LỜI MỞ ĐẦU
Mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp là lợi nhuận và tăng trưởng. Một doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả là khi doanh nghiệp có lợi nhuận đi đôi cùng với sự
tăng trưởng. Lợi nhuận càng cao càng thể hiện được sức mạnh, vị thế của doanh nghiệp trên
thương trường. Không những vậy, lợi nhuận còn là nguồn tài chính quan trọng để thực hiện
tái đầu tư và mở rộng sản xuất. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như
hiện nay, khi Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế thì hơn lúc nào hết,
tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh và nâng cao lợi nhuận là vấn đề hết sức quan trọng đối với
bất kì một doanh nghiệp nào. Nghiên cứu về lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp là điều rất cần
thiết, để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng của lợi nhuận đối với doanh nghiệp, trong quá trình
nghiên cứu thực tiễn tại công ty Cổ phần Giải Pháp Thanh Toán Việt Nam và kết hợp với
những kiến thức đã học, Tôi đã chọn đề tài: “Một số giải pháp tăng lợi nhuận của Công ty
Cổ phần Giải Pháp Thanh Toán Việt Nam”, làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Do thời gian nghiên cứu, thu thập thông tin và kiến thức còn hạn chế nên Em rất mong
được sự chỉ bảo của thầy cô, các cô chú ở Công ty để đề tài được hoàn thiện hơn... Em chân
thành cảm ơn thầy giáo Trần Tất Thành đã hướng dẫn Em hoàn thành chuyên đề này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Mục đích của đề tài
Tổng quan về cơ sở lý luận liên quan tới lợi nhuận của doanh nghiệp.
Phân tích, đánh giá thực trạng lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Giải Pháp Thanh Toán
Việt Nam.
Đề xuất các giải pháp và kiến nghị có tính khả thi để nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ
phần Giải Pháp Thanh Toán Việt Nam.
1
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của chuyên đề: Lợi nhuận của công ty Cổ phần
Giải Pháp Thanh Toán Việt Nam qua các năm: 2011, 2012, 2013.
là thu nhập theo lao động còn sản phẩm ròng là thu nhập của nhà tư bản gọi là lợi nhuận. Vậy
lợi nhuận là thu nhập không lao động do công nhân tạo ra. Trường phái trọng thương cho
rằng: " Lợi nhuận được tạo ra trong lĩnh vực lưu thông. Lợi nhuận thương nghiệp là kết quả
của sự trao đổi không ngang giá, do sự lừa gạt mà có. Còn lĩnh vực nông nghiệp và công
nghiệp, trừ khai thác vàng bạc, đều không tạo ra lợi nhuận". C.Mác gọi AdamSmith là nhà lí
luận tổng hợp thời kỳ công trường thủ công tư bản chủ nghĩa. Theo A.Smith, lợi nhuận là
khoản khấu trừ thứ hai trong sản phẩm của người lao động( có nguồn gốc là lao động không
được trả công của công nhân). Nhưng mặt khác, ông lại cho rằng lợi nhuận là khoản thưởng
cho sự mạo hiểm của nhà tư bản hoặc là khoản thưởng cho lao động của tư bản. Theo
A.Smith, qui mô của tư bản quyết định qui mô của lợi nhuận. Ông đã nghiên cứu mối quan hệ
giữa lợi tức và lợi nhuận và cho rằng lợi tức là một bộ phận của lợi nhuận mà nhà tư bản
hoạt động bằng tiền đi vay phải trả cho chủ của nó để được sử dụng tư bản. A.Smith đã nhìn
thấy xu hướng bình quân hoá tỉ suất lợi nhuận và xu hướng tỉ suất lợi nhuận giảm sút do khối
lượng tư bản đầu tư tăng lên. Và ông cũng nhận ra được mối quan hệ đối kháng giữa lợi
nhuận và tiền lương. Tăng lương không làm tăng lợi nhuận mà ngược lại nó làm giảm lợi
