Giải pháp tăng lợi nhuận của Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị trường học Bắc Ninh - Pdf 32

Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU............................................................................................................3
L I M Ờ Ở
U............................................................................................................3ĐẦ .............i

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi nước ta chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế mới, nền kinh tế
Việt Nam đã có nhiều thay đổi. Sự thay đổi cơ chế quản lý kinh tế đã làm cho
nền kinh tế nước ta có những bước đi vững chắc và đạt được những thành tích
đáng kể như nâng cao mức sống của người lao động, xây dựng cơ sở vật chất
phù hợp với điều kịên phát triển và từng bước hoà nhập vào nền kinh tế thế
giới, đặc biệt là hoà nhập vào nền kinh tế khu vực.
Cơ chế kinh tế thị trường như một luồng gió mới thổi vào từng doanh
nghiệp, mang lại cho doanh nghiệp nhiều thuận lợi, giúp doanh nghiệp tự chủ
trong hoạt động sản xuất kinh doanh, phát huy cao độ những tiềm năng của
doanh nghiệp mình. Bên cạnh đó không phải không có những khó khăn.
Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường luôn chịu sự tác động của những
qui luật khắc nghiệt vốn có của nền kinh tế đó. Do vậy, nếu không nhận thức
được các qui luật kinh tế, không có kiến thức cơ bản về quản lý doanh nghiệp
sẽ thất bại. Các nhà quản lý doanh nghiệp cần có tầm nhìn chiến lược, biết
phản ứng linh hoạt với sự thay đổi của thị trường, có đầu óc năng động, sáng
tạo và có thể đưa ra các quyết định quản lý chính xác, kịp thời nhằm đem lại
hiệu quả cao trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng như đem lại nguồn lợi
nhuận cao nhất. Vậy làm thế nào để tăng được lợi nhuận cho mỗi doanh
nghiệp? Đây quả là một vấn đề cần thiết mà mỗi một doanh nghiệp phải quan
tâm trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Như vậy, lợi nhuận là động lực là mục tiêu hàng đầu, là đích cuối cùng
mà mỗi doanh nghiệp phải vươn tới nhằm đảm bảo sự sinh tồn, phát triển và
thịnh vượng.

hiểu lợi nhuận là gì?
Để thực hiện quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, nhà sản xuất
phải ứng trước một lượng tiền để mua tư liệu sản xuất và trả lương cho công
nhân. Hàng hóa được sản xuất ra mang hai thuộc tính : Giá trị và giá trị sử
dụng.
Giá trị của hàng hóa sản xuất ra được biểu hiện bằng công thức :
Gt = C + V + M
Trong đó :
Gt : Là giá trị hàng hóa.
C : Chi phí nhà sản xuất bỏ ra để mua TLSX
V : Chi phí thuê nhân công
M : Giá trị thặng dư
Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động do
người công nhân làm thuê sáng tạo ra. Như vậy trong quá trình sản xuất, sức
lao động đã sáng tạo ra giá trị mới lớn hơn phần giá trị sức lao động và phần
dôi ra là giá trị thặng dư.
Các nhà kinh tế học cổ điển trước C. Mac cho rằng "Cái phần trội lên
nằm trong giá bán so với chi phí sản xuất là lợi nhuận".
Theo C. Mac thì "Giá trị thặng dư hay phần trội lên trong toàn bộ giá trị
của hàng hóa, trong đó lao động thặng dư hay lao động không được trả công
của công nhân đã được vật hóa thì tôi gọi là lợi nhuận"

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các nhà kinh tế học hiện đại như P.A. Samuelson và W. D. Nordhaus
cho rằng : "Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra, bằng tổng số thu về trừ đi
tổng số chi hay cụ thể hơn Lợi nhuận được định nghĩa là sự chênh lệch giữa
tổng thu nhập của một doanh nghiệp và tổng chi phí". Theo David Begg,
Stanley Fisher và Busch thì "Lợi nhuận là lượng dôi ra của doanh thu so với
chi phí".
Nhìn tổng quát những quan niệm trên ta nhận thấy rằng tất cả các định

