TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
------
NGUYỄN THỊ ÚT
DH8CT
TÌM HIỂU PHONG TRÀO XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA
Ở XÃ AN NÔNG, HUYỆN TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG TỪ
NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Khóa học: 2007-2011
An Giang, 2011
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
------
NGUYỄN THỊ ÚT
DH8CT
TÌM HIỂU PHONG TRÀO XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA
Ở XÃ AN NÔNG, HUYỆN TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG TỪ
NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VÀ QUAN
ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ GIA ĐÌNH VÀ XÂY
DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA.........................................................................6
1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về gia đình và việc xây dựng
gia đình ...............................................................................................................6
1.1.1. Các quan điểm khác nhau về gia đình ..............................................6
1.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về gia đình và xây dựng gia
đình…..................................................................................................................8
1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về
gia đình và xây dựng gia đình văn hóa ở Việt Nam .....................................14
1.2.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về
xây dựng gia đình văn hóa ở nước ta hiện nay .................................................14
1.2.1.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng gia đình văn hóa....14
1.2.1.2. Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính
sách của Nhà nước về xây dựng gia đình văn hóa ở nước ta hiện nay .............17
1.2.2. Vai trò của gia đình và việc xây dựng gia đình văn hóa trong xã hội
hiện nay..............................................................................................................21
1.2.3. Thực trạng của việc xây dựng gia đình văn hóa ở Việt Nam hiện nay24
CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU PHONG TRÀO XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN
HÓA Ở XÃ AN NÔNG, HUYỆN TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG TỪ
NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 ...........................................................................31
2.1. Sơ lược về vị trí địa lý, tình hình kinh tế-xã hội ở xã An Nông, huyện
Tịnh Biên, tỉnh An Giang.................................................................................31
2.1.1. Vài nét về vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên của xã An Nông,
huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang .......................................................................31
2.1.2. Tình hình kinh tế-xã hội của xã An Nông, huyện Tịnh Biên, tỉnh
An Giang từ năm 2006 đến năm 2010 ..............................................................32
2.3.2.3. Tăng cường công tác truyền thông, giáo dục về ý nghĩa và nội
dung của phong trào xây dựng gia đình văn hóa đến từng cá nhân và cộng
đồng…...............................................................................................................55
2.3.2.4. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trong
việc đề ra những chủ trương chính sách về công tác gia đình nhằm đưa hoạt
động của phong trào ngày càng hiệu quả hơn...................................................56
2.3.2.5. Xây dựng, củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống dịch vụ gia
đình và cộng đồng; tạo điều kiện cho mọi gia đình tiếp cận được kiến thức
pháp luật, văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học kỹ thuật và phúc lợi xã hội .........57
PHẦN KẾT LUẬN..........................................................................................59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................61
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm
SVTH: Nguyễn Thị Út
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi duy trì nòi giống, là môi trường
quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn
và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo
nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hòa thuận, hạnh phúc và tiến bộ
là cơ sở, là nguồn lực để phát triển xã hội; xây dựng gia đình văn hóa vừa là
mục tiêu, vừa có tính chiến lược, vừa có tính cấp bách trong sự nghiệp xây
dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, phù hợp với truyền thống đạo lý của dân
tộc và phù hợp với quy luật phát triển của xã hội. Vì vậy Đảng và Nhà nước ta
cho đất nước trên cơ sở đoàn kết xây dựng đạo đức, lối sống, đời sống văn hóa
lành mạnh, chống lại cuộc xâm lăng văn hóa độc hại, đẩy lùi các tệ nạn xã hội
đang có chiều hướng gia tăng ở nước ta hiện nay. Chúng ta tiến hành xây dựng
gia đình văn hóa, là xây dựng gia đình Việt Nam hiện đại trong thời kỳ hội
nhập, song vẫn gìn giữ những yếu tố tích cực của gia đình truyền thống, phù
hợp và đáp ứng yêu cầu của phát triển trong thời kỳ mới để gia đình thực sự là
tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người, mang lại hạnh phúc và
bình yên cho mỗi cá nhân.