nhuận; và ngược lại giảm lương sẽ làm tăng lợi nhuận và đằng sau đó là mối quan hệ giữa
hai giai cấp vô sản và tư sản. Tuy nhiên, A.Smith vẫn còn có hạn chế trong lí luận lợi nhuận
của mình như không thấy được sự khác nhau giữa giá trị thặng dư và lợi nhuận. Và ông cho
rằng lợi nhuận là do toàn bộ tư bản đẻ ra kể cả trong lĩnh vực lưu thông và sản xuất do
không phân biệt được lĩnh vực sản xuất và lưu thông. Một đại biểu xuất sắc của kinh tế
chính trị tư sản cổ điển Anh là D.Ricardo. Học thuyết của ông được xây dựng trên cơ sở phát
triển quan điểm của A.Smith và trên cơ sở lý thuyết giá trị lao động. Ông đã dựa vào đó để
3
phân tích rõ nguồn gốc của lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh. Theo quan điểm của
D.Ricardo, giá trị hàng hoá là do người công nhân tạo ra nhưng người công nhân chỉ được
hưởng một phần tiền lương phần còn lại là lợi nhuận của nhà tư bản. Nói cách khác, nguồn
gốc của lợi nhuận là từ việc bóc lột lao động người công nhân. Cơ sở của việc tồn tại lợi
nhuận là tăng năng suất lao động và coi nó là qui luật tồn tại vĩnh viễn( giá trị thặng dư
hàng hoá cao hơn giá trị thì mới có lợi nhuận mà vì họ mua hàng hoá thấp hơn giá trị. Vậy
lợi nhuận thương nghiệp là sự chênh lệch giữa giá bán và giá mua của thương nghiệp và nó
cũng tuân theo quy luật tỷ suất lợi nhuận do cạnh tranh. Tóm lại, kể từ khi xuất hiện hoạt
động sản xuất kinh doanh thì lợi nhuận không chỉ là cái đích của mỗi doanh nghiệp mà nó
còn trở thành đề tài nghiên cứu, tranh luận của nhiều trường phái, nhiều nhà lý luận kinh tế.
Mọi học thuyết, mọi nghiên cứu của họ tuy còn có hạn chế nhưng tất cả đều cố gắng chỉ cho
mọi người thấy rõ nguồn gốc của lợi nhuận trong nền kinh tế.
1.1.2 Khái niệm về lợi nhuận:
Từ khi nước ta chuyển từ quan hệ bao cấp sang quan hệ hạch toán kinh tế hay nói cách
khác là chuyển từ quan hệ theo chiều dọc từ trên xuống sang quan hệ theo chiều ngang mà
trong đó mỗi DN là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập. Điều kiện tiền đề thực hiện quá trình
chuyển đổi này là phân định rõ quyền sở hữu và quyền sử dụng về tài sản và thực hiện quyền
này về mặt kinh tế tức là các DN quốc doanh vẫn thuộc quyền sở hữu của Nhà nước. Còn
quyền sử dụng Nhà nước giao vốn cho DN, DN có trách nhiệm bảo tồn duy trì vốn. Thực
hiện quyền này DN tự mình tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ nghiên cứu thị
trường xác định mặt hàng sản xuất, lựa chọn công nghệ đến tiêu thụ sản phẩm. Dựa trên cơ
sở tự chủ hoàn toàn mà nâng cao trách nhiệm vật chất của cả tập thể và cá nhân người lao
động, thực hiện nghiêm ngặt chế độ thưởng phạt vật chất, khuyến khích người lao động
bằng lợi ích vật chất. Trong nền kinh tế thị trường, mỗi DN là người sản xuất hàng hoá, để đứng
vững trên thị trường họ không thể không tính đến hiệu quả sản xuất kinh doanh hay chính là
sản xuất kinh doanh có lợi nhuận. Họ thường xuyên so sánh đối chiếu đầu vào và đầu ra để
sao cho chênh lệch lợi nhuận là cao nhất. Lợi nhuận luôn được coi là một tiêu chí quan
trọng, là mục tiêu cuối cùng mà mỗi DN đề hướng tới. Khi tiến hành bất kỳ một hoạt động
kinh doanh nào, người ta đều phải tính toán đến lợi nhuận mà mình có thể thu được từ hoạt
động đó. Vậy lợi nhuận là gì? mà mọi DN đều đặt nó làm mục tiêu phấn đấu của DN mình.
