sản xuất (vói
điều kiện giữ nguyên lượng sử dụng các đầu vào cố
định khác). Lý do là vì khi càng nhiều đơn vị đầu vào
biến đổi chẳng hạn lao động được sử dụng thì sẽ không
có các yếu tô’ cố định như vốn, đất đai, nhà xưởng,
không gian... để kết hợp với lao động trong quá trình
sản xuất đó. Thực tế đúng như vậy, nếu các yếu tô" đầu
vào khác cố định, mà sô" lao động sử dụng càng tăng lên
thì thời gian chò đợi, thời gian "chết" sẽ nhiều hơn và
do đó sô" sản phẩm cận biên của lao động sẽ giảm đi.
Điều này xảy ra vì việc đưa thêm một đơn vỊ lao động
nữa vào dây chuyền sẽ làm cản trỏ việc sản xuất (5
người có thể vận hành một dây chuyền sản xuất tô"c
hơn 2 người, nhúng đến 10 người thì chỉ làm vưóng
chân nhau) do đơn vị lao động bổ sung ấy phải chia sẻ
các đầu vào vào cố định với các đđn vị lao động trước đó
để kết hỢp tạo ra sản phẩm và nếu tiếp tục táng thêm
lao động có thể sẽ làm giảm tổng sản lượng, cũng có
nghĩa là năng suất cận biên của lao động là âm.
biên
phí
(MC)
phí
biến
đổi
vc
Chi phí
Tổng
biến đổi
chi phí
binh
bình
quàn
quân
AVC
120
0
120
-
-
-
-
I
10
120
85
205
8,5
12
8.5
5
6
7.5
13.5
ỉ. 30
120
240
360
9
4
8
12
M 40
120
350
phí bình quân ta thấy: tại mức sản lượng thấp (15 bộ
quần áo mỗi ngày) chi phí cố định bình quân (AFC) khá
cao; 8.000 đồng, gần bằng 1/2 tổng chi phí bình quân.
Rõ ràng là muôn giảm chi phí sản xuất bình quân,
ngưòi ta phải sử dụng triệt để nhà máy và thiết bị. Khi
mức sản lượng tăng lên 20 bộ, chi phí cô" định bình
quân giảm xuốhg còn 6.000 đồng và khi sản lượng tăng
từ 15 lên 20 bộ quần áo) chì chi phí cổ định oinh quán
(AFC) cũng giảm (từ 8.330 xuống 7.500).
Chi phí nguyên liệu (vải) không giảm song chi phí
về lao động giảm đo năng suất của người thợ thứ hai
cao hơn. Nếu mức sản lượng tăng (từ 15 lên 20 bộ quần
áo trẻ em) thì chi phí cố định bình quân (AFC) tất yếu
giảm theo vì tử sô" 120 không đổi, mẫu số tăng do sản
lượng tăng.
Tuy nhiên, ở đây cận nhấn mạnh một vấn đê' có
tính quy luật. Đó là do quy luật năng suất cận biên
giảm dần (đã trình bày ở trên) nên chi phí biến đổi
bình quân (AVC) có xu hướng tăng lên khi doanh
nghiệp tăng sản lượng. Tại mức lượng 20 bộ quần áo
thì AVC là 7500 đồng còn tại mức sản lượng 30 bộ quần
áo, AVC tăng lên là 8.000 đồng. Thậm chí khi sản
lượng đạt tới 50 bộ thì AVC sẽ lên tới ll.ooođ.
Hinh 5A: C ác chi p h í bình quáit.
Qua nghiên cứu hình 5.4, ta còn phát hiện một
Thay đổi của tổng chi phí
ATC
Thay đổi của tổng sản lượng
AQ
Trong ví dụ của chúng ta thì đó là các chi phí tăng'
thêm để làm táng sản lượng lên 1 bộ quần áo trẻ em
mỗi ngày. Chẳng hạn tổng chi phí tăng lên khi doanh
nghiệp quyết định tăng sản lượng từ 15 lên 16 bộ mỗi
ngày là chi phí cận biên (chi phí để sản xuất thêm 1
đơn vị sản phẩm).
Tuy nhiên chúng ta thấy rằng để sản xuất thêm
một sản phẩm doanh nghiệp sẽ chỉ phải bỏ thêm các
khoản chi phí biến đổi còn chi phí cố định vẫn không
thay đổi. Nghĩa là chi phí cận biên (MC) không phụ
thuộc vào chi phí cố định (FC). Nói chung chi phí cận
biên có dạng hình chữ u , song trong một số trưòng hỢp
nhất định nó cũng có thể có hình dạng bậc thang hoặc
liên tục tăng dần, chẳng hạn khi cần nhanh chóng tăng
sản lượng doanh nghiệp phải huy động vào sản xuất cả
những máy móc, thiết bị kém hoàn hảo, kỹ thuật lạc
hậu khi ấy chi phí sản xuất sẽ cao.
Về mốì quan hệ giữa chi phí cận biên và chi phí
bình quân dễ thấy cũng tương tự như năng suất cận
biên và năng suất bình quân. Chừng nào chi phí cận