Trong những năm qua, phát huy nét đẹp truyền thống của gia đình Việt
Nam, phong trào xây dựng gia đình văn hóa được triển khai trên phạm vi toàn
quốc đã đóng góp tích cực vào phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở,
tạo nền tảng tốt đẹp cho sự phát triển bền vững của gia đình Việt Nam. Trên
cơ sở các tiêu chí gia đình văn hóa theo Quy chế của Bộ Văn hóa-Thông tin,
các địa phương đã chỉ đạo và tiến hành tốt việc tuyên truyền phổ biến tiêu
chuẩn công nhận gia đình văn hóa, có điều chỉnh nội dung tiêu chí phù hợp
với điều kiện từng vùng, miền. Ngành Văn hóa-Thông tin và Mặt trận Tổ quốc
các cấp đã chỉ đạo bình xét công nhận gia đình văn hóa công khai, dân chủ bảo
đảm nội dung, tiêu chí đã được quy định nên chất lượng phong trào xây dựng
gia đình văn hóa ngày càng nâng lên cả về số lượng và chất lượng.
Trong báo cáo Chính trị tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang
lần thứ VIII, nhiệm kì 2005-2010 đã nhấn mạnh một trong những giải pháp
chủ yếu để phát triển văn hóa trở thành nền tảng tinh thần xã hội, đó là: “Xây
dựng môi trường xã hội lành mạnh, nếp sống văn minh, gia đình văn hóa và có
lối sống hòa thuận với cộng đồng”, và để làm được điều đó cần phải: “Đa dạng
hóa các hình thức vận động để lôi cuốn mọi người tham gia và nâng chất
lượng phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” một cách
thiết thực chống hình thức. Trong đó chú ý văn hóa gia đình là hạt nhân, nền
tảng làm chuyển đổi đời sống văn hóa của cộng đồng”.
Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự phối hợp giữa các cấp, các
ngành, phong trào xây dựng gia đình văn hóa ở xã An Nông, huyện Tịnh Biên,
Tịnh Biên, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến năm 2010”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
2.1. Mục đích
- Tìm hiểu thực trạng phong trào xây dựng gia đình văn hóa ở xã An
Nông, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến năm 2010.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả phong trào xây
dựng gia đình văn hóa ở xã An Nông, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang trong
những năm tiếp theo.
2.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở lí luận về gia đình và xây dựng gia đình văn hóa.
- Tìm hiểu thực trạng của phong trào xây dựng Gia đình văn hóa ở xã
An Nông, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến năm 2010 để làm
rõ những đóng góp tích cực của phong trào đối với đời sống của các hộ gia
đình trong xã.
- Phương hướng nhiệm vụ chung trong xây dựng gia đình văn hóa và đề
xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả phong trào
xây dựng gia đình văn hóa ở xã An Nông, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang
trong những năm tiếp theo.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1. Đối tượng
Trang 3
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm
SVTH: Nguyễn Thị Út
Tìm hiểu phong trào xây dựng gia đình văn hóa ở xã An Nông, huyện
Tịnh Biên, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến năm 2010.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
1.2.3 Thực trạng của việc xây dựng gia đình văn hóa ở Việt Nam
hiện nay.
Chương 2: Tìm hiểu phong trào xây dựng gia đình văn hóa ở xã An Nông,
huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến năm 2010.
Trang 4
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm
SVTH: Nguyễn Thị Út
2.1. Sơ lược về vị trí địa lí và tình hình kinh tế-xã hội ở xã An Nông,
huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
2.1.1. Vài nét về vị trí địa lí và đặc điểm tự nhiên của xã An
Nông, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
2.1.2. Tình hình kinh tế-xã hội của xã An Nông, huyện Tịnh
Biên, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến năm 2010.
2.2. Thực trạng của phong trào xây dựng gia đình văn hóa ở xã
An Nông, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến năm 2010.
2.2.1 Thực trạng của phong trào xây dựng gia đình văn hóa ở xã
An Nông, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến năm 2010.
2.2.2 Những thành tựu và hạn chế của phong trào xây dựng gia
đình văn hóa ở xã An Nông, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến
năm 2010.
2.3. Một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả phong
trào xây dựng gia đình văn hóa ở xã An Nông, huyện Tịnh Biên, tỉnh An
Giang trong những năm tiếp theo.
