Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
BÙI THỊ THU HOÀI
Hình thành và phát triển
NĂNG LỰC TRÍ TUỆ CHUNG CHO HỌC SINH
THPT THÔNG QUA GIẢNG DẠY
NGÔN NGỮ LẬP TRÌNH PASCAL
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TIN HỌC
Vinh, 5 - 2006
LỜI CẢM ƠN
Khoá luận này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của
thầy giáo Trương Trọng Cần. Trong thời gian hoàn thành khoá luận, tác giả
còn nhận được sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên
khoa Công nghệ thông tin Đại học Vinh.
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng để hoàn thành khoá luận nhưng vì thời
gian, cũng như hạn chế về nhận thức, tư duy nên chắc chắn không thể tránh
khỏi những sai sót và hạn chế. Tôi rất mong nhận được sự giúp đỡ, thông
cảm, bổ sung và đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh
viên.
Trước khi trình bày nội dung của khoá luận, xin chân thành cảm ơn tất cả
mọi tấm lòng đã ưu ái dành cho tác giả!
Vinh, tháng 5 năm 2006.
MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu 1
Chương I. Cơ sở lý luận 5
1. Những năng lực trí tuệ chung là gì? 5
nền kinh tế dựa trên công nghệ cao, đó là nét đặt trưng rất tiêu biểu của nền
văn minh thông tin - sản phẩm của cách mạng thông tin, cách mạng tri thức.
Nói đến tri thức, sáng tạo tri thức, phổ biến, truyền thụ tri thức, học tập và
lĩnh hội tri thức không thể không nói đến khoa học - công nghệ và giáo dục -
đào tạo. ”Giáo dục là một trong những công cụ mạnh nhất mà chúng ta có
trong tay để sáng tạo nên tương lai”(Jacques Delos).
Sự nghiệp giáo dục phải đáp ứng những đòi hỏi của cách mạng khoa học
và công nghệ. Đó là một yêu cầu có tích chất nguyên tắc. Trong thời đại mà
máy tính điện tử ngày càng được sử dụng rộng rãi, một sự hiểu biết nhất định
về máy tính điện tử, công nghệ thông tin không phải chỉ là vốn riêng của một
số người chuyên nghiệp mà phải trở thành học vấn phổ thông của mọi thành
viên trong xã hội, nhất là thế hệ trẻ.
Ở Việt Nam, từ năm 1993 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định đưa môn
Tin học vào giảng dạy trong các trường phổ thông.
Tin học là một môn học công cụ, có tính trừu tượng và tính thực tiễn phổ
dụng. Những tri thức và kỹ năng Tin học cùng với phương pháp làm việc
trong Tin học đã trở thành công cụ để học tập những môn học khác trong nhà
trường, là công cụ của nhiều ngành khoa học khác cũng như hoạt động trong
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
đời sống thực tế. Bởi vậy, dạy Tin học không chỉ đơn thuần là tạo điều kiện
cho học sinh chiếm lĩnh những tri thức và kỹ năng Tin học mà còn phải góp
phần phát triển năng lực trí tuệ chung cho học sinh.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy học Tin học cho thế hệ trẻ,
với mong muốn tìm ra cho mình con đường đi đến với phương pháp dạy học
môn Tin học, từ đó tích luỹ và bồi dưỡng những năng lực và phẩm chất của
một giáo viên trong tương lai, tôi chọn đề tài:”Hình thành và phát triển năng
lực trí tuệ chung cho học sinh THPT thông qua giảng dạy ngôn ngữ lập
trình Pascal”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
loại.
- Điều tra tình hình dạy và học Tin học ở trường THPT hiện nay. Trao đổi,
tìm hiểu kinh nghiệm của giáo viên phổ thông, tiếp cận học sinh.
- Rèn luyện các thao tác tư duy, hình thành và phát triển tư duy logic, khả
năng suy đoán và tưởng tượng cùng các phẩm chất tư duy thông qua xây dựng
mạch tri thức và bài tập của ngôn ngữ lập trình Pascal.
