Rèn luyện kĩ năng tư duy logic và tạo lập văn bản của học sinh bằng các dạng đề văn mở - Pdf 32

Tên đề tài:

Rèn luyện kĩ năng tư duy logic và tạo lập văn bản của
học sinh bằng các dạng đề văn mở
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xã hội hiện nay, khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, khối
lượng kiến thức của nhân loại càng gia tăng cùng đó là giao lưu trao đổi đã
thành nhu cầu tất yếu thì yêu cầu có tư duy logic và khả năng giao tiếp hiệu
quả bằng văn bản nói viết là một xu thế làm việc phát triển và hiệu quả trong
mọi lĩnh vực hoạt động.
Không môn nào rèn luyện kĩ năng tư duy logic và tạo lập văn bản của
học sinh tốt bằng môn Ngữ văn. Học Văn là học về ngôn ngữ, tiếng nói, văn
chương của Tiếng Việt. Thông qua đó, ta học cách để nói, viết, để xây dựng
văn bản giao tiếp sao cho phù hợp với cấu trúc ngữ pháp cũng như văn hoá
Tiếng Việt. Học văn tốt, vốn từ của bản thân cũng dần trôi chảy, linh hoạt,
diễn đạt vấn đề khi học các môn tự nhiên cũng theo đó mà được cải thiện.
Nó sẽ giúp ta sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện thuận lợi trong
học tập cũng như trong sinh hoạt, làm việc. Năng lực viết văn ngày càng cần
thiết cho cuộc sống của mỗi con người. Bởi trên thực tế, ngành nào, lĩnh vực
nào cũng đòi hỏi người đọc thông viết thạo, hay từ các văn bản thủ tục hành
chính đến lĩnh vực kinh tế, chính trị xã hội, bài luận tốt nghiệp. Đó chính là
điều kiện để rèn luyện kĩ năng giao tiếp ứng xử. Hơn nữa, làm đề Văn còn là
cách rèn luyện tư duy logic. Việc lập dàn ý, bố cục bài viết rõ ràng, mạch lạc
chính là thể hiện tư duy logic trong sắp xếp ý tốt. Việc diễn đạt đúng ngữ
pháp làm người khác dễ hiểu thể hiện tư duy logic trong diễn đạt của người
1


viết. Ngay cả việc tưởng không liên quan như cảm nhận một tác phẩm văn
học cũng đòi hỏi kĩ năng phân tích chặt chẽ bên cạnh cảm nhận riêng.

toàn quốc và khuyến khích HS viết, tư duy theo suy nghĩ riêng của mình.
Rõ ràng nó có một vị trí tối quan trọng đối với việc rèn kĩ năng cho HS nói
riêng và đổi mới dạy học Văn nói chung. Chính vì lẽ đó mà nhiều bài viết
đã nhắc tới đề Văn mở. Song nó xuất hiện rãi rác trên các báo, tạp chí, chưa
được tập hợp thành sách.
a. Hệ thống những bài viết trực tiếp nói về đề Văn mở
GS Đỗ Ngọc Thống có viết bộ sách “Hệ thống đề mở Ngữ văn” dành
cho cả lớp 10, 11, 12; NXB Giáo dục, Hà Nội. Đây là cuốn sách đầu tiên
và có lẽ hiện giờ là duy nhất đề cập trực tiếp tới đề Văn mở. GS rất tha
thiết với việc đổi mới kiểm tra Ngữ văn và muốn đưa ra một hệ thống đề
khác phát huy được trí tuệ HS. Trong bộ sách, chúng ta học hỏi được
nhiều trong ra đề, đáp án mở. Chúng ta vô cùng biết ơn GS trong việc đi
tiên phong này. Tuy nhiên, hệ thống đề trong cuốn sách vẫn dừng lại
nhiều ở các đề SGK. Có một số đề tham khảo khác lại quá xa lạ và khó
với HS. Nếu chỉnh lí lần sau, hi vong cuốn sách sẽ có bộ đề phong phú
hơn.
Trong trang Văn học và học Văn vào tháng 2/2014, GS Trần Đình Sử đã
từng nói tới vấn đề này. GS khẳng định đề mở là một hướng tiến bộ
trong dạy học làm văn, những vẫn đang là một vấn đề mới, chưa
được nghiên cứu sâu, còn có những khía cạnh chưa rõ, phải qua
thực tiễn thì mới nhìn thấy hết được. Vấn đề này đòi hỏi các giáo
viên nghiên cứu, suy nghĩ, nhìn thấy chỗ mạnh, chỗ khó, thậm chí
chỗ yếu của nó, nghiên cứu phương pháp dạy học phù hợp thì
phương hướng này mới phát huy được tác dụng tích cực của nó. GS
đã đưa ra khái niệm và nêu ví dụ cụ thể về dạng đề này.
3