2.3.1. Phương hướng, nhiệm vụ chung trong xây dựng gia đình
văn hóa.
2.3.2. Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả phong trào
trị vô cùng quý báu của nhân loại. Theo UNESCO: “Gia đình là một nhóm xã
hội gồm hai hay nhiều người gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ
huyết thống hoặc quan hệ nhận con nuôi nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội và tái
sản xuất theo cả nghĩa thể xác và tinh thần. Gia đình là nơi đầu tiên đặt nền
móng cho sự phát triển nhân cách của trẻ em và có ảnh hưởng lâu dài suốt
cuộc đời cá nhân”.
Khi bàn về gia đình Liên Hiệp Quốc nhấn mạnh: gia đình là một
thể chế có tính chất toàn cầu nhưng có những hình thức vai trò khác nhau thay
đổi từ nền văn minh này sang nền văn minh khác, dân tộc này so với dân tộc
kia. Do đó không thể đưa ra một định nghĩa chung về gia đình có thể áp dụng
cho toàn cầu. Và: “Gia đình là một đơn vị được quy định thông qua mối liên
hệ của các cá nhân nói lên sự tái sản xuất thế hệ, đặc biệt ở mức độ mà những
mối quan hệ này được quy phạm và thủ tục pháp lý phê chuẩn” [25, tr.86].
Các nhà kinh tế chính trị học cho rằng: “Gia đình là một cộng
đồng người đặc biệt được hình thành và phát triển và củng cố bởi hai mối quan
Trang 6
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm
SVTH: Nguyễn Thị Út
hệ cơ bản là quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống. Các thành viên trong
gia đình có chung một giá trị vật chất và giá trị tinh thần, có quyền lợi, nghĩa
vụ và trách nhiệm về tài sản cũng như người thân là mục tiêu cao nhất là sự
phát triển kinh tế, nuôi dưỡng các thành viên và xây dựng gia đình bền chặt”
[23, tr.135].
Theo điều 8, Luật hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2000: “Gia
đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết
thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm
SVTH: Nguyễn Thị Út
- Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù của loài người, một
đơn vị xã hội cơ bản, là một tế bào của xã hội. Nói cách khác, gia đình chính
là một xã hội vi mô trong cái xã hội vĩ mô-cộng đồng, dân tộc. Gia đình chính
là cái gốc để tạo nên xã hội; cái nôi để hình thành và hoàn thiện con người.
- Gia đình nó vốn được liên kết trong mối quan hệ huyết
thống giữa các thế hệ, các thành viên; với những nét tương đồng về tình cảm.
- Gia đình là tế bào của cơ thể xã hội. Gia đình hạnh phúc sẽ
là nền tảng cho sự ổn định của cộng đồng, cho sự phát triển của xã hội.
1.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về gia đình và xây
dựng gia đình.
Theo C.Mác và Ăngghen: “Hằng ngày tái tạo ra đời sống của
bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở đó
là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình”.
Gia đình là tế bào của xã hội, thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa
gia đình và xã hội. Quan hệ đó giống như sự tương tác hữu cơ của quá trình
trao đổi chất duy trì sự sống giữa tế bào và một cơ thể sinh vật. Trong đó, có
thể ví xã hội là một cơ thể hoàn chỉnh và không ngừng biến đổi được sắp xếp,
tổ chức theo nhiều mối quan hệ mà gia đình là tế bào, một thiết chế cơ sở đầu
tiên.
Trong mối quan hệ mật thiết gữa gia đình và xã hội thì trình độ phát
triển về mọi mặt của xã hội quyết định hình thức, tính chất, kết cấu và quy mô
của gia đình. C.Mác lưu ý rằng: “Sự phát triển về mặt chính trị, pháp luật, triết
học, tôn giáo, gia đình, văn học, nghệ thuật đều dựa trên cơ sở phát triển kinh
tế” [5, tr.271].
gọi là thể chế, thực hiện nhiệm vụ, công việc quan trọng nhằm đáp ứng các
nhu cầu của xã hội ấy chính là chức năng của xã hội của thể chế. Ph.Ăngghen
đã chỉ rõ: “Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử, quy cho
đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp. Một mặt là sản xuất
ra tư liệu sinh hoạt, ra thức ăn, ra quần áo, nhà ở và công cụ cần thiết để sản
xuất ra những thứ đó. Mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự
truyền nòi giống. Những thiết chế xã hội trong đó những con người của một
thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống là do hai loại
sản xuất đó quyết định: một là do trình độ phát triển của lao động, mặt khác là
trình độ phát triển của gia đình” [4, tr.26].