sản xuất kinh doanh và sự độc quyền trong cung ứng sản xuất sản
phẩm hàng hóa dịch vụ.
Đối với nước ta đang trên con đường thực hiện công cuộc đổi mới, nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì mục tiêu là phải nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nhằm buộc các
doanh nghiệp phải kinh doanh có lãi, coi lợi nhuận tối đa là mục tiêu kinh tế
quan trọng nhất. Nguồn gốc của lợi nhuận trong các doanh nghiệp được tạo ra
bằng cách sử dụng hợp lý các nguồn lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh
và tận dụng có hiệu quả các điều kiện của môi trường kinh doanh. Rõ ràng,
lợi nhuận là mục tiêu chung cho mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp không phân biệt các thành phần kinh tế hay đang tồn tại dưới bất kỳ
một chế độ xã hội nào.
1.1.2 Vai trò của lợi nhuận
Trong nền kinh tế bao cấp, vai trò của lợi nhuận không được chú ý đến,
các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh theo kế hoạch của Nhà nước.
Nhà nước bao cấp về giá vật tư hàng hóa, về lãi tín dụng, về vốn kinh
doanh...kết quả hoạt động cuối cùng lỗ hay lãi không ảnh hưởng trực tiếp hay

Website: Email : Tel : 0918.775.368
quyết định đến sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp. Nhưng trong nền kinh
tế thị trường, các doanh nghiệp phải thực hiện hạch toán kinh doanh thì lợi
nhuận là mối quan tâm hàng đầu của mọi doanh nghiệp, lợi nhuận có vai trò
hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng
và đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân nói chung.
1.1.2.1 Đối với doanh nghiệp
Các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh với mục
tiêu kinh tế là để kiếm lợi nhuận. Trong nền kinh tế thi trường, lợi nhuận là
mục tiêu của kinh doanh, là thước đo hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh,
là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng sử dụng hợp lý, tiết kiệm

vật chất cho người lao động, thúc đẩy mọi người quan tâm đến hoạt động sản
xuất kinh doanh.
1.1.2.2 Đối với nền kinh tế
* Lợi nhuận của doanh nghiệp không chỉ là bộ phận quan trọng của thu
nhập thuần túy của doanh nghiệp mà đồng thời là nguồn thu quan trọng của
Ngân sách Nhà nước và là cơ sở để tăng thu nhập quốc dân mỗi nước. Ở đây,
ta lại thấy được vai trò của lợi nhuận không những quan trọng đối với bản
thân mỗi doanh nghiệp mà cả xã hội. Bởi lẽ, mỗi doanh nghiệp không chỉ
hoạt động kinh doanh riêng lẻ, tách rời, mà nó là một mắt xích trong chuỗi
xích liên hệ giữa các doanh nghiệp , giữa các con người. Mặt khác lợi nhuận
còn góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước thông qua việc doanh nghiệp
nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Ngoài ra, lợi nhuận còn góp phần nâng cao
đời sống cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp nói riêng trong mỗi
gia đình nói chung thông qua việc thành lập các quỹ từ lợi nhuận sau thuế thu
nhập doanh nghiệp, trên cơ sở đó khuyến khích mỗi người lao động không

Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngừng nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh trong
doanh nghiệp.
* Lợi nhuận của doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ và mật thiết với
các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật khác như chỉ tiêu về đầu tư sản xuất, sử dụng các
yếu tố đầu vào, chỉ tiêu chi phí và giá thành, các chỉ tiêu đầu ra và các chính
sách tài chính quốc gia.
1.2 Xác định lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp
1.2.1 Xác định lợi nhuận của doanh nghiệp
Để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường, mỗi doanh nghiệp đều
phải xây dựng cho riêng mình một phương hướng đúng đắn để tận dụng tối đa
tiềm lực tài chính và những mối quan hệ kinh tế, chính trị sẵn có của mình
nhằm vào mục đích kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận. Do vậy tùy theo từng
nghành nghề từng lĩnh vực kinh doanh, mỗi doanh nghiệp lựa chọn một vài