Trên nhiều trang web, sau khi bộ Giáo dục đổi mới đề thi THPT,
hàng loạt các bài hướng dẫn làm đề mở xuất hiện. Ở trung tâm

Trong cuốn sách, các GS đã trình bày được những điều cơ bản nhất về việc
đổi mới kiểm tra đề thay đổi chất lượng giáo dục.
Cuốn thứ 2 là “Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại” của
Thái Duy Tuyên (1998), NXB GD. Cuốn sách đã khai mở một số hướng đổi
mới giáo dục, tuy nhiên nó chung chung cho tất cả môn học.
Cuốn tiếp theo là “Câu hỏi và bài tập ôn luyện kiến thức THPT môn
Ngữ văn” do Nguyễn Duy Kha chủ biên (2009), NXBGD. Cuốn sách gồm
các đề thi Văn từ lớp 10 tới 12, gồm cả đề kiểm tra 15p cho tới thi đại học.
Trong đó, tôi có thể so sánh những câu hỏi – đáp án mở với câu hỏi thường.
Đây là nguồn tư liệu bổ sung cho việc làm đề Văn mở.
Cuốn thứ 4 của Đỗ Ngọc Thống (cb) xuất bản năm 2005 với tiêu đề
“Luyện tập và kiểm tra Ngữ văn ở THCS”, NXB Giáo dục. Cuốn sách đưa
ra các dạng đề luyện tập kiểm tra Ngữ văn. Các câu hỏi đều bám sát chương
trình, đưa ra đáp án rõ ràng. Hầu hết HS THCS đều có cuốn sách này để
phục vụ thi cử. Tuy vây, cuốn sách chỉ gói gọn trong kiến thức cơ bản, để
mở ít; hơn nữa đây chỉ là cuốn sách ở THCS.
Với những bài viết trên, phần đa các tác giả - dù ít dù nhiều đều đề cập
đến đề Văn mở nói chung chứ cũng chưa có bài nào nói cụ thể về tác dụng
của đề mở với rèn tư duy kĩ năng tạo lập văn bản cho HS. Theo tư liệu
chúng tôi có được thì những bài nghiên cứu trên đều dừng lại khảo sát ở
một vài đề, một vài luận điểm nhỏ lẻ chứ chưa nghiên cứu một cách thấu
triệt và có tính hệ thống. Tuy nhiên, tất cả những bài viết ấy là những gợi
mở quý giá giúp ích cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Bản thân chúng tôi nhận thấy rằng, đề Văn mở là đề tài kích thích và
gây hứng thú tìm tòi, khám phá. Vì vậy, khi chọn đề tài này, chúng tôi cố
5


gắng lĩnh hội các quan điểm, ý tưởng từ các bài viết của các tác giả đã đề
cập, đồng thời mạnh dạn đưa ra những ý kiến riêng để có một cách nhìn hệ