Trong tác phẩm: “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và
của nhà nước”, Ăngghen đã có một nhận định sâu sắc về chế độ công xã
nguyên thủy, chế độ nô lệ, và trên một mức độ nhất định về chế độ phong
kiến. Nhờ vậy mà việc lí giải một cách thực sự khoa học, duy vật toàn bộ tiến
trình lịch sử toàn thế giới, đã có được một sự phát triển cụ thể hơn nữa. Trong
tác phẩm này, lần đầu tiên việc giải thích một cách khoa học, duy vật lịch sử
xã hội loài người ở các giai đoạn sớm nhất, đã được trình bày một cách có hệ
thống; nó đã chỉ rõ lịch sử phát triển của gia đình trong các hình thái kinh tếxã hội khác nhau, quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy và quá trình
hình thành xã hội có giai cấp dựa trên chế độ tư hữu, đã khám phá ra nguồn
gốc và bản chất của nhà nước, đã chứng minh tính tất yếu lịch sử của sự diệt
vong của nhà nước trong xã hội cộng sản không giai cấp.
Một trong những vấn đề vô cùng quan trọng mà Ăngghen dành
cho tác phẩm của mình để bàn đến là lịch sử của gia đình, vị trí và vai trò của
gia đình trong đời sống xã hội.
Ăngghen nhấn mạnh rằng trong những giai đoạn đầu tiên của sự
phát triển xã hội, những quan hệ gia đình, những mối dây thân tộc có ảnh
Trang 9
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm
mẹ. Cùng với đà phát triển của các lực lượng sản xuất, ảnh hưởng của phụ nữ
trong đời sống kinh tế và quan hệ xã hội bị giảm sút. Với sự xuất hiện của chế
độ tư hữu, mẫu quyền bị sụp đổ và bước chuyển sang chế độ thừa kế theo hệ
cha được thực hiện. Thông qua hình thức trung gian của gia đình gia trưởng,
sự phát triển dẫn tới gia đình một vợ một chồng (chế độ hôn nhân cá thể), duy
trì cho đến tận ngày nay. Tuy nhiên, hôn nhân cá thể ra đời tuyệt nhiên không
phải với tính cách là sự liên kết tự nguyện giữa người đàn ông và người đàn bà
thỏa thuận với nhau và yêu nhau “nó xuất hiện với tính cách sự nô dịch của
một giới này đối với giới kia, là việc tuyên bố sự mâu thuẫn giữa hai giới, mà
toàn bộ lịch sử trước đó, chưa hề biết đến; chế độ hôn nhân cá thể là một tiến
Trang 10
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm
SVTH: Nguyễn Thị Út
bộ lịch sử vĩ đại, nhưng bên cạnh chế độ nô lệ và của cải tư nhân, nó đồng thời
mở ra một thời kỳ kéo dài cho đến ngày nay trong đó mỗi sự tiến bộ đồng thời
cũng có nghĩa là một sự thụt lùi tương đối, khi phúc lợi và sự phát triển của
những người này được thực hiện nhờ sự đau khổ và áp chế của những người
khác. Chế độ hôn nhân cá thể là cái tế bào của xã hội văn minh mà căn cứ vào
đó thì chúng ta đã có thể nghiên cứu được bản tính của những mặt đối lập và
những mâu thuẫn đã phát triển đầy đủ trong xã hội đó” [21, tr.217].