động kinh doanh chủ yếu, bởi lẽ lĩnh vực kinh doanh của họ không giống như
các doanh nghiệp thông thường- kinh doanh tiền tệ.
Thứ hai: Trong các môi trường kinh tế khác nhau, các doanh nghiệp
cùng loại có sự khác biệt về tỷ trọng các bộ phận lợi nhuận trong tổng lợi
nhuận của doanh nghiệp mình. Chẳng hạn, cũng chính là doanh nghiệp hoạt
động trên lĩnh vực thông thường cơ cấu lợi nhuận bao gồm ba bộ phận, nhưng
trong nền kinh tế thị trường phát triển ở trình độ cao, các hoạt động tài chính
năng động, hiệu quả thì mảng hoạt động tài chính của doanh nghiệp sẽ phát
triển với các hoạt động đa dạng về đầu tư tài chính. Ở đây bộ phận tài chính sẽ
chiếm một tỷ trọng đáng kể không kém gì hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ngược lại, trong một nền kinh tế thị trường ở trình độ thấp, hoạt động của thị
trrường tài chính, chứng khoán, chưa hoàn thiện, phổ biến trong doanh nghiệp
là sự thiếu hụt vốn, mảng hoạt động tài chính trong doanh nghiệp còn rất hạn

Website: Email : Tel : 0918.775.368
chế. Doanh nghiệp không có cơ hội đầu tư tài chính thậm chí không có khả
năng về vốn để thực hiện các hoạt động đầu tư tài chính đó. Trong trường hợp
này, lợi nhuận hoạt động kinh doanh luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lợi
nhuận doanh nghiệp. Và lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh có ý
nghĩa quyết định đến hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp .
Tóm lại, cơ cấu lợi nhuận của doanh nghiệp thông thường bao gồm ba
bộ phận: Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài
chính,và lợi nhuận hoạt động bất thường. Nhìn chung, lợi nhuận từ hoạt động
sản xuất kinh doanh (đối với ngân hàng, tổ chức tín dụng là lợi nhuận từ hoạt
động tài chính) luôn chiếm tỷ trọng lớn và có ý nghĩa quyết định trong tổng số
lợi nhuận doanh nghiệp. Đặc điểm này cho ta một định hướng rõ nét khi phân
tích lợi nhuận doanh nghiệp.
Về nguyên tắc khi phân tích lợi nhuận doanh nghiệp, chúng ta phải
phân tích cả mọi bộ phận cấu thành lợi nhuận. Nhưng trong những điều kiện
đặc thù đôi khi nguyên tắc đó có thể bị phá vỡ, điều kiện đó là việc phân tích

thuế GTGT (TTĐB) giá vốn chi phí chi phí quản

phải nộp hàng bán bán hàng doanh nghiệp

Doanh thu giá vốn chi phí chi phí quản lý
= thuần hàng bán bán hàng doanh nghiệp
Lãi gộp chi phí chi phí quản lý
bán hàng doanh nghiệp

= - - -
- - - -
- - -
=
-
-
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Doanh thu từ hoạt động kinh doanh : là toàn bộ tiền bán sản phẩm, hàng
hoá, cung ứng dịch vụ được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán
sau khi trừ các khoản chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán, doanh thu hàng
bán bị trả lại.
* Xác định doanh thu thuần
Doanh thu thuần = Tổng doanh thu - Các khoản giảm trừ
- Doanh thu thuần là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng với các
khoản giảm trừ .
- Tổng doanh thu (doanh thu bán hàng): Là tổng giá trị được thực hiện
do việc bán sản phẩm, hàng hoá, cung ứng dịch vụ được khách hàng thanh
toán hoặc chấp nhận thanh toán.
- Các khoản giảm trừ :
+ Chiết khấu bán hàng : Là số tiền tính trên tổng số doanh thu trả cho
khách hàng gồm chiết khấu thanh toán và chiết khấu thương mại.

- Chi phí sản xuất chung: là chi phí sử dụng chung cho hoạt động sản
xuất, chế biến của phân xưởng (bộ phận kinh doanh) trực tiếp tạo ra sản phẩm
và dịch vụ như : chi phí vật liệu, công cụ lao động nhỏ, khấu hao TSCĐ thuộc
phân xưởng (bộ phận kinh doanh), tiền lương, các khoản trích bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm công ty tế của nhân viên phân xưởng (bộ phận kinh doanh) theo
quy định, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền phát sinh ở phân
xưởng (bộ phận kinh doanh).

Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Chi phí bán hàng : là toàn bộ các chi phí liên quan đến việc tiêu thụ
sản phẩm, dịch vụ, bao gồm cả chi phí bảo hành sản phẩm.
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp : là các chi phí cho bộ máy quản lý và
điều hành doanh nghiệp, các chi phí có liên quan đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp như: chi phí công cụ lao động nhỏ, khấu hao TSCĐ phục vụ
cho bộ máy quản lý và điều hành doanh nghiệp: tiền lương, khoản trích nộp
kinh phí quản lý tổng Công ty; chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng
tiền như tiếp tân, khánh tiết, giao dịch, khoản trợ cấp thôi việc cho người lao
động theo quy định, các khoản trích dự phòng, các chi phí nghiên cứu khoa
học, nghiên cứu đổi mới công nghệ, chi sáng kiến, cải tiến, chi phí đào tạo,
giáo dục, chi y tế cho người lao động của doanh nghiệp , chi phí bảo vệ môi
trường, chi phí lao động nữ...
1.2.1.2 Lợi nhuận từ hoạt động tài chính
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: là lợi nhuận thu được từ các hoạt
động như tham gia góp vốn liên doanh; hoạt động đầu tư, mua, bán chứng
khoán ngắn hạn, dài hạn; cho thuê tài sản; các hoạt động đầu tư khác; do
chênh lệch lãi tiền gửi ngân hàng và lãi tiền vay ngân hàng; cho vay vốn; bán
ngoại tệ; hoàn nhập khoản dự phòng giảm giá chứng khoán...
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính được xác định bằng chênh lệch giữa
thu nhập hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính.
Lợi nhuận hoạt Thu nhập hoạt Chi phí hoạt

hoặc khoản thu khó đòi mất ngay chắc chắn chưa lập dự phòng.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lợi nhuận hoạt = Thu nhập hoạt _ Chi phí hoạt
động bất thường động bất thường động bất thường
Nhìn chung, việc xác định thu nhập và chi phí của hoạt động tài chính và
hoạt động bất thường tương đối dễ dàng hơn so với hoạt động sản xuất kinh
doanh. Đó chỉ là các dòng tiền tệ không thường xuyên. Mỗi phát sinh thu
nhập và chi phí của các hoạt động này được hạch toán gọn trong một kỳ kinh
doanh.
Như vậy, việc xác định lợi nhuận doanh nghiệp trong một kỳ kinh doanh
phải xuất phát từ việc xác định lợi nhuận bộ phận của doanh nghiệp. Nhưng
doanh nghiệp là một bộ phận độc lập với môi trường và thống nhất trong nội
bộ. Bởi vậy, việc phân bổ chi phí chung cũng như việc phân định chi phí
riêng cho từng bộ phận hoạt động thực sự là công việc khó khăn nhất trong
việc xác định lợi nhuận. Việc này nếu không làm tốt sẽ dẫn tới sự phản ánh
không trung thực chi phí sản xuất kinh doanh ( trùng lặp hoặc bỏ sót) làm sai
lệch chỉ tiêu lợi nhuận.
1.2.2 Tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp nói lên kết quả của toàn bộ hoạt động
sản xuất kinh doanh nhưng không vì thế mà nó là chỉ tiêu duy nhất để đánh
giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh, và cũng không thể chỉ dùng nó
để so sánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
khác nhau bởi vì :
- Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng, nó chịu ảnh hưởng của
nhiều nhân tố, có những nhân tố thuộc về chủ quan có những nhân tố khách
quan và có sự bù trừ lẫn nhau.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Do điều kiện sản xuất kinh doanh, điều kiện vận chuyển, thị trường

tốt. Bởi lẽ mục tiêu của doanh nghiệp là tăng lợi nhuận và tiết kiệm chi phí,
lợi nhuận và chi phí luôn có quan hệ ngược chiều với nhau.
Tỷ suất lợi nhuận vốn tự có
Chỉ tiêu doanh lợi vốn tự có được xác định bằng cách chia lợi nhuận
sau thuế cho vốn tự có :
Tỷ suất lợi nhuận vốn tự có = x 100