5
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, nó là khoản chênh lệch giữa các khoản thu nhập thu được và các
chính. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ: tuỳ theo
6
từng phương thức, từng hoạt động đầu tư mà DN xác định đâu là lợi nhuận từ hoạt
động sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ. Lợi nhuận thu được từ hoạt động sản
xuất kinh doanh được hình thành từ việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ chủ
yếu của doanh nghiệp. Những nhiệm vụ này được nêu trong quyết định thành lập
doanh nghiệp. Bộ phận lợi nhuận này thường chiếm tỷ trọng tương đối trong tổng
lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: ngoài lĩnh vực
sản xuất kinh doanh, các DN còn có thể tham gia vào các hoạt động tài chính. Hoạt
động tài chính là hoạt động liên quan đến việc đầu tư vốn ra bên ngoài DN như: góp
vốn liên doanh, liên kết kinh doanh, góp vốn cổ phần, hoạt động mua bán tín
phiếu, trái phiếu, cổ phiếu, cho thuê tài sản, lãi tiền gửi và lãi cho vay thuộc nguồn
vốn kinh doanh và quỹ...Các khoản lợi nhuận thu được từ hoạt động này góp phần
làm tăng tổng lợi nhuận cho DN. Lợi nhuận khác: đó là các khoản lãi thu được từ
các hoạt động riêng biệt khác ngoài những hoạt động nêu trên. Những khoản lãi
này phát sinh không thường xuyên, có thể do chủ quan hoặc khách quan đưa tới.Nó
bao gồm lãi thu từ thanh lý, nhượng bán tài sản cố định; lợi nhuận từ các khoản
phải trả không xác định được chủ nợ; thu hồi các khoản nợ khó đòi đã được duyệt
bỏ... Trên thực tế, tỷ trọng của mỗi bộ phận lợi nhuận trong tổng lợi nhuận ở các
DN là có sự khác nhau do phương thức kinh doanh cũng như lĩnh vực kinh doanh
và môi trường kinh tế khác nhau. Môi trường kinh tế bên ngoài của mỗi DN cũng
làm cho tỷ trọng lợi nhuận trong mỗi DN khác nhau. Nếu như trước kia, nền kinh tế
thị trường chưa phát triển và thị trường chứng khoán chưa sôi nổi như ngày nay thì
lợi nhuận từ hoạt động tài chính chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ. Ngược lại, khi thị trường
chứng khoán với hoạt động tài chính cùng đà phát triển với nền kinh tế thị trường thì
•
tỷ trọng của mỗi bộ phận lợi nhuận trong tổng lợi nhuậnlại có sự thay đổi.
thần, từ đó nâng cao chất lượng làm việc.
Ngoài việc dùng để tái đầu tư, chi trả cho cổ đông, lợi nhuận còn được dùng để trích lập các
quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng…Các quỹ này được trích lập nhằm mục đích khuyến khích,
động viên cán bộ công nhân viên làm việc một cách nhiệt tình, sáng tạo, gắn bó với doanh
nghiệp, cùng chung lưng đấu cật, cùng doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình. Một doanh nghiệp muốn phát triển bền vững thì lợi ích của doanh
nghiệp phải được gắn với lợi ích của người lao động.
Đối với xã hội
Mỗi doanh nghiệp là một tế bào sống trong nền kinh tế. Doanh nghiệp phát triển sẽ tạo
điều kiện cho nền kinh tế xã hội phát triển. Lợi nhuận là nguồn tích lũy cơ bản để tái đầu tư
8
và mở rộng sản xuất. Vì vậy, doanh nghiệp làm ăn càng có nhiều lợi nhuận, thì tái sản xuất
mở rộng xã hội càng lớn mạnh, từ đó tạo điều kiện cho người dân có việc làm và làm giảm tỷ
lệ thất nghiệp. Sau một kỳ kinh doanh thông thường là một tháng, một quý, hoặc một năm;
các doanh nghiệp phải trích một phần lợi nhuận thu được của mình để nộp cho nhà nước,
theo tỷ lệ quy định của nhà nước; phần lợi nhuận phải nộp đó là thuế thu nhập doanh nghiệp.
Chính vì vậy, lợi nhuận của doanh nghiệp càng cao thì doanh nghiệp phải nộp thuế càng
nhiều. Phần thuế thu nhập doanh nghiệp này, nhà nước sẽ dùng để xây dựng cơ sở hạ tầng,
nâng cao phúc lợi cho xã hội…, đồng thời phần thuế phải nộp này sẽ làm giảm chênh lệch
giàu nghèo trong xã hội.