Ăngghen phê phán gay gắt gia đình tư sản hiện đại mà các tư tưởng gia
tư sản xem như là một hình thức gia đình lý tưởng, như là hiện thân cao nhất
của đạo đức. Trên thực tế, cơ sở gia đình loại ấy thường là một cuộc hôn nhân
có tính toán. Nhưng Ăngghen nhấn mạnh trong xã hội tư sản, trong các giai
cấp bị áp bức, trước hết là trong giai cấp vô sản, đang hình thành những cuộc
hôn nhân trong đó tình cảm yêu thương và kính trọng lẫn nhau giữ vai trò
của xã hội, tham gia vào mọi quá trình sản xuất, từ sản xuất hàng hóa đến tiêu
thụ sản phẩm; từ việc tái tạo ra con người đến việc đào tạo, bồi dưỡng con
người; từ chỗ tạo ra sự khác biệt về sở hữu đến chỗ giải quyết vấn đề sở hữu.
Và ngược lại, các quá trình sản xuất, tiêu dùng, cải tiến và sử dụng công cụ lao
động, giáo dục và đào tạo,… đều tác động trở lại gia đình, củng cố hoặc làm
biến đổi hình thức và kết cấu của gia đình.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề gia đình như vậy, nên trong
các tác phẩm của mình khi nói đến gia đình C.Mác và Ph.Ăngghen thường
phân tích rất sâu sắc và thiết thực về vai trò, vị trí, nguồn gốc của gia đình.
Các ông đã xem xét gia đình với tư cách một xã hội thu nhỏ, xem xét các hình
thức lịch sử của gia đình, xem xét gia đình với sự xuất hiện của sở hữu tư nhân
về tư liệu sản xuất; nghiên cứu mối quan hệ giữa gia đình và nhà nước, nghiên
cứu gia đình dưới chế độ tư bản chủ nghĩa và gia đình dưới chế độ xã hội chủ
nghĩa tương lai. Không chỉ thế, các ông còn nghiên cứu gia đình trong quan hệ
tín giao-vấn đề trong hôn nhân, và gia đình với tư cách yếu tố cấu thành lực
lượng sản xuất trong lịch sử phát triển xã hội.
Có thể nói, vấn đề gia đình trong di sản lí luận của C.Mác và
Ph.Ăngghen không chỉ dừng lại ở khái niệm “gia đình” thuần túy, mà còn
vượt qua hình thức gia đình để khám phá nguồn gốc gia đình, tác động của gia
đình tới xã hội và ảnh hưởng của những biến đổi xã hội tới gia đình, đặc biệt
là ảnh hưởng của sự biến đổi kinh tế, của tiến trình công nghiệp hóa.
Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, khi nói về tiến trình phát triển của
lịch sử nhân loại, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xem xét ba mối quan hệ con người
đã được hình thành trong lịch sử nhân loại:
Mối quan hệ thứ nhất là quan hệ giữa con người với tự nhiên,
quan hệ phản ánh khát vọng chinh phục tự nhiên, nghiên cứu tự nhiên để tồn
tại và cũng để nhằm thỏa mãn những nhu cầu không ngừng nảy sinh của con
người.
Mối quan hệ thứ hai là quan hệ giữa con người với con người
con đẻ cái, quan hệ gia đình đã sản sinh ra và duy trì các quan hệ xã hội khác.
Và, theo ý nghĩa đó, gia đình là một xã hội thu nhỏ: gia đình sản sinh ra các cá
thể người, gắn kết các cá thể người thành xã hội và khi xã hội loài người được
hình thành thì những hoạt động của nó thường xuyên tác động tới gia đình làm
cho gia đình biến đổi cả về hình thức, cấu trúc cũng như vai trò của nó đối với
xã hội. Chính vì vậy, các ông luôn đòi hỏi nghiên cứu gia đình, nghiên cứu
lịch sử loài người phải gắn liền với lịch sử của công nghiệp và của sự trao đổi
sản phẩm.
Và khi xem xét mối quan hệ biện chứng giữa gia đình và sự phát triển
của nền công nghiệp, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định sự tồn tại song
trùng của hai quá trình. Thứ nhất, quá trình tồn tại và phát triển của gia đình
với những nhu cầu vật chất và tinh thần đã thúc đẩy quá trình phát triển nền
công nghiệp. Thứ hai, quá trình phát triển nến công nghiệp đã tác động trở lại
gia đình, làm thay đổi kết cấu gia đình, thay đổi nhu cầu vật chất và tinh thần
của mỗi một thành viên trong gia đình.