- Đề xuất một số ý kiến về dạy học ngôn ngữ lập trình Pascal trong nhà
trường phổ thông.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT
- Nghiên cứu các tài liệu, bài giảng về phương pháp dạy học Tin học.
- Nghiên cứu các tài liệu về phương pháp dạy học môn Toán, các tài
liệu giáo dục học, tâm lí học...
- Nghiên cứu vị trí, khối lượng kiến thức về ngôn ngữ lập trình Pascal
trong chương trình THPT.
- Nghiên cứu các tài liệu về ngôn ngữ lập trình Pascal.
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng và Nhà nước, văn kiện của Bộ
Giáo dục và Đào tạo về vấn đề đưa Tin học vào chương trình THPT
cũng như các vấn đề về yêu cầu chất lượng giáo dục trong thời kỳ đổi
mới.
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
6.2. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
- Tìm hiểu qua giáo viên để nắm được tình hình giảng dạy và học tập
Tin học trong nhà trường phổ thông hiện nay.
- Kiểm chứng bước đầu qua đợt thực tập sư phạm: sẽ tiến hành giảng
dạy ở trường THPT nhằm kiểm tra giả thuyết khoa học, minh hoạ tính
khả thi và tính hiệu quả của giải pháp đề xuất
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Phần mở đầu
người khác tiếp nhận. Ngôn ngữ cố định lại các kết quả của tư duy và nhờ đó
làm khách quan hoá chúng cho người khác và bản thân chủ thể tư duy. Ngược
lại, ngôn ngữ được hình thành và hoàn thiện nhờ tư duy.
Do đặc điểm của khoa học Tin học, môn Tin có tiềm năng quan trọng có
thể khai thác để hình thành và rèn luyện cho sinh tư duy logic.
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
Tư duy logic là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được dựa trên sự
sử dụng các khái niệm, các kết cấu logic, được tồn tại và vận hành nhờ ngôn
ngữ. (Chikhômirôp O.K - Tâm lí học tư duy).
1.2. KHẢ NĂNG SUY ĐOÁN VÀ TƯỞNG TƯỢNG
Không phải bất kỳ hoàn cảnh có vấn đề nào, nhiệm vụ nào do thực tiễn đặt
ra cũng có đầy đủ dữ kiện để tìm ra đáp số một cách hợp lí, chặt chẽ và đúng
đắn. Lúc đó, ta phải tiến hành suy đoán và tưởng tượng. Cùng với tư duy, suy
đoán và tưởng tượng cần thiết cho bất kỳ hoạt động nào của con người. Do
đó, tác dụng phát triển tư duy của môn Tin học không phải chỉ hạn chế ở sự
rèn luyện tư duy logic mà còn ở sự phát triển khả năng suy đoán và tưởng
tượng.
1.3. CÁC THAO TÁC TƯ DUY
Môn Tin học là một môn học có tính trừu tượng cao độ, đòi hỏi học sinh
phải thường xuyên thực hiện các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, so
sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá...Vì vậy, cần rèn luyện cho học sinh các
thao tác tư duy này.
1.3.1. PHÂN TÍCH - TỔNG HỢP
- Phân tích là quá trình dùng trí óc để phân chia một hê thống thành những
vật, tách một vật thành những bộ phận riêng rẽ.
- Tổng hợp là quá trình dùng trí óc để liên kết những bộ phận thành một vật,
liên kết nhiều vật thành một hệ thống.
Như vậy, phân tích và tổng hợp là hai thao tác tư duy trái ngược nhau
nhưng nó có quan hệ mật thiết với nhau, chúng là hai mặt của một quá trình
- Tính linh hoạt: Tính linh hoạt của tư duy thể hiện ở khả năng chuyển
hướng của quá trình tư duy. Trước hết phải rèn luyện cho học sinh khả năng
đảo ngược quá trình tư duy, lấy đích của một quá trình đã biết làm điểm xuất
phát cho quá trình mới. Việc chuyển hướng tư duy có thể là chuyển từ hướng
này sang hướng khác chứ không nhất thiết phải ngược với hướng ban đầu
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
- Tính độc lập: Tính độc lập của tư duy thể hiện ở khả năng tự mình phát
hiện vấn đề, tự mình xác định phương hướng, tìm ra cách giải quyết, tự mình
kiểm tra và hoàn thiện kết quả đạt được. Tính độc lập liên hệ mật thiết với
tính phê phán của tư duy. Tính chất này thể hiện khả năng đánh giá nghiêm
túc những ý nghĩ và tư tưởng của người khác và của bản thân mình, có tinh
thần hoài nghi khoa học, biết đặt câu hỏi “tại sao?”,”như thế nào?” khi lĩnh
hội kiến thức.