Lợi nhuận còn thể hiện là thước đo hiệu quả của chính sách kinh tế vĩ mô của nền kinh
tế. Các doanh nghiệp có lợi nhuận càng cao, chứng tỏ chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước
càng chặt chẽ, đúng đắn và thành công trong việc kích thích các doanh nghiệp phát triển.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, ngoài nguyên nhân từ nội bộ của doanh nghiệp
thì chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước cũng tác động không nhỏ tới kết quả hoạt động
của doanh nghiệp. Điều này cũng chính tỏ, chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước đưa ra
chưa hợp lý, chưa đúng đắn, chưa tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển. Nước có giàu,
dân có mạnh hay không là phụ thuộc vào nền kinh tế có phát triển hay không. Nền kinh tế
bán hàng - Chi phí quản lý doanh nghiệp
trong đó:
•
Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh là số lợi nhuận trước thuế thu nhập
doanh nghiệp (TNDN).
•
Doanh thu thuần = Doanh thu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá dịch vụ trong
kỳ - Các khoản giảm trừ doanh thu
Các khoản giảm trừ doanh thu gồm:
− Chiết khấu hàng bán: là số tiền người bán giảm trừ cho người mua đối với số tiền
phải trả cho người mua thanh toán tiền mua sản phẩm, hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp
trước thời hạn thanh toán và đã được ghi trên hoá đơn bán hàng hoặc hợp đồng kinh tế.
10
− Giảm giá hàng bán: là số tiền người bán giảm trừ cho người mua (khách hàng) trên
giá bán đã thoả thuận do hàng kém phẩm chất, không đúng quy cách, thời hạn thanh toán đã
được ghi trên hợp đồng kinh tế hoặc giảm giá cho khách hàng khi họ mua một khối lượng
hàng hoá lớn.
− Giá trị hàng bán bị trả lại: là giá trị tính theo giá thanh toán của số sản phẩm hàng
hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do vi phạm các hợp đồng kinh
tế đã ký kết.
− Thuế tiêu thụ đặc biệt: là loại thuế gián thu tính trên một số loại hàng hoá, dịch vụ
đặc biệt mà nhà nước không khuyến khích tiêu dùng.
− Thuế xuất nhập khẩu: là loại thuế gián thu tính trên sản phẩm hàng hoá của các tổ
•
Chi phí quản lý doanh nghiệp (QLDN), là một loại chi phí thời kỳ được tính đến
khi hạch toán lợi tức thuần tuý của kỳ báo cáo, chi phí QLDN là những khoản chi phí có liên
quan đến việc tổ chức quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Nội dung chi phí
quản lý cũng bao gồm các yếu tố chi phí như chi phí bán hàng, tuy vậy công dụng chi phí
của các yếu tố đó có sự khác biệt. Chi phí quản lý doanh nghiệp phản ánh các khoản chi
chung cho quản lý văn phòng và các khoản chi kinh doanh không gắn được với các địa chỉ
cụ thể trong cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
-Lợi nhuận từ hoạt động tài chính
Hoạt động tài chính là những hoạt động có liên quan tới việc huy động, quản lý và sử
dụng vốn trong kinh doanh
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính được xác định theo công thức:
Lợi nhuận hoạt động tài chính = Thu nhập hoạt động tài chính – Thuế gián thu (nếu
có) – Chi phí hoạt động tài chính
trong đó:
Thu nhập tài chính gồm: lãi tiền gửi ngân hàng, bán trả góp, lãi kinh doanh chứng
khoán, lãi góp vốn liên doanh, lãi đầu tư ngắn hạn và dài hạn khác, chiết khấu thanh toán khi
mua hàng được hưởng, thu tiền do cho thuê tài sản và bán bất động sản, chênh lệch tỷ giá,
hoàn nhập khoản dự phòng.
Chi phí hoạt động tài chính gồm: lỗ do kinh doanh chứng khoán và các hoạt động đầu
tư khác, chi phí đó đem góp vốn liên doanh, chi phí liên quan đến việc thuê tài sản, chênh
lệch tỷ giá, lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán...
12
-Lợi nhuận từ hoạt động khác
Hoạt động khác (hoạt động bất thường) là những hoạt động diễn ra không thường
xuyên mà doanh nghiệp không dự tính trước được hoặc có dự tính nhưng ít có khả năng thực
phương pháp này không thích hợp bởi khối lượng công việc tính toán sẽ rất lớn, tốn nhiều
thời gian và công sức.