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen
đã khẳng định sự vận hành của mỗi quá trình đó đếu mang tính khách quan và
phổ biến. Các ông cho rằng, sự ra đời của nền sản xuất bằng máy móc hiện
đại-nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa với lực lượng sản xuất mới đã dần
xóa bỏ toàn bộ hệ thống công trường thủ công , đã thay đổi sự phân bố dân cư
và kết cấu ngành nghề của xã hội và do vậy, sự “yên ấm” của từng gia đình
cũng bị phá vỡ theo dòng xoáy của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Không chỉ
Trang 13
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm
SVTH: Nguyễn Thị Út
thế, nó còn làm thay đổi vị trí và điều kiện sinh sống của gia đình, thay đổi
lại thành xã hội đại đoàn kết: Đại đoàn kết là sức mạnh vô địch của nhân dân
ta trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và trong
sự nghiệp đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà” [16, tr.662].
Điều này cho thấy gia đình không tồn tại một cách cô lập mà luôn có mối quan
hệ với xã hội, gia đình tốt thì xã hội tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Trong
mối quan hệ với xã hội, gia đình là nơi trực tiếp thực hiện mọi đường lối, chủ
Trang 14
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm
SVTH: Nguyễn Thị Út
trương, chính sách của Đảng và nhà nước, gia đình còn là nơi bảo lưu, truyền
thụ nền văn hóa của dân tộc. Mặt khác sự phát triển của xã hội cũng trực tiếp
tác động đến sự phát triển của gia đình cả về kết cấu, chức năng, đời sống vật
chất và đời sống tinh thần.
Vì gia đình là hạt nhân của xã hội nên Bác nói: “Chính vì muốn
xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt”, nghĩa là cần phải
quan tâm chăm lo đến gia đình và xây dựng đời sống gia đình sao cho gia đình
thật sự là “tổ ấm” của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội. Xây dựng
đời sống cho nhân dân phải được tiến hành từ xây dựng nếp sống văn hóa.
Ngay từ những năm 1946, trong công cuộc kháng chiến Kiến quốc, Người đã
viết tác phẩm: “Đời sống mới” rất sinh động, sâu sắc, nhằm động viên, kêu gọi
các tầng lớp nhân dân thực hành đời sống mới với tinh thần rất rõ là: “Làm thế
nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được khỏe
mạnh hơn. Đó là mục đích đời sống mới” [14, tr.953]. Quan điểm xây dựng
đời sống mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức rõ ràng, cụ thể, thiết thực, có
kế thừa, bảo tồn, phát huy những phong tục tập quán tốt đẹp mang tính truyền
thống, loại trừ những hủ tục lạc hậu, không phù hợp: “Đời sống mới không
triển, làm thay đổi diện mạo đời sống ở cơ sở, nhất là những vùng nông thôn,
vùng sâu, vùng xa.
Phong trào xây dựng gia đình văn hóa đang thấm sâu vào từng
người, từng gia đình, từng cộng đồng dân cư, làng, thôn, ấp, bản sâu rộng cả
nước, với sự tham gia của các bộ, ngành, tổ chức chính trị-xã hội và đoàn thể
trở thành cuộc vận động văn hóa rộng lớn chưa từng có. Niềm tin của dân với
Đảng ngày càng gắn bó. Thực hiện xây dựng nếp sống văn hóa và tham gia
toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa là thực hiện đúng theo tư tưởng
Hồ Chí Minh: “Chúng ta đồng tâm mà làm, quyết tâm mà làm thì đời sống
mới nhất định thực hiện được. Mong toàn thể đồng bào gắng sức theo đời sống
mới, xây dựng một nước Việt Nam phú cường” [14, tr.110].