Nó phản ánh khả năng sinh lợi của vốn tự có và được các nhà đầu tư
đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn vào doanh nghiệp.
Tỷ suất lợi nhuận vốn
Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lợi
của một đồng vốn đầu tư. Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp
được phân tích và phạm vi so sánh mà người ta lựa chọn lợi nhuận trước thuế
để so sánh với tổng tài sản có.
- Với doanh nghiệp sử dụng nợ trong kinh doanh, người ta thường
dùng chỉ tiêu doanh lợi vốn xác định bằng cách chia lợi nhuận trước thuế và
lãi cho tổng tài sản
Tỷ suất lợi nhuận vốn = x 100%

- Với doanh nghiệp không sử dụng nợ :
Tỷ suất lợi nhuận vốn = x 100%

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lãi của doanh nghiệp tính trên 100
đồng giá trị tài sản.
Như vậy, nhóm chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận phản ánh một cách tổng
hợp nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu năng quản lý doanh nghiệp.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp
Để tối đa hóa lợi nhuận thì một điều kiện tiên quyết là các doanh
nghiệp phải luôn luôn xem xét và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới lợi

phẩm, chi phí sản xuất và giá thành giảm từ đó có cơ sở tăng lợi nhuận cho
doanh nghiệp. Vấn đề thứ hai mà các doanh nghiệp phải lựa chọn phương
pháp thích hợp để kết hợp tối ưu các đầu vào trong quá trình sản xuất ra sản
phẩm. Như vậy nhân tố có liên quan chặt chẽ tới quá trình sản xuất kinh
doanh hàng hóa dịch vụ và có ảnh hưởng tới lợi nhuận là giá vốn hàng bán.
Giá vốn hàng bán là một trong những nhân tố quan trọng chủ yếu ảnh
hưởng tới lợi nhuận vì nhân tố này có quan hệ tác động ngược chiều đến lợi
nhuận. Nếu giá vốn hàng bán giảm sẽ làm lợi nhuận tiêu thụ tăng lên và
ngược lại. Nhân tố giá vốn hàng bán thực chất phản ánh kết quả quản lý các
yếu tố chi phí trực tiếp như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân
công trực tiếp và chi phí sản xuất chung, ta dễ dàng nhận thấy rằng ảnh hưởng
của nhân tố này phần nhiều mang tính chủ quan. Vì vậy để khai thác thế mạnh
ở nhân tố này những nhà quản lý doanh nghiệp một mặt phải chú ý đến những
biện pháp mang tính tình huống để tăng sản lượng và giá bán, mặt khác phải
chú ý đầu tư chiều sâu để giảm chi phí sản xuất mà trước hết là các chi phí
trực tiếp.
Sau khi hàng hóa, dịch vụ đã được sản xuất ra theo những quyết định
tối ưu về sản xuất thì vấn đề tiếp theo của quá trình kinh doanh là phải tổ chức
bán hết, bán nhanh, bán với giá cao những hàng hóa dịch vụ đó để có thể tái

Website: Email : Tel : 0918.775.368
sản xuất mở rộng. Lợi nhuận chỉ có thể thu được sau quá trình tiêu thụ và thu
được tiền về. Việc tổ chức tốt công tác tiêu thụ sẽ làm cho thu nhập tiêu thụ
tăng, chi phí tiêu thụ giảm và do đó lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng. Để tổ
chức tốt công tác tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ, các doanh nghiệp cần tiến
hành tốt các hoạt động về quảng cáo, tổ chức tốt công tác marketing, phương
tiện vận chuyển và phương thức thanh toán...
Mục tiêu của việc thực hiện công tác tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ trên thị
trường là nhằm tăng tổng doanh thu tiêu thụ. Vì doanh thu tiêu thụ là nhân tố
có ảnh hưởng rất lớn tới sự tăng giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Trong điều