niệm, các biểu hiện của tư duy logic. Cuốn sách hữu ích trong việc chỉ ra lí
thuyết của luận văn. Trong đó, tác giả khẳng định: không nên nhầm tư duy
thông thường với tu duy logic. Tu duy logic là nhìn nhận mọi thứ trong mối
quan hệ hữu cơ. Từ đây, ta có thể hình dung tư duy logic của HS trong môn
Ngữ văn chính là sắp xếp các ý định viết có mối liên hệ với nhau, có hệ
thống ý nhỏ, ý lớn đồng thời văn viết phải có sự liên kết. Ngoài cuốn trên,
còn nhiều bài viết của các tác giả trên các trang Hieuhoc.com, Violet.vn,…
hướng dẫn cho ta về việc luyện rèn tư duy logic. Tôi thấy tham khảo những
bài viết như vậy rất hữu ích. Tuy nhiên, chúng ta cần biết chắt lọc các ý phù
hợp với bản thân.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận việc rèn luyện kĩ năng tư duy logic và tạo lập văn
bản của học sinh bằng các dạng đề văn mở và điều tra thực trạng để từ đó
tiến hành thực nghiệm việc áp dụng đề mở nhằm rèn luyện kĩ năng tư duy
logic và tạo lập văn bản của học sinh THPT một cách hiệu quả nhất. Trên cơ
sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả học tập với hình
thức ra đề mở môn Văn của học sinh.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu: Rèn luyện kĩ năng tư duy logic và
tạo lập văn bản của học sinh bằng các dạng đề văn mở
b. Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 12 và 10 trường
THPT Bán Công Vĩnh Long, TP Vĩnh Long.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
a. Nghiên cứu cơ sở lý luận về rèn luyện kĩ năng tư duy logic và tạo
lập văn bản của học sinh bằng các dạng đề văn mở
7


b. Khảo sát thực trạng rèn luyện kĩ năng tư duy logic và tạo lập văn
bản của học sinh bằng các dạng đề văn mở thông qua hai lớp 12 và 10 ở

Nghiên cứu sản phẩm (bài làm) của HS.
- Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến các GV, các nhà khoa học trong suốt quá trình nghiên
cứu đề tài.
c. Phương pháp thống kê toán học.
Phương pháp thống kê toán học được sử dụng để so sánh, tính
toán, xử lý, phân tích số liệu thu được trong qúa trình nghiên cứu.

8. Đóng góp của luận văn
- Luận văn là một công trình nghiên cứu có hệ thống về đề Văn
mở. Từ đó, nó cho thấy tầm quan trọng của đề Văn mở với việc
rèn tư duy logic và kĩ năng tạo lập văn bản cho HS.
- Nó đóng vai trò quan trọng, không thể vắng mặt trong việc đổi
mới dạy học Văn. Nó là tài liệu tham khảo cần thiết phục vụ cho
việc giảng dạy văn học trong các trường trung học. Đồng thời,
thông qua việc nghiên cứu này, ta sẽ hiểu tạo được nền để HS áp
dụng được các kĩ năng từ môn Văn vào môn học khác và ngoài
đời.
- Ngoài ra công trình chúng tôi còn có thể là một định hướng, một
gợi mở đối với việc tìm hiểu và nghiên cứu về đề Văn mở trong
việc nâng cao nhận thức, hiểu biết của HS và các cách thức để
tạo đề Văn mở.

9


9. Cấu trúc đề tài
Đề tài có kết cấu gồm các phần: Phần mở đầu, chương 1, chương 2, chương
3, kết luận. Nội dung chính tập trung trong ba chương là:
Chương 1: Những vấn đề chung về khái niệm

đều diễn ra trong bộ não hay thần kinh trung ương. Chúng không diễn ra
trong mắt hay trong tim. Chúng là một hoạt động của hệ thần kinh. Hay tư
duy là một hoạt động của hệ thần kinh.
Ta có thể so sánh ghi nhớ, phản xạ đơn thuần và tư duy logic. Ghi
nhớ, phản xạ là tác động lặp lại nhiều lần không đòi hỏi hệ thần kinh phải tư
11