- Tính sáng tạo: Tính linh hoạt, tính độc lập và tính phê phán là những điều
kiện cần thiết của tư duy sáng tạo, là những đặc điểm về những mặt khác
nhau của tư duy sáng tạo. Tính sáng tạo của tư duy thể hiện rõ nét ở khả năng
tạo ra cái mới: phát hiện vấn đề mới, tìm ra hướng đi mới, tạo ra kết quả mới.
Nhấn mạnh cái mới không có nghĩa là coi nhẹ cái cũ. Cái mới thường nảy
sinh, bắt nguồn từ cái cũ, nhưng vấn đề là cách nhìn cái cũ như thế nào?
2. TẠI SAO PHẢI HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỀN NĂNG LỰC TRÍ
TUỆ CHUNG CHO HỌC SINH?
Mục tiêu của nền giáo dục nước ta là: ”Hình thành, phát triển các phầm
chất và năng lực của người công dân Việt Nam: tự chủ, năng động, sáng tạo,
có kiến thức văn hoá, khoa học, công nghệ, có kỹ năng nghề nghiệp, có sức
khoẻ, có niềm tự hào dân tộc và ý chí vươn lên; có năng lực tự học và thói
quen học tập suốt đời, có năng lực đi vào thực tiễn kinh tế - xã hội, góp phần
hiệu quả làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, đáp ứng
yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc xã hội chủ nghĩa” (Nguyễn Sinh Huy -
triển trí tuệ được đặc trưng bởi sự tích luỹ vốn tri thức và sự tích luỹ những
thao tác trí tuệ thành thạo, vững chắc.
Vì vậy, cùng với các môn học khác trong nhà trường THPT môn Tin học
phải là một trong nhưng môn học đi đầu trong việc hình thành và phát triển
năng lực trí tuệ chung cho học sinh.
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh 11
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
CHƯƠNG II: HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TRÍ TUỆ
CHUNG CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA GIẢNG DẠY NGÔN
NGỮ LẬP TRÌNH PASCAL.
1. PHƯƠNG PHÁP HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TRÍ
TUỆ CHUNG CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA GIẢNG DẠY NGÔN
NGỮ LẬP TRÌNH PASCAL
Vào đầu năm 1971, bản mô tả ngôn ngữ mới của Đại học công nghệ Liên
bang Thụy Sĩ được công bố trong số đầu tiên của tạp chí Acta Informatica.
Sự ra đời của Pascal có thể được tính từ thời điểm này.
Tác giả của nó, Giáo sư Niclaus Wirth đã chứng minh hùng hồn cho thế
giới rằng chìa khoá tới các bí mật của máy tính chính là ở sự kết hợp hài hoà
giữa Toán học, Công nghệ và lập trình.
Pascal là một loại ngôn ngữ lập trình bậc cao ,nó có nhiều ưu điểm như:
ngữ pháp, ngữ nghĩa đơn giản rõ ràng; cấu trúc chương trình chặt chẽ, dễ
hiểu; chương trình dễ sửa, cải tiến. Trong chương trình Tin học THPT Pascal
trọng điểm ở chương trình lớp 11.