mặt hàng để cơ cấu đó không có sức cạnh tranh. Mặt khác, đối với những mặt
hàng có khả năng tiêu thụ như nhau thì doanh nghiệp nên ưu tiên tập trung
các nguồn lực sản xuất sẵn có cho việc sản xuất và tiêu thụ những mặt hàng
có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cao. Bằng sự ưu tiên để chuyển dịch cơ
cấu mặt hàng này không cần tăng chi phí nhưng cũng đem lại nguồn lợi nhuận
nhiều hơn cho doanh nghiệp.
* Giá bán sản phẩm
Theo cách xác định của chỉ tiêu lợi nhuận thì giá bán có quan hệ tác
động cùng chiều với lợi nhuận. Nhưng đó chỉ là sự biểu hiện bên ngoài đơn
thuần về toán học. Về bản chất vận động kinh tế bên trong, giá bán và sản
lượng tiêu thụ thường không song hành cùng hướng nếu như không có sự
thay đổi lớn về nhu cầu và khả năng tiêu thụ. Do vậy, khi giá tăng (hay giảm)
một mặt trực tiếp tác động làm tăng (hay giảm) lợi nhuận thông qua chênh
lệch giá, mặt khác lại gián tiếp làm giảm (hay tăng) lợi nhuận thông qua sự
tác động của giá làm sản lượng giảm (hay tăng).
Trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung bao cấp hoặc đối
với những mặt hàng do nhà nước thống nhất quản lý giá thì sự thay đổi giá

Website: Email : Tel : 0918.775.368
đối với doanh nghiệp có thể được xem là yếu tố khách quan. Doanh nghiệp
không cần có một quyết định nào về giá. Nhưng trong điều kiện nền kinh tế
thị trường, với đặc trưng nổi bật nhất là sự cạnh tranh mãnh liệt giữa các
doanh nghiệp, các sản phẩm thì yếu tố giá càng trở nên phức tạp. Nó vừa là
yếu tố ảnh hưởng mang tính khách quan lại vừa mang tính chủ quan. Lợi
dụng tính phức tạp của yếu tố giá mà các doanh nghiệp sở dụng giá không chỉ
là yếu tố góp phần làm tăng lợi nhuận mà còn là vũ khí rất lợi hại trong cạnh
tranh. Với vai trò là vũ khí lợi hại trong điều kiện cạnh tranh, yếu tố giá được
sử dụng linh hoạt nhưng phải luôn bám vào và chịu sự chi phối bởi những
mục tiêu chiến lược cũng như những mục tiêu sách lược cụ thể của doanh
nghiệp đối với từng loại sản phẩm trong từng thời kỳ.

nhất định, trong một thời gian nhất định với giả thiết là các nhân tố khác
không thay đổi.
Nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ của thị trường sẽ quyết định vấn đề cung
của doanh nghiệp trên cơ sở xác định qui mô sản xuất tối ưu. Nếu nhu cầu có
khả năng thanh toán đối với hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp càng lớn sẽ
tạo khả năng tăng qui mô sản xuất kinh doanh, bán được nhiều hàng hóa, dịch
vụ với gía cao thì lợi nhuận sẽ tăng và ngược lại nhu cầu về hàng hóa dịch vụ
thấp sẽ dẫn đến tổng mức lợi nhuận thấp. Như vậy chúng ta có thể thấy mối
quan hệ cung - cầu có ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của doanh nghiệp.
Điều đáng lưu ý ở đây là nhà kinh doanh luôn luôn muốn bán được khối
lượng hàng hóa lớn và do đó họ sẽ định ra giá cả sản phẩm hợp lý mà tại mức
giá đó cả người mua và người bán đều chấp nhận được. Có thể nói rằng, quan
hệ cung cầu hàng hóa, dịch vụ là nhân tố quyết định qui mô sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp mà việc quyết định tối ưu về qui mô sản xuất cũng
chính là quyết định tối ưu về lợi nhuận của doanh nghiệp.

Trích đoạn Thực trạng lợi nhuận của Cụng ty Cổ phần Sỏch và Thiết bị trường học Bắc Ninh Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh Cỏc phương thức thanh toỏn Lợi nhuận từ họat động khỏc Hạn chế và nguyờn nhõn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status