duy và áp dụng được cho nhiều dạng hệ thần kinh khác nhau. Còn tư duy
logic chỉ có một số hệ thần kinh thực hiện được, hệ thần kinh phải thực hiện
nhiều các thao tác như phân tích, so sánh, đánh giá, tổng hợp. Ví dụ: cánh
tay co lại khi ngón tay vô tình chạm vào cốc nước nóng là phản xạ không
điều kiện, nó không đòi hỏi phải tư duy và tư duy còn có thể có phản tác
dụng trong trường hợp này (làm chậm sự phản xạ). Việc chọn lựa giữa sút
bóng thẳng vào cầu môn hay chuyển cho đồng đội như ví dụ trên đây đã
quyết định cách thức hành động của cầu thủ, có nghĩa là cần có tư duy, tư
duy trước khi hành động. Sự định hướng của tư duy không phân biệt tính
đơn giản hay phức tạp của đối tượng. Có việc đơn giản cũng đòi hỏi phải tư
duy như ví dụ về chọn lựa giữa sút và chuyền bóng trên đây. Nhưng cũng có
những việc rất phức tạp như quản lý tài chính của một đơn vị kinh tế, mặc
dù người thực hiện phải hao tổn trí óc nhưng cũng không được coi là có tư
duy khi mọi công việc đều thực hiện theo những thủ tục, những quy trình,
những văn bản pháp quy, những mẫu biểu, công thức, những quy định cho
trước.
Tư duy logic cần có những điều kiện cơ bản như sau:
Hệ thần kinh phải có năng lực tư duy. Đây là điều kiện tiên quyết,
điều kiện về bản thể. Thiếu điều kiện này thì không có tư duy nào được thực
hiện.
Hệ thần kinh đã được tiếp nhận kinh nghiệm, tiếp nhận tri thức. Đây là
điều kiện qua trọng. Không có kinh nghiệm, không có tri thức thì các quá

một sự vật ta sẽ có cảm giác về sư vật ấy. Đó mới là nhận thức chưa có tư
duy. Chỉ khi suy xét, so sánh, ta mới có nhận thức lí tính về nó. Đó là nhận
thức có tư duy. Nó sẽ đúng đắn, chính xác, đầy đủ hơn. Nhận thức lý tính
giúp cho sự hiểu biết và ghi nhớ về đối tượng nhiều hơn những cái mà đối
tượng cung cấp cho sự ghi nhớ của hệ thần kinh, đối tượng được hiểu sâu
13


hơn, được xem xét, đánh giá toàn diện hơn và kỹ càng hơn, được nhận thức
đúng đắn hơn. Tư duy logic bổ sung những cái còn thiếu trong quá trình hệ
thần kinh ghi nhớ về đối tượng.
Vai trò thứ hai của tư duy logic là giúp hệ thần kinh định hướng
điều khiển hành vi đáp ứng sự tác động của đối tượng nếu cần thiết hoặc có
yêu cầu. Tư duy thực hiện việc này bằng cách kết hợp giữa nhận thức về đối
tượng với hoàn cảnh hiện tại để đề ra phương thức phản ứng hoặc hành vi.
Việc này bao hàm cả sự vận dụng tri thức vào điều kiện thực tế. Yêu cầu của
những công việc phức tạp này là người thực hiện phải rèn luyện được kỹ
năng làm việc thành thạo. Và để có được kỹ năng này thì họ phải học thuộc
lòng và rèn luyện chu đáo và có thể họ phải sử dụng tư duy để nắm chắc
được các yêu cầu thực hiện công việc. Khi kỹ năng làm việc chưa thành thục
thì có thể phải có tư duy, nhưng khi kỹ năng làm việc đã thành thục thì
không cần tư duy nữa. Tư duy định hướng đến sự thành thục. Khi sự thành
thục đã có thì tư duy kết thúc.
Nhiều người đã thành công nhờ có tư duy logic. Thái Anh Thư, người
từng là thủ khoa ngành Quan hệ quốc tế, trường Đại học Đông Đô, được ghi
danh sổ vàng Thủ khoa thành phố Hà Nội cho rằng có những điều thầy cô
giảng là kinh nghiệm tích lũy, đúc kết được từ thực tiễn mà không có sách
vở nào nêu rõ được. Thư học theo phương pháp tư duy logic là chính vì theo
cô học theo cách sắp xếp hợp lí các nội dung cần học rồi tổng kết, đánh giá
lại là điều cần thiết giúp không chỉ nhớ được vấn đề mà còn hiểu được sâu