1.2.2- Phương pháp gián tiếp (xác định lợi nhuận qua các bước trung gian):
Ngoài phương pháp xác định lợi nhuận như đã trình bày ở trên, chúng ta còn có thể
xác định lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp bằng cách tiến hành tính dần lợi nhuận của
doanh nghiệp qua từng khâu trung gian. Cách xác định như vậy gọi là phương pháp xác định
lợi nhuận qua các bước trung gian .
Để xác định được kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh đó là lợi
nhuận ròng của doanh nghiệp chúng ta cần tính lần lượt các chỉ tiêu sau:
1. Doanh thu bán hàng
2. Các khoản giảm trừ doanh thu (chiết khấu hàng bán, giảm giá hàng bán, giá trị hàng
bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu)
3. Doanh thu thuần về bán hàng (= 1- 2)
4. Trị giá vốn hàng bán
5. Lợi nhuận gộp về hoạt động kinh doanh (= 3 – 4)
6. Chi phí bán hàng
7. Chi phí quản lý doanh nghiệp
8. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh (= 5 – 6 – 7)
9. Thu nhập hoạt động tài chính
10. Chi phí hoạt động tài chính
11. Lợi nhuận hoạt động tài chính (= 9 – 10)
12. Thu nhập hoạt động khác
14
13. Chi phí hoạt động khác
14. Lợi nhuận hoạt động khác (=12 – 13)
15. Lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp (= 8 + 11 + 14)
16. Thuế thu nhập doanh nghiệp (=15 * thuế suất thuế TNDN)
17. Lợi nhuận ròng( =15 – 16)
2
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích DN bỏ ra 100 đồng vốn đầu tư
thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn
tốt, đó là nhân tố hấp dẫn doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động kinh doanh.
Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE):
Khả năng tạo ra lợi nhuận của VCSH mà DN sử dụng cho hoạt động kinh doanh là mục
tiêu của mọi nhà quản trị, chỉ tiêu này được tính như sau:
ROE
=
LN sau thuế
VCSH bình quân
* 100
Trong đó:
Giá trị VCSH hiện có đầu kỳ + Giá trị VCSH hiện có cuối kỳ
2
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết, trong một kỳ phân tích, DN đầu tư 100 đồng VCSH, thì
VCSH bình quân =
thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao
chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn CSH của doanh nghiệp càng tốt, góp phần nâng cao khả năng
đầu tư của chủ DN. Đó là nhân tố giúp nhà quản trị tăng vốn CSH phục vụ cho hoạt động
kinh doanh.
• Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA):
Trong quá trình tiến hành những hoạt động kinh doanh, DN mong muốn mở rộng quy
quản trị nhằm tăng sự cạnh tranh trên thị trường, chỉ tiêu này được xác định như sau:
LN sau thuế
* 100
DT/DTT
Chỉ tiêu này cho biết, trong một kỳ phân tích, DN thu được 100 đồng doanh thu hoặc
ROS
=
doanh thu thuần thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp; chỉ
tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng chi phí càng tốt. Đó là nhân tố giúp nhà quản trị
mở rộng thị trường, tăng doanh thu. Chỉ tiêu này thấp nhà quản trị cần tăng cường kiểm soát
chi phí của các bộ phận.
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn vay:
• Tỷ suất khả năng thanh toán CP lãi vay (TIE):
TIE
LN trước thuế và CP lãi vay
=
* 100
CP lãi vay
Ý nghĩa: Tỷ số này cho biết lợi nhuận trước thuế và lãi vay của doanh nghiệp có khả
năng trả lãi vay hay không. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt.
• Tỷ suất sinh lợi của tiền vay:
Tỷ suất sinh
lợi của tiền vay
LN sau thuế
lợi của CP bán hàng
=
CP bán hàng
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích DN đầu tư 100 đồng chi phí bán hàng thì thu
được bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức lợi nhuận trong chi phí
bán hàng càng lớn, DN đã tiết kiệm được chi phí bán hàng.
Tỷ suất sinh lợi
LN thuần từ hoạt động KD
* 100
của CP QLDN
=
CP quản lý doanh nghiệp
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích DN đầu tư 100 đồng chi phí quản lý doanh
nghiệp thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức lợi nhuận
trong chi phí quản lý doanh nghiệp càng lớn, DN đã tiết kiệm được chi phí quản lý doanh
nghiệp.