Để xây dựng đời sống cho gia đình tốt hơn theo Bác cần phải
xây dựng kế hoạch gia đình và cán bộ phụ trách công tác gia đình cần phải
đảm nhận trọng trách của mình cho tốt, Bác nói: “Từ trước đến nay, gia đình
nào cũng có kế hoạch thô sơ, như: chăn nuôi thứ gì, mùa nào trồng gì, mấy
sào, mấy mẫu. Nơi nào cán bộ hiểu biết tình hình, chịu khó giải thích cho đồng
bào rõ, thiết thực giúp đồng bào sắp xếp kế hoạch thô sơ ấy cho có ngăn nắp
hơn, để đồng bào tự giác tự động thực hành, và cán bộ luôn luôn theo dõi,
khuyến khích thì đều thu được kết quả tốt” [15, tr.574]. Kế hoạch gia đình
theo Bác là một điều rất hay, rất tốt, ích nước, lợi dân. Nhưng cán bộ phải biết
chuẩn bị, giải thích, đánh thông tư tưởng giúp đồng bào tự giác, tự động làm,
tránh bệnh quan liêu mệnh lệnh, biết theo dõi, đôn đốc, thì mới chắc chắn
thành công. Và để thực hiện được điều đó thì người lãnh đạo, người phụ trách
cần phải đi sâu, đi sát thực tế, Bác viết: “Nói đời sống thì phải nói cả đời sống
vật chất và đời sống tinh thần. Muốn thật sự cải thiện, thì lãnh đạo từ các bộ
đến các xí nghiệp và cơ quan cũng phải đi sâu, đia sát”. Phải làm cho mọi
người hiểu thật rõ ràng “sản xuất và tiết kiệm cũng như dòng nước, cải thiện
đời sống cũng như chiếc thuyền, nước càng sâu thì thuyền càng cao. Muốn cải
thiện không ngừng thì phải không ngừng tăng gia sản xuất và thực hành tiết
kiệm” và “một điều vô cùng quan trọng là giáo dục cho cán bộ và mọi người
Gia đình Việt Nam suốt mấy chục năm qua chịu ảnh hưởng của
những biến động lớn như: Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh
đạo. Truyền thống tốt đẹp bao trùm mọi quan hệ gia đình và xã hội là truyền
thống yêu nước, bất khuất trong chống giặc ngoại xâm và cần cù, sáng tạo
trong lao động xây dựng hoà bình đã trở thành nền tảng văn hoá tinh thần cao
đẹp của người Việt Nam.
Khi Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới, sức mạnh to lớn của
truyền thống văn hoá đã được khơi dậy và phát huy. Cố Thủ tướng Phạm Văn
Đồng đã nhận định: “Văn hoá là đổi mới, đổi mới là văn hoá”. Văn hoá thực
sự là cơ sở và động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong quá trình thực hiện
mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh cùng với thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước xuyên suốt qua
các thời kỳ, Đảng ta rất quan tâm đến vấn đề gia đình nói chung và xây dựng
gia đình văn hóa nói riêng, được thể hiện qua các kỳ Đại hội Đại biểu toàn
quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX và X của Đảng Cộng sản Việt Nam và qua các
văn bản pháp luật:
Trang 17
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm
SVTH: Nguyễn Thị Út
Trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng
Cộng sản Việt Nam (tháng 12 năm 1986) khẳng định: “Gia đình là tế bào của
xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền
kinh tế mới, con người mới. Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng cần
đề ra phương hướng, chính sách và có biện pháp tổ chức thực hiện về xây
hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Và
Trang 18
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm
SVTH: Nguyễn Thị Út
mục tiêu chung: “Xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và
bền vững”.
Tại điều 31 chương III Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi) quy định: “Nhà nước tạo điều kiện để
công dân phát triển toàn diện, giáo dục ý thức công dân, sống và làm việc theo
Hiến pháp và pháp luật, giữ gìn thuần phong mỹ tục, xây dựng gia đình có văn
hóa, hạnh phúc có tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có tinh thần quốc
tế chân chính, hữu nghị, hợp tác với các dân tộc trên thế giới” [17, tr.96].
Tại điều 64, chương V. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân:
“Gia đình là tế bào của xã hội. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình. Hôn
nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình
đẳng. Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái thành người công dân tốt. Con
cái có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà cha mẹ. Nhà nước và xã hội
không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con” [17, tr.106].
Quan điểm của Đảng ta về xây dựng con người Việt Nam gắn
với xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là nhất
quán. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (năm 1991) Đảng ta nêu nội dung: “Con người được giải phóng khỏi áp
bức bóc lột bất công, có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc, có điều kiện phát
triển toàn diện cá nhân”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khoá VII) đã đưa
ra tiêu chí về con người Việt Nam: “Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về