hoạt động không cần sự củng cố bắt buộc bằng luyện tập từ trước. Theo các
tác giả này thì chỉ cần nắm vững phương thức hành động là con người có
được kỹ năng, còn hoạt động có kết quả hay không, việc thực hiện hành
động có liên quan gì đến mục đích cũng như các điều kiện thực hiện mục
đích thì lại chưa nói rõ.
15


Từ điển của tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên, tác giả đã có một cách
hiểu khác về Kỹ năng: “Năng lực vận dụng có kết quả có tri thức hành động
đã được chủ thể lĩnh hội thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [ ]. Có nghĩa
kỹ năng hình thành qua luyện tập, kỹ năng là một trong những năng lực mà
cá nhân có thể rèn luyện và hình thành phát triển qua quá trình học tập thực
tiễn.
Từ các quan niệm trên, tôi đi đến kết luận: Kỹ năng là năng lực hay khả
năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động nào đó
bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có, kết hợp với
thao tác tư duy, năng lực hành động của cá nhân trong những điều kiện tâm
lý nhất định nhằm tạo ra kết quả mong đợi.
Kỹ năng gồm kỹ năng mềm và kỹ năng cứng:
Kỹ năng mềm là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng quan trọng trong
cuộc sống con người như: kỹ năng sống, giao tiếp, lãnh đạo, làm việc theo
nhóm, kỹ năng quản lý thời gian, thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo
và đổi mới...
Kỹ năng cứng thường được hiểu là những kiến thức, đúc kết và thực hành có
tính chất nghề nghiệp. Kỹ năng cứng được cung cấp thông qua các môn học
đào tạo chính khóa, có liên kết logic chặt chẽ, và xây dựng tuần tự. Thời
gian để có được kỹ năng cứng thường rất dài, hàng chục năm, bắt đầu từ
những kiến thức-kỹ năng cơ bản ở nhà trường phổ thông và những kiến thức
kỹ năng này được phát triển dần lên các mức độ cao hơn, thông qua giảng

- Chúng ta sẽ gọi cái khách thể của xuyên ngôn ngữ học (translinguistique)
là diễn ngôn (discourse) tương tự với văn bản (texte) do ngôn ngữ học
nghiên cứu, và chúng ta sẽ định nghĩa nó (hãy còn sơ bộ) như là một đoạn
lời nói hữu tận bất kỳ, tạo thành một thể thống nhất xét từ quan điểm nội
dung, được truyền đạt cùng với những mục đích giao tiếp thứ cấp và có một
17


tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích này, vả lại đoạn lời này gắn bó
với những nhân tố văn hóa khác nữa, ngoài những nhân tố có quan hệ đến
bản thân ngôn ngữ (Barthe, 1970).
- Văn bản là một chuỗi ngôn ngữ lý giải được ở mặt hình thức, bên ngoài
ngữ cảnh. Diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là trọn nghĩa,
được hợp nhất lại và có mục đích (Cook, 1989).
- Diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói)
lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể, có tính mạch lạc, kiểu như
một bài thuyết giáo, tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể (Crystal, 1992).
- Văn bản là một chỉnh thể của một sản phẩm viết để diễn đạt trọn vẹn ý kiến
về một vấn đề hoặc một hệ thong vấn đề. Ngôn bản là chỉnh thể một sản
phẩm – nói để diễn đạt trọn vẹn ý kiến về một vấn đề hoặc một hệ thống vấn
đề.
- Văn bản/ngôn bản là loại lời lớn nhất (Hồ Lê, 1996).
Xét trong đề tài luận văn này, khái niệm văn bản được đặt trong mối
quan hệ với chương trình học phổ thông. Có nghĩa, hiểu một cách gần gũi
nhất, đó là các bài văn học sinh làm theo các thể loại khác nhau. Có thể đó là
bài văn miêu tả, tự sự, có thể đó là bài nghị luận hoặc một bài thuyết minh,
một lá đơn, tường trình,…Những văn bản mang tính nghệ thuật như thơ,
truyện ít xuất hiện bởi nó mang tính năng khiếu thiên bẩm, chỉ học sinh có
năng khiếu văn chương thực sự mới làm được, còn lại đa số các em làm bài
cảm nhận tác phẩm văn học. Nếu có sáng tác thì chỉ dừng lại tả kể sự vật,