Tỷ suất sinh
lợi của tổng CP
LN kế toán trước thuế
=
Tổng CP
18
* 100
ứng đã lớn hơn nhu cầu, do đó giá sản phẩm thấp , lợi nhuận sẽ giảm. Nếu cung nhỏ hơn cầu
thì giá sản phẩm sẽ cao, vì khả năng cung ứng không đủ cho nhu cầu. vì thế doanh nghiệp sẽ
gặp thuận lợi trong tiêu thụ và từđó nếu biết tận dụng điều này thì doanh thu và lợi nhuận
19
của doanh nghiệp đều tăng. Tiếp đến LNDN còn chịu sự tác động của quy luật cạnh tranh.
Cạnh tranh xảy ra giữa các đơn vị kinh doanh cùng ngành nghề. Trong cơ chế thị trường sự
cạnh tranh rất khốc liệt, các quy luật “cá lớn nuốt cá bé” là một tất yếu khách quan bắt buộc
các doanh nghiệp phải tuân theo. với quy luật này đòi hỏi các doanh nghiệp bằng nỗ lực chủ
quan của minh luôn tìm cách để nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm của mình áp
dụng các giải pháp Marketing hữu hiệu trước các đối thủ cạnh tranh.
• Môi trường pháp lý
Doanh nghiệp hoạt động trong nền KTTT đều có sự quản lý của nhà nước. Ngoài việc
tuân thủ các quy luật của thị trường, doanh nghiệp còn chịu sự quản lý vĩ mô của nhà nước.
Nhà nước là nguời hướng dẫn kiểm soát và điều tiết các hoạt động của doanh nghiệp thông
qua các biện pháp kinh tế và các chính sách, luật lệ về kinh tế. Tuỳ vào chiến lược phát triển
kinh tế từng thời kỳ, từng ngành, từng vùng mà nhà nước đưa ra chính sách và biện pháp về
tỷ giá và lãi suất chính sách xuất nhập khẩu , luật chống độc quyền…. Và nhà nước kiểm
soát giá với một số mặt hàng nhất định và do đó làm ảnh hưởng nhiều tới lợi nhuận của mỗi
doanh nghiệp , có khi thuận lợi như giảm, miễn thuế, khuyến khích xuất nhập khẩu…. Và
ngược lại là bất lợi cho doanh nghiệp như mức thuế cao, không được nâng giá lên cao hơn.
1.4.2 Nhân tố chủ quan:
• Nhân tố con người:
Có thể nói con người luôn đóng vai trò trung tâm và cóảnh hưởng trực tiếp tới kết quả
hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Đặc biệt trong nền KTTT như hiện nay, khi các doanh
nghiệp phải cạnh tranh với nhau gay gắt thì con người lại càng khẳng định mình là yếu tố
quyết định để tạo ra lợi nhuận. Một doanh nghiệp hoạt động có lãi hay thua lỗ đều phụ thuộc
trước hết vứo con người. Một doanh nghiệp cóđội ngũ lao động với trình độ chuyên môn về
khoa học công nghệ, tay nghề và quản lý kinh doanh cao, có ý thức trách nhiệm trong lao
nguyên liệu trong quá trình SXSP của doanh nghiệp.
- Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm các khoản trả cho người lao động trực tiếp sản
xuất như tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp, có tình chất lương, chi bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, chi phí công đoàn của công nhân trực tiếp sản xuất.
- Chi phí về quản lý sản xuát kinh doanh: là các khoản chi phí sản xuất chung phát sinh
ở các phân xưởng hay bộ phận kinh doanh và chi phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí
có liên quan đến hoạt động chung về quản lý doanh nghiệp.
• Nhân tố về sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá dịch vụ
Để thoả mãn nhu cầu của khách hàng không chỉ là công việc phục vụ khách hàng mà
quan trọng hơn là phải biết khai thác, sản xuất đầu tư thiết kế, chế tạo các mặt hàng phù hợp
21
với thị hiếu người tiêu dùng như: sản phẩm với chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, chủng loại đa
dạng vàđặc biệt là phải có thời gian sử dụng lâu dài. Xong mặt khác, doanh nghiệp phải có
một chiến lược tiêu thụ sản phẩm sao cho hợp lýđể nhằm làm tăng số lượng sản phẩm và tốc
độ bán ra, đó cũng là một cách chủ yếu để làm tăng chu chuyển đồng vốn, giảm lãi suất vay
vốn và làm tăng lợi nhuận một cách bền vững cho doanh nghiệp.