Trước đây học sinh mới chỉ học các thao tác đơn giản như khởi động máy,
đóng máy. Làm việc với các câu lệnh trong hệ điều hành MS-DOS... Song,
giờ đây các em bắt đầu làm quen với các thuật toán, với những câu lệnh có
cấu trúc, chương trình được viết trên một ngôn ngữ cụ thể. Vì vậy, độ phức
tạp và khó khăn sẽ tăng lên. Có nghĩa là tư duy trực quan phải nhường vị trí
quan trọng cho tư duy logic, và các thao tác gõ tay đơn giản trên bàn phím
xét tương tự, khái quát hóa, quy lạ về quen... Tuy nhiên, suy đoán phải có căn
cứ, dựa trên những quy tắc, kinh nghiệm nhất định.
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh 13
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
- Tập luyện cho học sinh khả năng hình dung được những đối tượng và quan
hệ giữa chúng, làm việc với chúng dựa trên những dữ liệu và cách tổ chức
chương trình.
Đối với các thao tác tư duy cùng những phẩm chất trí tuệ việc phát triển và
rèn luyện chúng không được đặt cô lập mà phải để chúng trong mối liên hệ
với nhau, trong quá trình vận động và phát triển từ thấp đến cao. Phải thường
xuyên xen kẽ trong khi hình thành những năng lực khác vì quá trình tư duy là
một quá trình thực hiện các thao tác trí tuệ nhất định, tuỳ thuộc vào mục đích,
yêu cầu của tư duy mà thao tác nào là chủ yếu.
Với mục đích cần hướng tới như trên, giáo viên cần có sự lựa chọn phù
hợp giữa hệ thống tri thức và bài tập, nên thoả mãn một số yêu cầu sau:
- Xác định đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng của kiến thức phổ thông cần
truyền thụ.
- Lựa chọn các ví dụ thích hợp, vừa tầm và nâng cao dần để học sinh nắm
vững kiến thức được lĩnh hội.
- Các bài tập cần được sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp về
mối quan hệ giữa các câu lệnh, phương pháp và khái niệm đặc trưng sao cho
xuất hiện các tình huống có vấn đề để học sinh tiến hành tư duy, hiểu được
kiến thức, nắm vững và có kỹ năng vận dụng kiến thức đó.
- Chọn các bài tập có nội dung thực tế của khoa học kỹ thuật, của các môn
học khác và đặc biệt là thực tế đời sống hàng ngày quen thuộc với học sinh.
- Chọn các bài toán có kỹ năng rèn luyện cho học sinh khả năng tự tìm tòi,
dự đoán được những tích chất, quy luật của hiện thực khách quan, tự phát
hiện ra vấn đề và giải quyết chúng.
- Số lượng bài tập phải phù hợp với thời gian quy định của chương trình
học, thời gian học ở nhà của học sinh.
độc lập xây dựng chương trình. Để làm được điều đó, giáo viên cần tiến hành
cho học sinh tìm hiểu và nắm vững một số khái niệm cơ bản trong TP.
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh 15
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
Chương trình là sự diễn đạt quá trình giải các bài toán bằng một ngôn ngữ
để máy tính điện tử thực hiện một cách tự động quá trình này.
Một chương trình TP đầy đủ có cấu trúc gồm 3 phần:
Phần 1: Phần khai báo tiêu đề của chương trình:
- Dùng để đặt tên cho chương trình.
- Bắt đầu bằng từ khoá PROGRAM.
- Kết thúc bằng dấu chấm phẩy.
- Có thể có hoặc không trong chương trình.
- Nên đặt tên chương trình có ý nghĩa phản ánh nội dung chương trình.
- Cách khai báo: PROGRAM Ten_chuong_trinh;
- Ví dụ:
1) Program Tinh_dien_tich;
2) Program TinhDienTich;
Phần 2: Phần khai báo:
- Dùng để mô tả dữ liệu, các đối tượng của bài toán để chương trình xử lý.
- Trong một chương trình cụ thể các khai báo có thể có hoặc không, nhưng
nếu có phải tuân theo đúng trật tự của cấu trúc.
- Cấu trúc đầy đủ của phần khai báo như sau:
USES { khai báo các UNIT }
. . .
LABEL { khai báo nhãn }
. . .
CONST { khai báo hằng }
. . .
TYPE { khai báo kiểu dữ liệu }
. . .
tượng về một chương trình là thế nào.