xoay quanh những câu hỏi sau:
• Viết cho ai? : Câu hỏi này giúp cho người tạo lập văn bản xác định được
đối tượng giao tiếp cần hướ ng tới.
• Viết để làm gì? : Câu hỏi này giúp cho người tạo lập văn bản xác định
được
19


mục đích của việc tạo lập văn bản
• Viết về cái gì? : Câu hỏi này giúp cho người tạo lập văn bản xác định được
đề
tài, nội dung cụ thể của văn bản.
• Viết như thế nào? : Câu hỏi này giúp cho người tạo lập văn bản xác định
được cách thức tạo lập.
- Xây dựng bố cục văn bản
Ta tiến hành thiết lập hệ thống các ý, sắp xếp chúng theo bố cục hợp lí,
đảm bảo liên kết nội dung, mạch lạc văn bản. Điều quan trọng nhất của văn
bản là luận điểm, luận cứ và lập luận. Ta cần rèn kĩ năng hình thành luận
điểm, sắp xếp luận cứ làm rõ luận điểm, lập luận chặt chẽ cho bài viết và kỹ
năng sử dụng các thao tác nghị luận: giải thích, chứng minh, bình luận, phân
tích sao cho nhuần nhuyễn. Yêu cầu về hình thức được đặt lên cao. Người
viết phải diễn đạt trong sáng, hấp dẫn; không sai diễn đạt, chính tả, không
mắc lỗi trình bày,…
Dàn bài chung của bài văn thường theo trình tự sau:
1.Mở bài :Giới thiệu vấn đề và nêu nhận xét, đánh giá sơ bộ của mình.
2.Thân bài:Trình bày những suy nghĩ đánh giá về vấn đề (lần lượt nêu các
luận điểm, phân tích, chứng minh,…)
3. Kết bài: Nhận định khái quát giá trị, ý nghĩa của vấn đề
- Viết thành văn bản hoàn chỉnh
Sau đó, người viết dùng ngôn ngữ của mình, kèm các phương tiên liên kết

văn, Văn học, Tiếng Việt để chuẩn bị tốt cho việc thực hành tổng hợp này.
1.3. Đề Văn mở
1.3.1 Thế nào là đề Văn mở?
1.3.1.1 Khái niệm
21