• Nhân tố về tổ chức quản lý các hoạt động kinh tế vi mô của doanh nghiệp
Tổ chức các hoạt động kinh tế vi mô là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng lớn tới
lợi nhuận cua doanh nghiệp. Nó bao gồm các khâu từ việc tuyển dụng đào tạo đội ngũ công
nhân viên chức đến vịec định hướng chiến lược phát triển của doanh nghiệp, xây dựng kế
hoạch và phương án kinh doanh, tổ chức thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh và
kiểm tra đánh giá, điều chỉnh các hoạt động kinh doanh. Các khâu này nếu được thực hiện
tốt sẽ làm tăng sản lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm từ, tăng vòng quayvốn lưu động và
tiết kiệm vốn đó giảm chi phí, hạ giá thành tăng lợi nhuận.
Tóm lại: Tất cả các nhân tố khách quan và chủ quan đều ảnh hưởng trực tiếp đến kết
quả hoạt động kinh doanh và lợi nhuận của doanh nghiệp. Mỗi nhân tố có mức độảnh hưởng
khác nhau và giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ tác động qua lại lẫn nhau. Mỗi doanh
nghiệp cần nhận biết nắm bắt kịp thời những mặt thuận và không thuận của các nhân tố để
Dịch vụ thương mại điện tử
•
Cung cấp giải pháp phần mềm
•
Đại lý dịch vụ nạp tiền điện thoại cho các mạng viễn thông
Với mục tiêu trở thành công ty hàng đầu trong lĩnh vực thanh toán điện tử tại Việt
Nam, từ khi thành lập đến nay, VNPAY đã liên kết, hợp tác với 31 ngân hàng, 7 công ty viễn
thông và hơn 40 doanh nghiệp thương mại điện tử đưa ra nhiều giải pháp thanh toán đơn
giản, tiện lợi như: Mobile Banking, nạp tiền điện thoại VnTopup, thanh toán hóa đơn
VnPayBill, ví điện tử VnMart, sim đa năng, Cổng thanh toán VnPayment, Vban.vn,…
Thông điệp và cam kết:
•
"Cho cuộc sống đơn giản hơn" là thông điệp và cam kết mà chúng tôi muốn gửi tới
khách hàng và đối tác. VNPAY cùng các đối tác hợp tác phát triển một phương thức thanh
toán đơn giản làm giảm các chi phí xã hội, thay đổi thói quen sử dụng tiền mặt của đại bộ
phận dân chúng, đây đồng thời là nền tảng giúp thúc đẩy và đảm bảo sự thành công của
thương mại điện tử trong thời gian tới đây.
23
•
“Cho cuộc sống đơn giản hơn” còn là mục tiêu hoạt động và là định hướng kinh
Khách hàng của VNPAY cũng sẽ là khách hàng của các ngân hàng và của các nhà
cung cấp dịch vụ. Bởi vậy sẽ rất thuận tiện cho việc phối hợp cùng quảng cáo, cùng phối làm
24
các chương trình tặng quà cho khách hàng “may mắn”, hay phối hợp cùng đưa ra những sản
phẩm đồng thương hiệu.
Đứng trên góc độ của VNPAY, ta có thể khái quát một cách đầy đủ vị trí của VNPAY
trong việc cung cấp dịch vụ như Sơ đồ 2.1
Sơ đồ 2.1: Mô hình liên kết tổng thể của VNPAY
Để hiểu rõ hơn về họat động VNPAY đang kinh doanh chúng ta đi sâu vào tìm hiểu chi
tiết các dịch vụ mà công ty đang cung cấp:
2.1.2.1 Dịch vụ nạp tiền điện thoại VnTopup
VnTopup là một trong những dịch vụ ra đời đầu tiên, đây cũng là dịch vụ thế mạnh có
doanh thu cao nhất hiện nay của VNPAY. VnTopup cho phép khách hàng có tài khoản ngân
hàng có thể tự nạp tiền vào tài khoản điện thoại của mình mà tốn nhiều thời gian và công sức
mua thẻ nạp truyền thống.
25