Vi dụ1: Giả sử ta muốn viết ra màn hình dòng chữ “Chao cac ban lop
11A” thì chương trình sẽ được viết đầy đủ như sau:
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh 17
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
PROGRAM In_chu; (1)
BEGIN (2)
WRITE(‘Chao cac ban lop 11A’); (3)
END. (4)
Sau khi viết chương trình xong ta có thể giải thích như sau:
- Dòng (1): Dùng để khai báo tên chương trình, có thể có hoặc không, nếu
có thì cần phải viết đúng dạng sau: Bắt đấu bằng từ khoá PROGRAM tiếp
theo là kí tự trống, sau đó là một tên do người lập trình tự đặt chỉ gồm các chữ
cái, chữ số, kí tự _ và phải bắt đầu bằng một chữ cái, độ dài tuỳ ý nhưng chỉ
có 63 kí tự đầu tiên có nghĩa, tên không được trùng với từ khoá. Dòng này kết
thúc bằng dấu chấm phẩy ( ; ).
- Dòng (2),(4): Bắt buộc phải có, thể hiện việc bắt đầu và kết thúc chương
trình.
- Dòng (3): Là lệnh để viết ra màn hình dòng chữ “Chao cac ban lop 11A”.
Từ đây giáo viên có thể giới thiệu qua về phần đặt tên.
Tên trong TP là một dãy liên tiếp không quá 127 ký tự, bao gồm chữ cái,
chữ số, dấu gạch dưới nhưng phải bắt đầu bằng chữ cái hoặc dấu gạch dưới.
(SGK thí điểm Tin học 11).
TP không phân biệt chữ cái hoa hoặc thườngtrong tên.TP phân biệt ba loại
tên:
- Tên dành riêng (Từ khoá) : Program, uses, const…
- Tên chuẩn : ý nghĩa các tên chuẩn được quy định trong các thư viện
(Unit).
- Tên do người lập trình tự đặt : không được trùng với từ khoá.
Ví dụ 2: Giả sử ta muốn tính diện tích hình vuông với cạnh bất kỳ.
Sau đó giáo viên sẽ đưa ra những quy tắc viết chương trình. Từ những quy tắc
đó sẽ dẫn dắt học sinh đến những yêu cầu cơ bản để có thể xây dựng được
một chương trình trong Pascal:
- Kiểu dữ liệu (Đơn giản chuẩn, có cấu trúc).
- Các cấu trúc điều khiển.
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh 19
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
- Tổ chức chương trình con.
Ví dụ 3: Hãy sắp xếp những từ khoá, những đoạn câu lệnh và những đoạn
khai báo sau đây để được một chương trình giải phương trình bậc nhất : ax +
b = 0 với a, b là hai số tuỳ ý (thêm dấu chấm, phẩy hoặc chấm phẩy vào những
chỗ cần thiết).
PROGRAM PTB1;
READLN(a,b)
VAR a,b: REAL;
BEGIN
IF a<> 0
THEN WRITELN(‘Moi so deu la nghiem’)
END
ELSE IF b = 0
THEN WRITELN(‘Nghiem la:’,-b/a:5:2)
READLN;
ELSE WRITELN(‘PT vo nghiem’)
Sau khi học sinh đã nắm được cấu trúc của chương trình và cú pháp của
câu lệnh IF, vận dụng cùng thuật toán giải phương trình bậc nhất thì học sinh
dễ dàng giải quyết được bài tập trên.
Chương trình được sắp xếp lại như sau:
PROGRAM PTB1;
VAR a,b: REAL;
BEGIN
Phân tích hoạt động của chương trình như sau:
- Dòng (1): Viết lên màn hình dòng thông báo yêu cầu nhập giá trị cho hai
biến.
- Dòng (2): Nhập giá trị cho hai biến a, b.
- Dòng (3): Gán giá trị biến Max = a.
- Dòng (4): Nếu giá trị của Max < b thì gán Max = b.
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh 21
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
- Dòng (5): In ra màn hình giá trị của Max.
Như vậy, chương trình trên dùng để in ra màn hình số lớn nhất trong hai
số a, b.