Ngữ văn là môn học có nhiều nét vừa của môn khoa học vừa của môn
nghệ thuật. Nó cũng có tính hệ thống logic song lại không thể rập khuôn. Đề
Văn mở thể hiện tính đặc thù của môn Văn. Dạng đề Văn mở đã xuất hiện
ngày càng nhiều trong các tiết kiểm tra môn Ngữ văn ở các cấp học, nhất
là bậc THCS và THPT. Đặc biệt, đề Văn mở đã “góp mặt” trong những kỳ
thi quan trọng như: Thi tuyển vào lớp 10, Thi tốt nghiệp THPT, Thi tuyển
sinh và ĐH, CĐ. Hiện nay, tạp chí “Văn học và Tuổi trẻ” của Nhà xuất bản
Giáo dục cũng đang tổ chức cuộc thi Ra đề thi mở trong môn Ngữ văn. Điều
đó chứng tỏ mức độ phổ biến và tính thực tiễn của dạng đề mở trong bộ môn
Ngữ văn ở trường phổ thông ngày càng rộng rãi.Việc cải tiến, đổi mới trong
đề Văn trên sẽ có tác động đáng kể tới phương pháp dạy - học của giáo viên
và học sinh.
Vậy đề Văn mở là gì? Đây là đề Văn ra yêu cầu về phạm vi kiến thức, ý
kiến trình bày cho tới hình thức trình bày với người đọc không chặt chẽ, rập
khuôn. Người viết có thể tự sáng tạo, nêu suy nghĩ của riêng mình. Kiến
thức trình bày có thể lấy ở cả tự nhiên, xã hội, văn học nghệ thuật và bản
thân. Ngay cả kiến thức văn học vẫn có thể trình bày cách cảm nhận riêng
chưa có từ trước tới nay, không nhất thiết phải giống với tài liệu ở trường
lớp. Yêu cầu đề cũng có sự thay đổi. Khác với dạng đề “truyền thống”
thường kèm theo những “mệnh lệnh”, gợi dẫn về thao tác lập luận như:
“Hãy chứng minh…”, “Hãy phân tích…”, “Hãy giải thích…”, “Hãy bình
luận”…; hoặc phương thức biểu đạt như: “Hãy phát biểu cảm nghĩ”…, “Hãy
kể …”, Đề mở là loại đề chỉ nêu vấn đề cần bàn luận trong bài. Chẳng hạn

Đề 4. Lấy đôi vai làm chủ đề để viết một bài văn 800 chữ. (Đề thi của tỉnh
Liêu Ninh)
Một số đề thi của toàn Trung Quốc so với đề của các tỉnh

23


Đề 1. Đề toàn Trung Quốc
Hiện nay, lượng người đọc sách ở Trung Quốc ngày một giảm: năm
1999 là 60%, 2001 là 52%. Nguyên nhân đọc ít: người đứng tuổi nói không
có thời gian, thanh niên nói không có thói quen, có người còn nói đọc sách
không "vào" nổi. Ngược lại, số người đọc trên mạng ngày một tăng: năm
1999 là 3,7%, năm 2003 là 18,3%. Hãy trình bày một cách nhìn của bạn về
vấn đề trên, số chữ 800
Đề 2. Đề của thành phố Bắc Kinh
Có rất nhiều nét văn hóa đặc trưng trở thành biểu tượng của các thành
phố. Cố Cung, nhà quây bốn hướng là biểu tượng của Bắc Kinh; trò tạp kĩ
trên Thiên Kiều, tiếng rao trong ngõ nhỏ là biểu tượng của Bắc Kinh; thư
họa của Lưu Li Xưởng, văn chương Lão Xá là biểu tượng của Bắc Kinh;
buôn bán trên đường Vương Phủ Tỉnh, vườn Khoa học ở thôn Quan Trung
là biểu tượng Bắc Kinh... Cứ mỗi thời, Bắc Kinh lại thêm những biểu tượng
mới. Gìn giữ biểu tượng cũ, sáng tạo biểu tượng mới luôn là ước muốn của
người Bắc Kinh.
Theo cách nhìn và cảm nhận của bản thân, hãy viết một đoạn văn với
đầu đề là "Biểu tượng Bắc Kinh" Trừ thơ ca, không hạn chế thể loại, số chữ
trên 800.
Đề 3. Đề của tỉnh Quảng Đông
Nhà điêu khắc gọt từng nhát trên khối đá lớn. Dần dần, đầu, vai, và một
thiên thần tuyệt đẹp hiện ra. Một cô bé thấy vậy bèn hỏi: Sao ông biết có
thiên thần trong khối đá? Nhà điêu khắc đáp: Thiên thần không ở trong khối

ca, không hạn chế thể loại.
Một số đề văn của Mĩ
Đề 1. Tổng thống Mĩ Barack Obama và Bill Clinton.
Đề 3. Có phải con người trở nên phụ thuộc vào công nghệ?
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status