Rèn luyện cho học sinh cách nhận dạng một chương trình là một lần cho
học sinh kiểm nghiệm lại mức độ vững chắc nắm các khái niệm, câu lệnh.
Học sinh sẽ hiểu hơn về câu lệnh và các khái niệm khi xét chúng trong cả quá
trình vận động của chương trình, trong mối quan hệ giữa chúng với các câu
lệnh, với cấu trúc của toàn bộ chương trình.
Ví dụ 5 : Chương trình sau có thực hiện được không? Nếu có, cho biết kết
quả?
PROGRAM Vi_du_5;
VAR
a,b :BOOLEAN; x : REAL;
BEGIN
a:= True; b:= a; x:= 0; (1)
WHILE a OR b DO (2)
BEGIN
x :=2*x + 1; (3)
IF x > 0 THEN (4)
BEGIN
a := False; (5)
IF x > 100 THEN b := False; (6)
chương trình, thể hiện tín đúng đắn của chương trình. Ngoài ra, nó còn giúp ta
hướng cải tiến chương trình làm cho số phép toán mà chương trình phải thực
hiện nhỏ đi, giúp ta dễ phát hiện chỗ sai của thuật giải hoặc dữ liệu khi kiểm
thử chương trình.
Có nhiều cách để rèn luyện và phát triền khả năng hiểu chương trình của
học sinh. Với bài toán này thì giáo viên cho học sinh nhận dạng chương trình,
với bài toán khác lại yêu cầu học sinh thể hiện chương trình. Tuỳ vào trường
hợp cụ thể giáo viên xác định nên sử dụng cách nào cho hợp lý với nội dung
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh 23
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
bài học, thời gian cho phép . . . Nhận dạng và thể hiện là hai hoạt động theo
chiều hướng trái ngược nhau liên hệ với một định nghĩa, một câu lệnh, một
chương trình hay một phương pháp. Hai hoạt động này liên quan mật thiết với
nhau, thường hay đan kết vào nhau. Cùng với việc thể hiện một chương trình
( bao hàm trong đó việc thể hiện một khái niệm, một câu lệnh ) thường diễn ra
sự nhận dạng với tư cách là hoạt động kiểm tra.
Ví dụ 6: Hai ô tô chuyển động thẳng đều, cùng khởi hành một lúc ở hai bến
cách nhau s km. Nếu chúng đi ngược chiều nhau thì sau h giờ hai xe sẽ gặp
nhau. Nếu chúng đi cùng chiều thì sau t giờ xe đi nhanh sẽ đuổi kịp xe đi
chậm.
Lập chương trình nhập s, h, t từ bàn phím, sau đó đưa ra màn hình vận tốc của
mỗi xe.
Chạy thử với s = 40; h = 0,4 và t = 2.
(Vật lí lớp 10, chương I)
Để xây dựng chương trình, giáo viên có thể tiến hành một vài gợi ý sau:
Gọi vận tốc của xe đi nhanh là x (km/h)
Gọi vận tốc của xe đi chậm là y (km/h).
Vì hai xe chuyển động thẳng đều nên quãng đường lần lượt hai xe đi được
khi chuyển động ngược chiều là: h.x và h.y (km), suy ra:
h.x + h.y = s
WRITE(‘Van toc cua 2 oto la:’, dx/d:1:5,’km/h’, dy/d:1:5,’km/h’);
READLN;
END.
Ta dạy lập trình cho học sinh theo quan điểm giao tiếp giữa người với
máy. Cần tập dượt cho học sinh thiết lập những màn hình có văn bản thông
báo, tạo nên sự đối thoại giữa người và máy. Chương trình mà chúng ta lập ra,
nói chung là không phải chỉ để riêng chúng ta dùng, hơn nữa không phải lúc
nào ta cũng nhớ được chương trình nào làm việc gì. Vì vậy, trước mỗi lần
máy đòi nạp dữ liệu từ bàn phím, ta phải cho máy in thông báo nhắc người
dùng vào dữ liệu kiểu gì, số lượng bao nhiêu. Cũng như vậy, mỗi khi máy
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh 25